 |
Đọc
đếm máu (18) - Thiếu Máu đỏ - Anemia
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai
Thứ bảy 29 th 12, 2007, 5 giờ sáng.
Chào qúy vị sáng thứ bảy. Ngoài trời 36 độ F (3 đô. C) Đang mưa lẫn với
tuyết, nhưng tuyết tan ngay ...Hôm nay sẽ ấm, khoảng 40 độ.
Ta lại nói chuyện tiếp tục về thiếu máu đỏ. Bình thường
trên trại bệnh, ta nói anemia tức là muốn ám chỉ thiếu máu đỏ (tức là
nói tắt: thiếu máu). Và nhắc lại định nghĩa: thiếu máu đỏ có nghiã: Hematocrit
ở đàn ông duới 42 %, ở đàn bà dưới 38%.
Tôi đã được dịp khám khoảng bốn nghìn trường hợp thiếu máu trên các giống
dân (lấy và đọc tủy trên hơn hai nghìn năm trăm bệnh nhân), nhưng ở vùng
này, hơn 98% bnhân thuộc caucasians (da trắng). Thiếu máu trên các giống
dân không khác nhau gì lắm: chỉ nên để ý: sickle cells ở người da đen.
Hoặc ở nguời người Cam Bốt, Việt Nam, Nam nước Tàu: Thalassemias. Dĩ nhiên
là ta cũng thấy Thalassemia trên tất cả các dân tộc. Thalassemias là một
chương rất lớn trong hematology, và sẽ chỉ đề cập thoáng qua trong bài
này mà thôi.
Khi nhận một bnhân thiếu máu, thì điều đầu tiên là phải hỏi bệnh sử rất
cẩn thận. Vì cũng như các ngành khác trong medicine: câu trả lời về nguyên
do bệnh tật ở ngay trong bệnh sử ("Just listen to your patient, they
will tell you the diagnosis": Cứ nghe bệnh nhân cho cẩn thận, họ
sẽ bảo cho bạn biết họ đang bị bệnh gì).
Sự khác biệt giữa kiến thức và huấn luyện cuả một y sĩ phản ảnh rất rõ
trong bệnh sử và phần khám bệnh nhân (history and physical examination
- ở Mỹ chỉ viết tắt "H&P"). Đọc một bệnh sử cẩu thả chỉ
thêm bực bội và mất thì giờ. Vì thế buổi đầu tiên khi xem thỉnh vấn (consultation)
một bệnh nhân thiếu máu, nên bỏ ra ít nhất một giờ đồng hồ, dù rằng những
lần khám kế tiếp chỉ cần 15-20 phút.
Trong bệnh sử cuả bnhân thiếu máu, phần hệ phả gia đình (family tree,
family history) rất quan trọng: tuy rằng Hkỳ là một xứ di dân, cho nên
thuờng chỉ biết bệnh sử của gia đình đến đời ông bà mà thôi. Tuy vậy,
trong family tree cũng nên vẽ ra được bệnh sử ít nhất 4-5 đời: 2-3 đời
trước, 2-3 đời sau .
Ngay trong bệnh sử, ta có thể đoán là bnhân có bị Thalassemia hay không.
Bệnh sử các đời rất quan trọng trong việc truy tầm hypercoagulable state
(chứng đông máu quá thường). Bệnh sử thiếu máu đặc biệt chú trọng đến
chu kỳ kinh nguyệt, xem có menorrhagia (chảy máu kinh nguyệt quá nhiều)
hay không hoặc cả menometrorrhagia (chảy máu kinh nguyệt và tử cung).
Phân màu gì? Ăn uống ra sao Có muốn ăn những món kỳ lạ không (nguời thiếu
sắt muốn nhai nước đá lạnh chẳng hạn - gọi là "pica").
Đây chỉ nêu vài thí dụ thôi, và không thể vào chi tiết đuợc trong bài
ngắn ngủi này.
Sau khi hỏi bệnh sử, đến việc khám bệnh nhân rất cẩn thận kể cả khám hậu
môn, và lấy phân thử ngay bên giường bệnh xem có máu hay không - mà mắt
không nhìn thấy (occult blood in stool).
Sau đó nhìn báo cáo của phòng thí nghiệm. Khi nhìn một đếm máu toàn diện
(CBC- complete blood count) thì nên để ý ngay: (1) chỉ có thiếu máu đỏ
mà thôi, còn TB (tế bào) máu trắng và platelet (phiến huyết nhỏ) vẫn bình
thường và (2) Thể tích trung bình TB máu đỏ là bao nhiêu.
(1) Nếu cũng thiếu cả máu
trắng lẫn platelet: nên nghĩ ngay đến tủy xương, hoặc một tiến trình miễn
nhiễm autoimmune, hay do thuốc gây ra.
(1a) Lấy tủy xương để xem có tăng blasts hay không (có
ung thư máu?), có megaloblasts (pernicious anemia), lượng sắt dự trữ trong
tủy ra sao, xem có thể myelodysplasia?, hoặc họa hiếm: thấy ung thư chạy
đến xương (metastatic solid tumors to the bone marrow) - có trường hợp
cũng nhuộm thấy lao (AFB - acid fast bacilli) đã thấm nhập tủy xương.
Dự trữ sắt trong tủy xương (iron stores in the bone marrow) rất quan thiết,
vì đây là thử nghiệm cuối cùng đoan chắc được rằng bnhân có bị thiếu sắt
hay không - tuy nhiên phải cẩn thận với phòng thí nghiệm, vì nhuộm không
đúng sẽ cho kết quả sai.
(1b) Tiến trình miễn nhiễm - autoimmune (lấy máu thử
độ lắng máu (Sedimentation rate) và serum Antinuclear antibodies ANA,
nếu serum ANA tăng, đi tìm ngay antiDNA, và anti-Sm: tìm SLE: Lupus),
hoặc thiếu máu chỉ do bệnh khớp, và thường không chữa thiếu máu này đuợc.
Một số autoimmune cũng gây ra tán máu (hemolysis) và những tests rất sensitive
cho trường hợp này là đo serum LDH - lactate dehydrogenase; indirect (hoặc
nonconjugated) bilirubin và Haptoglobin. Lượng tế bào lưới - Retics (viết
tắt reticulocyte counts) phải tăng.
(1c) thuốc gây ra: nói dễ làm khó: phải bỏ từng thứ thuốc
một ra, rồi cứ thế loại dần.
(2) nếu chỉ thiếu có máu
đỏ (red cells) mà thôi: thì nhìn ngay sang MCV - mean corpuscular volume
- thể tích trung bình máu đỏ, và chia ngay thiếu máu ra làm ba loại: microcytic
anemia tế bào máu đỏ nhỏ: MCV khoảng dưới 80 fL) - normocytic (tế bào
máu đỏ bình thường - normocytic anemia MCV từ 80-95 fL), và tb máu đỏ
lớn (macrocytic anemia : MCV lớn hơn 95-100 fL).
Thiếu máu TB nhỏ (microcytic): thì thường chỉ là Thiếu sắt (tức là thiếu
máu do chảy máu đường ruột: ung thư ruột già chẳng hạn; thiếu máu vì chảy
máu kinh nguyệt quá nhiều) hay Thalassemias.
Thiếu máu TB lớn Macrocytic: thường là thiếu B12, Folate và nên để ý:
myelodysplasia có thể macrocytic, và cũng có thể normocytic).
Còn Normocytic anemia thì là cái "thùng rác": thiếu máu chưa
biết do nguyên do gì thì nhét nó vào đây (myelodysplasia, suy thận trì
tính - chronic renal failure, thiếu máu vì các bệnh khớp - thiếu máu vì
chemotherapy chẳng hạn - thiếu máu vì nhiễm trùng (kể cả HIV!), thiếu
máu vì ung thư ở đâu đó - solid tumors ...: thường những bnhân này phải
lấy tủy xương.
Trong hơn hai nghìn cases thiếu máu, thì có khoảng đâu 100 cases không
có cách gì tìm ra được là tại sao bnhân thiếu máu: những người này thường
đã lớn tuổi, và thường
(1) có bệnh kinh niên nào đó
(2) làm lại tủy xương 3-4 lần rồi thì sẽ thấy diagnosis: ung
thư máu, myelodysplasia, myeloma etc.
(3) cho đến chết cũng không biết tại sao thiếu máu: cứ thế phải
truyền máu.
Các bnhân này thường đã do 2-3 hematologists khám, nhưng không ai tìm
ra bệnh. Những bnhân này rất "nhức đầu" vì không thể biết rằng
ở một thời điểm nào đó, bệnh thật sự (tạo ra thiếu máu) sẽ tự nó hiện
ra. Cho nên chớ bao giờ "bỏ" những bnhân này, mà phải theo dõi
họ rất cẩn thận: nói thẳng với họ rằng mình không rõ tại sao họ thiếu
máu, và yêu cầu theo dõi dài hạn (có bnhân sau 3 năm, lấy 3 tủy xuơng,
tìm ra myeloma). Những bnhân này, không nên ngần ngại gửi đi hỏi ý kiến
hematology lần nữa (second, third hematology opinion): chớ lo: không ai
tìm ra đâu, tất cả bnhân rồi sẽ trở về với bạn (và rồi bạn sẽ tiếp tục
nhức đầu).
Cũng nên nhớ rằng người già KHÔNG thiếu máu: đếm máu cuả họ phải bình
thuờng, cho nên không thể "đổ tội" cho là vì đã lớn tuổi mà
thiếu máu. Khi họ bị thiếu máu
thì phải truy tầm bệnh (work up) như mọi lứa tuổi khác (Sách hematology
cũ - 1980) có chữ "anemia of senescence" nhưng bây giờ ai cũng
biết là chữ này sai: cho nên không còn dùng nữa). Những người này phải
chứng minh cho bằng được là họ không có ung thư đang tiềm ẩn (occult malignancies).
Một điểm đáng để ý: bnhân uống thuốc loãng máu (Warfarin) hoặc antiplatelet
(Aspirin): khi họ thiếu máu thì cứ "đổ" cho rằng thiếu máu vì
chảy máu kinh niên (do Warfarin, Aspirin): Không, những người này chớ
"đổ" như thế: vẫn phải gửi đi soi ruột, soi bao tử tìm ung thư
ruột già (colon cancer)...
Thiếu máu đỏ (bài 19)
Tối chủ nhật 30 th 12, 2007, tối nay sẽ có tuyết, khoảng chừng 6 inches
- 15 cm, từ giữa đêm đến sáng :
Nay viết tiếp về thiếu máu đỏ, và giảng giải rộng thêm ra một số điểm
có đề cập đến trong bài vừa viết:
(1)"định nghĩa: thiếu máu đỏ
có nghĩa: Hematocrit ở đàn ông dưới 42 %, ở đàn bà dưới 38%"
Về định nghĩa thiếu máu, thì có thể dùng Hematocrit (HCT) hay Hemoglobin
(HGB). HGB dĩ nhiên phải chính xác hơn HCT, vì không tùy thuộc vào thể
tích nước cơ thể -volemia- (tức là không tùy thuộc vào mức độ thiếu nước
(dehydration) cuả bnhân. Nhưng nói một cách chung chung, thì HCT/3 = HGB.
Vì thế Hct 33% thì Hemoglobin ở khoảng 11 gram/dL .
Như đã nói trong bài trước, các hematologists "già" hơn thường
dùng Hct vì hồi đó máy đo Hemoglobin chậm hơn: Hct chỉ cần một máy ly
tâm hạng xoàng, có kết quả ngaỵ. Con số bình thường để định nghiã thiếu
máu, nói ra thì có nguời sẽ "giận" bảo rằng y sĩ mà không biết
con số normal hay sao? Thế nhưng hồi 1985 gì đó, trong một báo y khoa,
có một tác giả làm một study rất tầm thường: họ đi trong hành lang nhà
thương đại học, thấy ai mặc áo trắng M.D. (M.D. đủ trình độ, đủ specialties)
thì chỉ hỏi có một câu: "xin cho biết Hct bình thường là bao nhiêu?"
Ngạc nhiên: gần 30% y sĩ ngớ ra, không biết con số đích xác này là bao
nhiêu. Không biết bình thường thì làm sao biết bất thuờng !!! (Bài này
đọc ở đâu lâu quá quên rồi).
(2) về Thalassemia, có một
"mẹo" (trick): khi đọc Hct thấy 34% chẳng hạn (tức là thiếu
máu), liếc sang MCV (mean corpuscular volume) thấy MCV thấp (thấp hơn
80 fL) (tức là microcytic anemia - thiếu máu tế bào nhỏ), vậy thì differential
DX's chính sẽ gồm có thiếu sắt (iron deficiency anemia) và thalassemias.
Liếc sang RBC (red cell count) nếu thấy dưới 5 triệu RBC/mm3 thì thường
là iron deficiency, nếu trên 5 triệu thì thường là Thalassemia. Đây là
mẹo trong nghề mà thôi, dĩ nhiên sau đó phải làm Hemoglobin electrophoresis
để xác nhận.
(3) Trong trường hợp thiếu
máu tế bào nhỏ (microcytic anemia): đa số phải là thiếu sắt, mà ở đàn
bà đã tắt kinh hay đàn ông (không chảy máu đi đâu được): thì bắt buộc
phải đi tìm nguồn gốc chảy máu ở đường tiêu hoá (Gastro-Intestinal tract
– GI Tract), và dĩ nhiên ngại nhất là đang có ung thư ruột già tiềm ẩn,
và phải soi ruột. Trong trường hợp thiếu máu vì thiếu sắt (chảy máu kinh
niên ở đường tiêu hoá) thì Serum iron thường thấp, Khả năng bão hoà sắt
(TIBC - total iron binding capacity ) phải cao: tức là cơ thể đang "đói"
sắt lắm, và serum Ferritin phải rất thấp. Nhưng nên nhớ rằng iron và Ferritin
là acute phase reactants: tức là dù có thiếu sắt nặng, Ferritin vẫn KHÔNG
thấp (bởi vì Ferritin đang "reacts" - phản ứng với một tiến
trình gì đó trong cơ thể - nhiễm trùng chẳng hạn - cho nên trong truờng
hợp ấy: Ferritin FALSELY elevated (lẽ ra không tăng mà cứ tăng):
Cho nên nếu thấy microcytic anemia, TIBC tăng cao mà Ferritin lại cũng
CAO, thì bắt buộc phải lấy tủy xương để chứng minh rằng cơ thể đang thiếu
sắt. Nói thí dụ đã lấy tủy xương rồi, chứng minh được rõ rệt là trong
tủy xương không còn dự trữ sắt nữa (iron stores markedly depleted) (vậy
thì bắt buộc là bnhân phải mất máu theo đường tiêu hoá). Nhưng bên GI
(gastroenterology) họ thề sống thề chết là họ đã soi bao tử, soi ruột
rồi, không thấy chảy máu ở đâu cả, thì chỉ có 2 câu trả lời:
(1) họ đã không tìm ra nguồn chảy máu (ban
đêm ngoài cửa sổ có con nai, không thấy con nai, không có nghiã là không
có con nai, chỉ có thể là mắt cận thị). Trong trường hợp ấy: gửi bnhân
đi một gastroenterologist khác, yêu cầu soi bao tử và ruột già lại lần
nưã (re-endoscope). Hoặc cho chụp phim bao tử (Upper GI series), và chụp
phim ruột già (double contrast barium enema) (có hai truờng hợp tìm ra
ung thư ở cecum theo lối này - kinh nghiệm riêng)
(2) hoặc là -mà đây là đa số- khi GI service
soi bao tử và ruột không thấy gì cả : thì đây là AVM (arterio-venous malformations).
Có rất nhiều trường hợp rất khó chứng minh được AVM (may ra có khi thấy
rất rất rõ ở bao tử chẳng hạn - water melon stomach: màng nhầy bao tử
nhìn giống hệt vỏ trái dưa hấu: vằn song song: vằn đậm, vằn lợt). Nhưng
đa số AVM's thấy ở ruột già. Kinh nghiệm riêng: bnhân 76 tuổi, đi cầu
ra máu đỏ tươi, thế mà scoped mấy lần không tìm ra được nguồn gốc chảy
máu (có lẽ là AVM - không có trĩ): phải truyền máu và cho sắt.
Có khi AVM ở ruột non, và scopes không "với" tới được: những
trường hợp này, cho bệnh nhân nuốt một cái capsule trong có cái máy chụp
hình (camera), và có khi thấy được chỗ chảy máu ... Trường hợp chảy máu
AVM quá nhanh, có khi có thể làm nuclear red cell scan rồi dùng scanner
xem coi chỗ chảy máu ở đâu, nhưng tốc độ chảy máu phải nhanh, chứ chảy
chậm thì scan sẽ không thấy (missed). Sau khi đã chứng minh được là KHÔNG
CÓ ung thư đường tiêu hóa, và tủy xương rõ ràng chứng minh là không còn
dự trữ sắt nữa: thì lúc ấy bắt đầu cho bnhân uống sắt.
Uống sắt, nên dặn bnhân : (1) phân sẽ đen thui, đen hơn cả bã cà phê (chớ
lo), (2) có khi đau bụng, (3) 10 nguời thì có độ một (1) nguời iả chảy,
nhưng đa số táo bón (5-6 người), còn mấy nguời còn lại thì không than
phiền gì. Khi chỉ thị cho uống sắt, thì viết rõ: Ferrous Sulfate chẳng
hạn: một viên 325 mg cho ra 60-65 mg elemental iron. Chữa thiếu máu vì
thiếu sắt cần cho 200 mg elemental iron mỗi ngày: tức là phải uống 3 viên
(độ 180 mg elemental iron) thì mới đủ, một hai viên không thấm gì. Bảo
bnhân uống một viên mỗi ngày trong 3 ngày, rồi lên hai viên, rồi 3 viên.
Chớ uống ngay 3 viên rồi đau bụng, sẽ réo ...
Họ sẽ hỏi nên uống lúc bụng no hay bụng đói: bảo họ uống lúc no (đúng
theo absorption thì phải uống lúc bụng đói, nhưng uống thế, cồn cào bao
tử, rồi họ sẽ bỏ thuốc hoặc lại réo mình cho tới chết). Có nên uống chung
với Vitamin C hay không? - uống thêm vit C cũng được mà không cũng chẳng
chết ai: literature có nói là thêm Vit C vào thì tạo ra môi trường acid,
absorption tốt hơn một tí, có thế thôị
Có b.nhân, hễ đụng đến một viên sắt, là đi iả chảy ngày 8-9 lần ...Những
bnhân này thì đành phải cho sắt thẳng vào tĩnh mạch: nên cẩn thận, vì
có thể shock ngay cả với test dose (tức là liều sắt thử, rất thấp): cho
nên cho sắt vào tĩnh mạch thì hematologist phải có mặt bên giường.
Cho sắt bao lâu thì biết có hiệu quả: cho bằng tĩnh mạch thì có hiệu quả
khá nhanh (trong vòng 1-2 tuần đã thấy hematocrit tăng), nhưng cho bằng
miệng thì phải chờ 1 tháng, hay độ 60 ngày (bởi vì red cell survival là
120 ngày, 1/2 khoảng thời gian này là 60 ngày - cũng nên nhớ thêm: platelet
survival (đời sống platelet, khi sinh ra từ tủy cho đến khi chết ở ngọai
biên) là 7 ngày - cho nên những thuốc antiplatelet: Aspirin, Plavix phải
ngưng 7 ngày truớc khi mổ chẳng hạn – còn neutrophils chỉ sống có 4 giờ
(cho nên truyền red cells, hoặc truyền platelets, chả ai truyền tế bào
máu trắng: vưà truyền xong nó đã sắp chết rồi, thì truyền làm gì).
Trên thị trường có thuốc sắt đuợc "bọc" (coated) rất kỹ (để
tránh bnhân khỏi bị đau bụng). Nhưng (hồi 1986 có hematologist ở Pennsylvania
viết) bảo rằng thuốc bọc kỹ quá: cứ thế tuốt ra phân, Không hấp thụ được
bao nhiêu, vả lại những thuốc này không "cho" (yields) ra 60
mg elemental iron, mà chỉ "cho ra" có một nửa. Thành ra có khi
đành phải cho Bnhân uống sắt bằng thuốc nước (tức là si-rô cho con nít)
(kinh nghiêm riêng: bnhân caucasian, 55 tuổi, đàn bà, không còn kinh nguyệt
nữa, thiếu máu vì thiếu sắt rất nặng: Hct xuống 22%, bnhân cũng bị hypercoagulable
state (bạn vừa tìm ra DVT – deep venous thrombosis - cả hai chân - vì
Factor II mutation - G20201A- cho nên bạn cho chỉ thị uống Coumadin suốt
đời. Bnhân cũng vừa tìm ra Crohn's disease - terminal ileitis: và Coumadin
làm cho chảy máu ở đoạn ruột này. Bạn không thể ngưng Coumadin được, và
Hct tiếp tục xuống. Cho sắt bằng miệng: bnhân không chịu được - iả chảy
ngày 10 lần - Cho sắt bằng tĩnh mạch: bnhân tức thì đi vào shock (dù đã
chuẩn bị, cho các thuốc khác trước để chống shock), b.nhân gần bất tỉnh
(presyncope), áp huyết xuống còn 55-60 mm Hg. Trường hợp này (tôi) cho
bnhân pha sắt si-rô vào nước uống: nhắp mỗi lần một chút, uống như thế
suốt ngày. Luợng sắt trong sirô tương đương với 10 viên (!) Ferrous Sulfate
325 mg / mỗi viên . Hct của bnhân từ từ tăng, nay ở khoảng 33% -
Note: bnhân này sau đó lại tìm ra ung thư
vú, và đã chữa cho bà ấy xong bằng chemotherapy bởi vì hạch ở nách positive-
trong khi chữa chemo: marrow suppression: Hct cũng xuống theo, may không
phải truyền máu: tôi chỉ cho Procrit (Khi Hct xuống đến độ 33%, HGB 11
gm/dL) - nay đã sống được hơn 7 năm sau khi định bệnh ung thư vú – clinically
NED 7 years after the diagnosis - (NED: no evidence of disease) - Note:
siro sắt uống như trên làm răng xám đi: vài tháng một lần đi nha sĩ chà
cho trắng ra - bảo bà ấy dùng cái ống hút.
(còn tiếp)
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung
Thư
Theo Bs Nguyễn Tài Mai thì nếu quý
vị muốn phổ biến bài viết này, không cần xin phép tác giả. Nếu ai có câu
hỏi gì xin ghi lại bài viết và Bs Mai sẽ trả lời quý vị.
Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |