 |
Khủng
Hoảng Tinh Thần Sau Một Biến Cố (PTSD)
Bác sĩ Thái Minh Trung
PTSD viết
nguyên ra là Post Traumatic Stress Disorder.
Đây là một hội chứng (syndrome) tâm lý khi con người trải qua một biến
cố hãi hùng có gắn liền với những đe dọa đến tính mạng. Bịnh này cũng
có thể xảy ra khi người ta chứng kiến (gián tiếp) một cảnh hãi hùng.
Hội chứng này được biết đến vào thế chiến thứ I qua tên “shell shock”.
Những người lính ra trận thấy chết chóc, thân thể các chiến binh bị thương,
tay chân bị cắt đứt, máu me lai láng, cảnh tượng rất hãi hùng. Họ có cái
may được sống sót nhưng tâm hồn trở nên lơ lơ lửng lửng, từ đó mà bệnh
có tên “shell shock” (cú sốc do đạn trái phá).
Hội chứng này được khoa Tâm Thần (psychiatry) hiện đại chia làm 3 nhóm
triệu chứng tâm lý chính là: cảm nhận trở lại (reexperience), trốn tránh
(avoidance) và nhậy cảm quá độ (increased arousal). Sự hiện diện của 3
nhóm triệu chứng này sau một biến cố là kim chỉ nam của bịnh PTSD.
Cảm nhận lại gồm có: ám ảnh (flashback),
nhiều giấc mơ hãi hùng nhắc lại biến cố trải qua, suy nghĩ thật nhiều
ngày đêm về biến cố, có cảm giác như biến cố đó lập lại ngay trong hiện
tại, suy tầm tài liệu liên quan đến biến cố, phản ứng sinh lý và tâm lý
y như lúc biến cố đang xảy ra khi gặp vài nguyên nhân nhắc đến biến cố.
Triệu chứng nặng là nghe tiếng nói trong đầu, nghe tiếng ai đó gọi tên
mình mà không có ai bên cạnh (auditory hallucination, ảo thính). Nhiều
người thấy cái bóng đi qua hay cảm tưởng có ai đứng sau lưng mình (visual
hallucination, ảo thị).
Trốn tránh gồm có: cố gắng không suy nghĩ
hay đề cập những vấn đề liên quan đến biến cố, tránh xa những nơi có người
và cảnh vật nhắc lại biến cố, cảm thấy tình cảm chai đá không hồn nhiên
như trước nữa. Còn có nhiều dấu hiệu của những triệu chứng của trầm cảm/depression
(không giao thiệp bạn bè, chán ngán, mất sự thích thú trong cuộc sống,
mất ăn, mất ngủ, bực bội với người thân trong gia đình, không muốn gần
gũi ai).
Nhậy cảm quá độ gồm có: mất ngủ hay ngủ không yên giấc vì ác mộng làm
thức giấc giữa đêm, hay giật mình với tiếng động nhỏ, lúc nào cũng có
cảm giác đề phòng, hay giận dữ đối với những chuyện không đáng giận, tình
cảm khó kềm chế, hay gây gổ. Triệu chứng nặng thì trí nhớ suy sụp, không
chú tâm được, mặt mày bơ phờ. Vì hệ thống thần kinh quá nhậy nên những
bịnh nhân này hay có những triệu chứng đau nhức thường xuyên. Nhiều bịnh
nhân có “cái đau du kích” hôm nay hiện nơi này, ngày mai hiện nơi kia
mà khi thử nghiệm đều không có kết quả gì hết. Nhiều bác sĩ không hiểu
rõ PTSD nghĩ rằng bịnh nhân đau giả bộ.....
PTSD và văn hóa Đông phương
Người Á châu rất sợ bịnh “điên” nên khi đi khám bác sĩ ít khi khai hết
những triệu chứng tâm lý. Có thể nói đến hơn 90% những người bịnh tâm
thần Á châu lần đầu tiên đi khám bác sĩ không khai triệu chứng tâm thần.
Người Á châu rất sợ “mất mặt” nên không dám khai triệu chứng bịnh tâm
thần. Một số bịnh tâm thần được đem ra ánh sáng là do người thân không
chịu nổi nữa dẫn bịnh nhận đi khám hay buộc bịnh nhân phải đi khám. Ít
có ai tự động đến khám bác sĩ khi bắt đầu có những triệu chứng tâm thần.
Những triệu chứng này lúc mới nảy sanh chỉ ảnh hưởng qua thái độ bịnh
nhân (bực bội, buồn chán, ...). Khi để lâu vài năm sẽ nặng hơn và lan
ra hành động bất thường không kềm chế được (đập phá đồ đạc hay đánh đập
vợ con).
Những triệu chứng bác sĩ gia đình thường nghe nhứt ở những người bịnh
tâm thần Á châu là: mất ngủ kinh niên, nhức đầu kinh niên, đau nhức “du
kích” như kể trên. Họ còn than phiền “hay quên” trong lúc tuổi đời còn
tương đối trẻ. Bác sĩ gia đình tốn rất nhiều công sức tìm tòi những bịnh
từ đa dạng đến hiếm, cho thử nghiệm đủ cách nhưng đa số thử nhiệm không
có kết quả đáng kể. Khi được bác sĩ đề nghị họ tham khảo chuyên viên tâm
thần đôi khi họ còn giận bác sĩ họ và giẫy nẩy, “tôi đâu có điên đâu mà
bác sĩ kêu tôi đi khám bác sĩ tâm thần”.
Những bịnh nhân này thường rất nhậy cảm với phản ứng phụ của thuốc vì
hệ thống thần kinh họ bị căng thẳng. Một chút khó chịu trong cơ thể được
nhân lên gấp bội. Vì thế, họ ít khi uống thuốc đều hay tự ý giảm liều
thuốc bác sĩ cho nhưng không dám nói bác sĩ biết. Vì thế mà hiệu quả (outcome)
trị liệu rất thấp nếu bác sĩ không đề cập đến triệu chứng tâm lý.
Một phần nữa là gia đình bịnh nhân theo văn hóa Đông phương không chấp
nhận trị liệu bằng thuốc Tây một cách lâu dài. Đa số bịnh tâm thần khi
được phát hiện đã trở thành bịnh kinh niên cần trị liệu lâu dài. Khi nghe
bịnh nhân than bị phản ứng phụ thì gia đình khuyên nên ngừng thuốc Tây
lại và nên trị bằng dược thảo. Hiện nay chưa có loại dược thảo nào trị
được các bịnh tâm thần loại nặng một cách hữu hiệu.
PTSD và phân tâm học
Những người chứng kiến những hoàn cảnh khủng bố mà họ không làm gì được
thường có hội chứng PTSD không nhiều thì ít. Không phải chỉ có chiến tranh
mới gây ra PTSD mà những phụ nữ bị hãm hiếp, những công nhân bị ức hiếp
trong sở lâu ngày cũng bị bịnh này nữa.
Đa số thuyền nhân Việt Nam đều có ít nhiều triệu chứng PTSD. Có người
bị bịnh dạng nhẹ vẫn làm việc được. Tuy nhiên hệ thống thần kinh của họ
nhậy cảm và họ dễ bị buồn phiền trong sở làm hay chuyện gia đình con cái.
Họ có thể chịu đựng một thời gian đến khi có một biến cố thứ nhì xảy ra
như mất việc, người thân bịnh nặng hay bị tai nạn thì những hội chứng
PTSD xảy ra mãnh liệt. Bác sĩ tâm thần ngoại quốc không hiểu rõ hoàn cảnh
bịnh nhân, dễ chẩn bịnh lầm hoặc cho rằng người bịnh phản ứng quá đáng
hay giả bộ bịnh để được quyền lợi này nọ (secondary gain).
Người bịnh PTSD rất dễ giận dữ nên gia đình và bạn bè hay xa lánh. Nỗi
căm hận chất chứa trong lòng lâu ngày tạo căng thẳng tinh thần. Khó có
gì làm họ vui được. Họ có những suy nghĩ thường gắn liền với biến cố đã
qua. Họ muốn diệt trừ kẻ gây ra khủng hoảng cho họ trong quá khứ, nhưng
lúc đó họ không làm gì được nên nỗi bực tức lan tràn ra mọi người bây
giờ. Bịnh nhân dễ bị nghiện thuốc lá và rượu vì dùng những chất đó tạo
các sảng khoái tâm lý nhứt thời, nhưng dùng dài hạn những chất trên lại
tạo ra bịnh nghiện và nhiều bịnh thể xác sau đó.
Người bịnh PTSD hay bị tủi nhục (shame). Sách phân tâm học ngoại quốc
thường dùng chữ “guilt” và “shame” lẫn lộn. “Guilt” là cảm giác tội lỗi
khi người đó làm việc gì sai trái, ngược lại “shame” là cảm giác tủi nhục
khi người đó muốn làm việc theo lương tâm họ mà hoàn cảnh không cho làm
vậy được.
Những tình cảm “xấu” như giận dữ, tủi phận, tủi nhục, nghiện rượu thật
khó mà khai với bác sĩ. Vì thế mà những bịnh nhân này đành âm thầm nuốt
lấy những nỗi khổ cho qua ngày tháng. Nếu họ có khai với bác sĩ thì chỉ
khai những triệu chứng thông thường như mất ngủ, hay quên, đau nhức, ...
Nguyên nhân thần kinh của bịnh PTSD
Khi bị căng thẳng ngắn hạn, cơ thể ta tiết ra chất Norepinephrine (NE).
Chất này là chất hưng phấn nhiều hệ thống trong cơ thể. Ở hệ thống tuần
hoàn nó làm áp suất tăng, tim đập nhanh hơn, ở hệ thống hô hấp nó làm
tăng hơi thở, ở da thì làm mấy mạch máu nhỏ co lại tạo cảm giác lạnh tay
chân hay cảm giác tê. Khi không đủ máu tới các bắp thịt thời gian lâu
sẽ bị đau nhức hay có cảm giác mỏi. Ở hệ thống tiêu hóa làm cho ta biếng
ăn. Hệ thống thần kinh kích thích nhiều làm mất ngủ. Những thay đổi trên
giúp ta chiến đấu với hoàn cảnh nguy hiểm.
Khi NE bài tiết nhiều thì nó có thể làm giảm lượng Serotonin (5HT). Serotonin
là một chất tiết ra trong não bộ làm cho cường độ những phản ứng tình
cảm bớt lại. Khi thiếu 5HT thì những tình cảm như giận, lo âu sẽ diễn
ra rất mạnh và rất khó kềm chế.
Khi căng thẳng quá độ lâu ngày, hệ thống kích thích tố (hormone) sẽ bị
thay đổi. Lượng cortisol sẽ tăng lên trong máu. Cortisol có công dụng
làm giảm viêm (inflammation). Tuy nhiên nếu cortisol tiết ra nhiều quá
thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến não bộ. Nó có thể làm tổn thương các tế
bào ở não bộ. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nhóm tế bào hippocampus
bị thoái hóa và khi chụp MRI thấy bị nhỏ hơn bình thường. Nhóm tế bào
này ảnh hưởng trí nhớ. Nhóm tế bào này cũng bị thoái hóa ở chứng bịnh
lẫn Alzheimer. Hippocampus giúp trí nhớ ngắn hạn (short term memory).
Hippocampus bị tổn thương gây ra hiện tượng mau quên.
Cortisol còn ảnh hưởng đến những triệu chứng tâm thần. Những người bịnh
chai gan trị bằng cortisol hay bị trầm cảm, tình cảm lên xuống bất thường
và trong trường hợp nặng bị mất khả năng nhận ra thực tế (psychosis),
như có ảo thính (auditory hallucination) hoặc ảo thị (visual hallucination).
Những hiện tượng tâm thần do cortisol mất điều hòa có nhiều trùng hợp
với những triệu chứng của PTSD.
Như thế cái tên gọi “bịnh tâm thần” là một sai lầm làm cho bịnh nhân tưởng
như những triệu chứng họ có không có nguồn gốc vật chất. Đúng ra, đa số
những bịnh tâm thần là những bịnh của não bộ. Não bộ có những vùng ảnh
hưởng đến cơ thể như vùng cơ động (motor area) và vùng giác quan (sensory
area) cũng như có những vùng ảnh hưởng đến tánh tình và hành động. Khi
những vùng ảnh hưởng đến tánh tình bị bất ổn thì gây ra triệu chứng tâm
thần.
Cách trị bịnh
Như đã phân tích ở trên, bịnh PTSD có ảnh hưởng rất sâu rộng từ sinh lý
não bộ, đến tâm lý và cuộc sống gia đình và xã hội. Muốn trị bịnh hữu
hiệu ta phải áp dụng nhiều hơn một cách trị liệu, gồm thuốc men, tâm lý
trị liệu (psychotherapy), gia đình trị liệu (family therapy), và ngay
cả áp dụng tôn giáo trong cách trị liệu.
Về thuốc thì có nhóm thuốc SSRI (Selective Serotonin Reuptake Inhibitor)
được cơ quan dược phẩm công nhận để trị bịnh này. Chất thuốc này dùng
để tăng lượng Serotonin (5HT). Khi 5HT tăng thì cường độ các triệu chứng
tâm thần được giảm bớt. Tuy nhiên nếu bịnh hiện diện lâu ngày ảnh hưởng
qua hệ thống cortisol thì trị liệu bớt hữu hiệu. Nhiều khi cần phải dùng
nhiều loại thuốc phối hợp mới có kết quả.
Môn tâm lý trị liệu đang phổ biến bây giờ là Cognitive Behavioral Therapy
(CBT): bịnh nhân tập nhận ra những tư tưởng bi quan và tập suy nghĩ sao
cho thích hợp hơn với hoàn cảnh. Khi có những xung đột gia đình thì cần
phải có gia đình trị liệu để hàn gắn lại những mâu thuẫn vợ chồng, con
cái. Gia đình trị liệu giúp những thành viên trong gia đình thông cảm
lẫn nhau và đối thoại một cách hiệu quả.
Tôn giáo cũng đóng một phần không kém quan trọng trọng việc trị liệu.
Tôn giáo tạo một đoàn thể hỗ trợ tinh thần bịnh nhân. Khác với xã hội,
tôn giáo chấp nhận con người không kể sự thành công hay vị trí xã hội
của người đó, như thế một phần nào xoa dịu được nỗi khổ của sự tủi nhục.
Tôn giáo giúp người bịnh PTSD từ bỏ quá khứ và cấy niềm hy vọng tương
lai trong tâm hồn họ. Các tôn giáo đều có những phương pháp chống lo âu
(anti anxiety). Thiền của Phật giáo bắt đầu được áp dụng trong cách trị
liệu y khoa với cái tên là Mindful therapy. Ngoài ra cầu nguyện Chúa,
lần chuỗi, niệm Phật, ... cũng có những hiệu nghiệm không kém, tùy theo
sở thích và tôn giáo của người bịnh.
Bs Thái Minh Trung
Chuyên Khoa Bệnh Tâm Thần
Giáo Sư Đại Học Y Khoa California, Irvine
>>>back>>>
|
 |