 |
CẤP
CỨU NỘI TIẾT + CHUYỂN HÓA (số 3)
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
DỊCH VÀ CÁC CHẤT ĐIỆN GIẢI (FLUIDS AND ELECTROLYTES)
1/ ANION GAP LÀ GÌ ?
- Anion gap (AG) (trou anionique) đo lượng các ion điện tích âm trong huyết
thanh (những anion không được đo), không phải là bicarbonate (HCO3-) hay
chloride (Cl-). AG được tính bằng cách trừ trị số natri (Na+) (ion điện
tích dương quan trọng trong huyết thanh) với tổng số HCO3- và Cl-. Những
trị số kali (K+) thường không được sử dụng trong tính toán bởi vì số lượng
lớn của kali trong tế bào (155mEq) và lượng tương đối thấp của kali trong
huyết thanh (chỉ khoảng 4 mEq). Công thức để xác định AG như sau :
AG = Na+ - (Cl - + HC03 -)
Giới hạn trên bình thường đối với AG thường được chấp nhận là 8-12, mặc
dầu vài trung tâm dùng 10 đến 14.
- Anion gap bằng hiệu số giữa cac anion “ không được đo ” và các cation
không được đo. Nơi người bình thường, các anion không được đo bao gồm albumin
(2mEq/L), phosphate (2mEq/L), sulfate (1mEq/L), lactate (1-2 mEq/L), và
các muối của axit yếu khác (3-4mEq/L). Các cation không được đo nổi bật
gồm có calcium (5mEq/L), magnesium (2mEq/L), và các cationic immunoglobulin.
- Anion gap rộng là do hoặc là do các cation không được đo bị giảm hoặc
thường hơn là do có sự gia tăng của các anion không được đo.
2/ TẠI SAO ANION GAP (AG) PHẢI ĐƯỢC
TÍNH MỖI KHI CẦN ĐÁNH GIÁ ĐIỆN GIẢI ĐỒ ?
Một AG tăng cao có nghĩa là có một anion không được đo (unmeasured anion)
nào đó, độc tố (toxin), hay axít hữu cơ trong máu. Nếu anh không tính gap,
anh có thể bỏ sót một trong những chìa khóa duy nhất để tìm ra một bệnh
hay ngộ độc có tiềm năng đe dọa mạng sống. AG cũng cho phép chia nhiễm axít
(acidosis) thành hai loại : gap rộng (AG >12-14) và gap bình thường (AG
<12-14).
3/ CÓ HAI LOẠI NHIỄM TOAN (ACIDOSIS)
: GAP RỘNG VÀ GAP BÌNH THƯỜNG. NHIỄM TOAN TANG CLO-HUYET (HYPERCHLOREMIC
METABOLIC ACIDOSIS) LÀ GÌ ?
Một nhiễm toan tăng clo-huyết (hyperchloremic metabolic acidosis) chỉ là
một tên gọi khác để chỉ nhiễm toan với AG bình thường (normal gap acidosis).
Nếu AG bình thường, và công thức đối với AG = Na+ - (Cl- + HCO3-), nếu HCO3-
giảm xuống, Cl- phải tăng lên, hay đơn giản hơn, trở thành tăng clo-huyết
(hyperchloremic), do đó có tên nhiễm toan tăng clo-huyết (hyperchloremic
metabolic acidosis).
4/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA NHIỄM TOAN
ANION GAP RỘNG (WIDE ANION GAP METABOLIC ACIDOSIS) ? CÓ CÁCH NÀO LÀM DỂ
NHỚ TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT ?
Các axít mạnh được thêm vào dịch ngoài tế bào (với ngoại lệ HCl), làm gia
tăng số các anion không được đo. Những nguyên nhân thông thường có thể nhớ
bằng MUDPILES :
M = Methanol
U = Uremia (suy thận)
D = DKA (diabetic ketoacidosis) hay AKA (alcoolic ketoacidosis)
P = Paraldehyde, phenformin
I = INH (Isoniazid) và Sắt
L = Lactic acidosis
E = Ethylene glycol
S= Salicylate, các dung môi
5/ NHỮNG ĐẦU MỐI CHO MỖI THỰC
THẾ BỆNH LÝ TRONG MUDPILES ?

6/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA
NHIỄM TOAN VỚI AG HẸP (HAY BÌNH THƯỜNG)
Hãy ghi nhớ HARDUPS
H : tăng thông khí (mãn tính)
A : Acetazolamide ; Acid (ví dụ hydrochloric) ; Bệnh Addison
R : Renal tubular acidosis (nhiễm toan ống thận).
D : Diarrhea
U : Uterosigmoidostomy (mở thông niệu quản-xích ma)
P : Pancreatic fistula and drainage (rò và dẫn lưu tụy tạng).
S : Saline (dung dịch muối đẳng trương).
Điều quan trọng là cần biết rằng tiêu chảy, đặc biệt là ở trẻ em, và nhiễm
toan ống thận (renal tubular acidosis), đặc biệt là nơi người lớn, là
hai nguyên nhân thông thường nhất của một nhiễm toan với anion gap hẹp
(narrow gap acidosis) .
7/ TẠI SAO DUNG DỊCH NORMAL
SALINE (NS) HAY LACTATED RINGER (LR) NÊN ĐƯỢC CHO NƠI NGƯỜI CẦN THAY THẾ
THỂ TÍCH HƠN LÀ 0,5 NS HAY DEXTROSE IN 5% WATER ?
Dịch đi vào 3 ngăn khác nhau của cơ thể : (1) trong huyết quản (intravascular),
(2) vào trong tế bào (intracellular), và (3) giữa huyết quản và tế bào
(khoang kẽ). Dung dịch NS và LR đi vào trong 3 ngăn, và chỉ 25%-33% ở
lại trong huyết quản. Một người mất 2 đơn vị máu (1000 mL) sẽ cần 3-4
L crystalloid để hồi sức thể tích. Dung dịch 0,45 NS chỉ cung cấp ½ điều
mà NS hay LR cung cấp ; mỗi lít 0,45 NS cung cấp 125-175 mL cho huyết
quản (so với 250-333 mL đối với NS và LR). D5W là tệ nhất khi cố cho thể
tích trong huyết quản ; nó chỉ đưa khoảng 80 mL của 1000 mL D5W vào trong
huyết quản. Phần còn lại đi vào các tế bào và khoang kẽ.
8/ DUNG DỊCH NÀO TỐT HƠN, MUỐI
ĐẲNG TRƯƠNG (NS : NORMAL SALINE) HAY LACTATED RINGER (LR) ?
Cả hai loại dịch đều rất tốt để thay thể tích giai đoạn sớm. NS có một
pH 4,5 đến 5,5 và có nồng độ sodium và chloride là 155 mEq/L. NS có tính
chất sinh nhiễm toan (acidotic), có một osmolarity 310, và có hơi nhiều
sodium so với huyết thanh và có nhiều clo hơn so với huyết thanh (155
mEq/ Cl- trong NS, so với khoảng 100 mEq/L Cl- trong huyết thanh). Cho
NS quá nhiều và quá nhanh có thể gây nên nhiễm toan tăng clo-huyết (hyperchloremic
metabolic acidosis).
Lactated Ringer được xem là sinh lý hơn ở chỗ về nồng độ nó gần giống
với huyết thanh hơn nhiều. Nồng độ sodium của nó là 130 mEq/L, thấp hơn
so với dung dịch muối đẳng trương, nồng độ clo của nó chỉ 109 mEq/L (so
với 155 mEq/L của NS). Dung dịch được gọi là lactated bởi vì nó có 28
mEq/L bicarbonate dưới dạng lactate (trở nên bicarbonate khi đi vào trong
cơ thể). LR có 4 mEq potassium (không có trong NS) và có 3 mEq/L calcium.
Những người chỉ trích LR không thích tất cả bicarbonate chứa trong nó
và cho rằng liệu pháp potassium nên được thích ứng tùy cá nhân. Những
quan điểm khác cho rằng NS hay LR chẳng dung dịch nào tốt hơn dung dịch
nào ; cả hai bằng nhau về lương 2-3 L trong 24 giờ. Những bệnh nhân bị
mửa kéo dài nên được cho NS vì có nồng độ clo cao hơn. Những bệnh nhân
bị mất nước nghiêm trọng với hậu quả toan chuyển hóa tăng clo-huyết (hyperchloremic
metabolic acidosis) nên được cho LR vì có tương đương 0,5 ampoule bicarbonate
mỗi lít.
9/BẤT THƯỜNG ĐIỆN GIẢI NÀO NGUY
HIỂM NHẤT ? 5 NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG NHẤT LÀ GÌ ?
- Tăng kali-huyết (hyperkalemia).
- Trong tất cả các chất điện giải, những thay đổi nhanh nồng độ potassium
có thể gây nên những hậu quả đe dọa tức thời nhất đến tính mạng. Những
thay đổi nhỏ nồng độ potassium trong huyết thanh có những tác dụng quan
trọng lên nhịp và chức năng tim.
- Tăng kali-huyết có thể đưa đến chết đột ngột do loạn nhịp tim do tác
dụng của tăng kali-huyết lên điện thế màng lúc nghỉ của tế bào. Nguyên
nhân thông thường nhất của tăng kali-huyết thường được gọi là “ sai lầm
của phòng xét nghiệm ” (laboratory error). Thật ra phòng xét nghiệm thực
hiện sự phân tích hoàn hảo, nhưng mẩu nghiệm huyết thanh bị tan huyết
(hemolysis) sau, hoặc trong khi lấy máu.
1. Nguyên nhân số một của tăng kali-huyết là tăng giả (spurious).
Những nguyên nhân thông thường khác là
2. Suy thận mãn tính (nguyên nhân số một thật sự của tăng kali-huyết)
3. Nhiễm toan (acidosis) (K di chuyển ra khỏi tế bào khi pH hạ xuống).
4. Do thuốc (gồm có NSAID, những thuốc lợi tiểu trừ miễn K (potassium-sparing
diuretics), digoxin, angiotensin-converting enzyme inhibitors, và tiêm
truyền tĩnh mạch KCl).
5. Sự chết tế bào (khi K đi ra khỏi những tế bào hồng cầu hoặc cơ bị thương
tổn). Loại này gồm có bỏng, những chấn thương đè nát (crush injuries),
tan cơ vân (rhabdomyolysis), hội chứng tan khối u (tumor lysis syndrome)
và tan huyết trong lòng mạch (intravascular hemolysis).
Những nguyên nhân ít thông thường hơn của tăng kali-huyết gồm có suy tuyến
thượng thận (bệnh Addison), liệt chu kỳ tăng kali-huyết (hyperkalemic
periodic paralysis), và những ung thư huyết học (hematologic malignancies).
10/ KỂ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA TĂNG
KALI-HUYẾT ?
- Tăng kali-huyết có thể do tải potassium gia tăng (ví dụ sự phá hủy mô
do tan cơ vân (rhabdomyolysis), sự tán huyết (hemolysis), xuất huyết dạ
dày-ruột, do sự bài tiết potassium giảm (suy thận) hay do sự di chuyển
xuyên bào từ trong tế bào ra ngoài tế bào (ví dụ : insulin, nhiễm toan).
Những nguyên nhân quan trọng khác của tăng kali-huyết gồm có truyền máu
(tan vỡ hồng cầu dẫn đến tăng kali-huyết trong máu tích trữ ở ngân hàng)
và thuốc (ví dụ ACE inhibitors, bêta blockers, digitalis, potassium-sparing
diuretics).
- Tăng kali-huyết thường thứ phát do sự phối hợp của nhiều yếu tố, có
thể bao gồm sự giảm bài tiết bởi thận (suy thận, thuốc, suy thượng thận),
cung ứng potassium quá nhiều (bằng đường miệng hay tĩnh mạch), hay do
những biến đổi trong sự phân bố giữa các khu vực trong và ngoài tế bào
(nhiễm toan, tăng glucose-huyết, tan cơ vân, điều trị với succinylcholine
hay ngộ độc digoxine).
- Tăng kali-huyết giả (pseudo-hyperkaliémie) có thể thứ phát một tình
trạng dung huyết nặng hay do tăng tiểu cầu (thrombocytose) (> 800.000/mm3)
hay tâng bạch cầu quan trọng (>100.000/mm3).
- Những nguyên nhân thông thường nhất của tăng kali-huyết theo thứ tự
giảm dần là :
- suy thận.
- những nguyên nhân do thuốc : diurétiques épargnant le potassium (spironolactone
hay amiloride), inhibiteurs de l’enzyme de conversion, cyclosporine, amphothéricine
B, bêta-bloquants, pentamidine ;
- cấp potasssium quá mức ;
- tan cơ vân (rhabdomyolyse)
- nhiễm toan nặng
- tăng glucose-huyết
- suy thượng thận.
11/ NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG
NHẤT CỦA TĂNG KALI-HUYẾT ?
Tan huyết (hemolysis) (thuộc loại sai lầm phòng xét nghiệm). Suy thận
mãn tính là nguyên nhân thông thường nhất của tăng kali-huyết “ thật ”.
12/ LIỆT KÊ CÁC THUỐC CÓ THỂ GÂY
NỀN TĂNG KALI-HUYẾT
NSAID (non-steroidal antiinflammatory drugs)
Beta blockers
ACE (angiotensin converting enzyme) inhibitors (captopril)
Heparin : cản sự sinh steroids bởi tuyến thượng thận.
Spironolactone : phong bế thụ thể mineralocorticoid của thận.
Triamterene, amiloride : tác dụng lên sự tiết K ở ống thận, độc lập với
aldosterone.
Succinylcholine.
Penicillin liều cao
13/ BETA-BLOCKER LÀM TĂNG NỒNG
ĐỘ KALI- HUYẾT ?
Đúng vậy, chúng ức chế sự tiếp nhận potassium bởi cơ vân.
14/ K TRONG CƠ THỂ ĐƯỢC PHÂN BỐ
NHƯ THẾ NÀO ?
- 90% trong tế bào (chủ yếu trong cơ), 2% ngoài tế bào và phần còn lại
trong xương.
- Một người cân nặng 70 kg chứa khoảng 3500 mEq K+ (khoảng 50 mEq/ trọng
lượng cơ thể). Phần lớn K+ (98%) nằm trong ngăn dịch trong tế bào. Do
đó, lượng K trong ngăn dịch ngoài tế bào (phần mà chung ta thường đo)
chỉ chứa một tỷ lệ nhỏ K+ toàn cơ thể.
- Vì potasiumm là ion chính trong tế bào, nên các rối loạn của potassium
được liên kết một cách mật thiết, một mặt với những trao đổi giữa potassium
trong và ngoài tế bào, và mặt khác với sự thải của potassium bởi thận.
15/ K ĐƯỢC CHỨA TRONG DỊCH NGOÀI
TẾ BÀO BAO NHIÊU ?
Khoảng 70 mEq.
16/ NHỮNG HORMONE NÀO ĐIỀU HÒA
CÂN BẰNG POTASSIUM ?
- Insulin : gia tăng uptake bởi mô.
- Catecholamines :
- qua bêta-receptors (gia tăng uptake bởi tế bào)
- qua alpha-receptors : giảm uptake bởi tế bào : phóng thích bởi gan
- Aldosterone : bài tiết bởi thận.
- Những trao đổi qua màng tế bào bị ảnh hưởng bởi AMP cyclique, làm gia
tăng hoạt tính của Na/K ATPase. Do đó sự kích thích beta-adrénergique
làm dễ sự đi vào của potassium trong các tế bào (nhất là trong các cơ).
Insuline cũng làm gia tăng hoạt tính của Na/K ATPase. Aldostérone cũng
làm gia tăng sự đi vào của potassium trong các tế bào. Sự thải của K+
bởi thận chủ yếu được kiếm soát bởi aldostérone.
17/ NHIỄM TOAN CHUYỂN HÓA CẤP TÍNH
ẢNH HƯỞNG NỒNG ĐỘ K NHƯ THỂ NÀO ? CÓ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NHIỄM TOAN HỮU
CƠ VÀ VÔ CƠ KHÔNG ?
- Khi pH huyết thanh giảm, nồng độ potassium huyết thanh gia tăng do sự
chuyển dịch của potassium từ khu vực tế bào về phía huyết quản.
- Nhiễm toan vô cơ cấp tính (acute inorganic acidosis) : K huyết thanh
tăng 0,8 mEq/l đối với mỗi hạ pH 0,1.
- Nhiễm toan hữu cơ : không ảnh hưởng lên potassium.
18/ NHIỄM KIỀM CHUYỂN HÓA CẤP TÍNH
ẢNH HƯỞNG NỒNG ĐỘ K NHƯ THỂ NÀO ?
- Khi pH huyết thành gia tăng, nồng độ potassium huyết thanh giảm vi potassium
di chuyển vào trong tế bào.
- Potassium huyết thanh giảm 0,3 mEq/L đối với mỗi pH gia tăng 0,1 đơn
vị.
19/ NHỮNG BIẾN ĐỐI ĐIỆN TÂM ĐỒ
LIÊN KẾT VỚI TĂNG KALI-HUYẾT ?
- Tác dụng của tăng kali-huyết lên điện tâm đồ tùy thuộc vào nồng độ tuyệt
đối của potassium trong huyết thanh cũng như tốc độ potassium đã gia tăng.
Những biến đổi điện tâm đồ của tăng kali-huyết thường xảy ra từ từ.
- Những biến đổi điện tâm đồ đầu tiên được thấy trong tăng kali-huyết
thường là một sóng T cao, nhọn (a tall, peaked T wave), có thể xảy ra
khi các nồng độ của kali tăng lên từ 5,5 đến 6,5 mEq/dL. Sóng P có thể
biến mất khi những nồng độ kali tăng lên từ 6,5 đến 7,5 mEq/dL. Dấu hiệu
điện tâm đồ nguy hiểm nhất (nói chung được liên kết với những nồng độ
> hoặc = 8 mEq/dL) là sự giãn rộng của QRS, có thể trộn lẩn với sóng
T bất thường và tạo nên một tim nhịp nhanh thất dạng sine-wave (a sine
wave-appearing ventricular tachycardia).
20/ TRONG TĂNG KALI-HUYẾT, BIÊN
ĐỘ SÓNG T GIA TĂNG HAY GIẢM ? CÒN VỀ ĐỘ DÀI CỦA QRS THÌ SAO ?
Các sóng T cao hơn và phức hợp QRS kéo dài.
21/ TÓM TẮT ĐIẾU TRỊ TỐT NHẤT ĐỐI
VỚI TĂNG KALI- HUYẾT.
- Điều trị căn cứ trên (1) những nồng độ kali huyết thanh, (2) sự hiện
diện hay vắng mặt của những biến đổi điện tâm đồ, và (3) chức năng thận.
- Khi tăng kali-huyết rất được nghi ngờ, nhất là trước sự hiện diện của
những biến đổi điện tầm đồ gợi ý, hãy bắt đầu điều trị “ cứu mạng ” (traitement
de sauvetage) trước khi có những kết quả xét nghiệm.
- Nếu bệnh nhân có những biến đổi điện tâm đồ đe dọa mạng sống của tăng
kali huyết (QRS giãn rộng hay nhịp giống sine-wave), nên cho calcium chloride
10% với liều lượng ban đầu 5 đến 10mL để làm hủy bỏ tạm thời những tác
dụng điện có hại của potassium. Hầu hết những bệnh nhân với tăng kali-huyết
thường cần làm di chuyển kali vào trong tế bào, và sau đó loại bỏ kali
ra khỏi cơ thể, hơn là nhận một tiêm truyền calcium có tiềm năng gây nguy
hiểm.
22/ CÁCH NHANH NHẤT ĐỂ ĐIỀU TRỊ
TĂNG KALI-HUYẾT ?
Calcium gluconate 10% tiêm tĩnh mach.
23/ KALI CÓ THỂ ĐƯỢC CHUYỂN VÀO
TRONG TẾ BÀO NHƯ THỂ NÀO ?
Cách hiệu quả nhất là cho glucose và insulin. Glucose và insulin tác động
bằng cách hoạt hóa hệ thống vận chuyển glucose vào tế bào. Khi glucose
được mang vào trong tế bào, kali cũng được mang theo. Liều lượng thông
thường của glucose là 2 ampoule glucose 50% (100ml) và 10 đơn vị insulin.
Bicarbonate có thể được sử dụng để đẩy kali vào tế bào, nhưng nó chỉ có
hiệu quả nơi các bệnh nhân bị nhiễm toan. Thường 1-2 ampoule bicarbonate
(44,6-50 mEq bicarbonate mỗi ampoule) được cho trong 1-20 phút, tùy thuộc
vào mức độ bệnh hay nhiễm toan của bệnh nhân. Một phương pháp khác để
đẩy kali vào tế bào là sử dụng thuốc giãn phế quản bêta-agonist hít. Bêta-agonist
có thể hữu ích nơi một bệnh nhân suy thận với quá tải dịch (fluid overload)
bởi vì nó giúp điều trị co thắt phế quản của phù phổi. Magnesium tiêm
tĩnh mạch cũng đẩy kali vào tế bào, điều này có lợi nếu bệnh nhân đang
có ngoại tâm thu thất (ventricular ectopy) nhưng có khả năng nguy hiểm
nếu bệnh nhân có tăng magnesium-huyết, liên kết với suy thận mãn. Tương
tự với bêta-agonist, magnesium, với liều lượng 1-2 g cho trong 10-20 phút
có thể làm hạ 5 mEq kali huyết.
24/ SAU KHI NHỮNG TÁC DỤNG ĐIỆN
CỦA K ĐÃ ĐƯỢC TRUNG HÒA VÀ K ĐÃ ĐƯỢC ĐẨY VÀO TẾ BÀO, LÀM SAO CÓ THỂ LOẠI
BỎ K RA KHỎI CƠ THỂ ?
K có thể loại ra khỏi có thể bằng cách (1) bài niệu, (2) resine liên kết
với K (potassium-binding resins), và (3) thẩm tách máu (hemodialysis).
Bài niệu với nước muối, được hỗ trợ bởi furosemide, là một cách rất tốt
để làm hạ K toàn cơ thể. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân có suy thận,
và không thể đi tiểu nhiều, lý do vì sao họ đã bị tăng kali-huyết. Sodium
polystyrene sulfonate (Kayexalate) là một resin chứa sodium, có tác dụng
trao đổi Na của nó để đối lấy K của bệnh nhân. Mỗi 1g Kayexalate có thể
loại bỏ khoảng 1 mEq K khỏi có thể bệnh nhân. Phương pháp tốt nhất làm
hạ K là bằng thẩm tách máu (hemodialysis), và đó là phương pháp chọn lựa
đối với bất cứ bệnh nhân nào bị bệnh nặng, nhiễm toan, hay tặng kali-huyết
nghiêm trọng.
25/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG
NHẤT CỦA GIẢM NATRI-HUYẾT (HYPONATREMIA)
Giảm natri-huyết (hyponatremia) khi nồng độ natri-huyết dưới 135 mEq/dL.
Hầu hết các bệnh nhân với giảm natri-huyết nhẹ (nồng độ > 125 đến 135
mEq/dL) đang dùng thuốc lợi tiểu hay bị quá tải dịch (fluid overload)
ở một mức độ nào đó, do suy tim sung huyết (suy thận hay bệnh gan). Giảm
natri-huyết gây nên bởi thuốc lợi tiểu thường xảy ra nhất nơi người già.
Những bệnh nhân với suy tim sung huyết, suy gan, và suy thận, phát triển
giảm natri-huyết do tăng aldosterone thứ phát (secondary hyperaldosteronism).
Aldostérone được phóng thích do giảm tưới máu thận (renal hypoperfusion),
đưa đến tăng gánh thể tích (volume overload) và hạ natri-huyết do hòa
loảng (dilutional hyponatremia) (ngay cả với sự thặng dư Na toàn cơ thể).
Giảm natri-huyết mức độ trung bình đến nặng (nồng độ < 125 mEq/dL)
thường nhất là do hội chứng tiết không thích đáng hormone chống bài niệu
(SIADH) và khát nhiều do tâm thần (psychogenic polydipsia) (compulsive
water drinking : uống nước thúc bách).
26/ SIADH (SYNDROME OF INAPPROPRIATE
SECRETION OF ANTIDIURETIC HORMONE) LÀ GÌ
Hội chứng tiết không thích đáng hormone chống bài niệu (SIADH) là những
nồng độ cao bất thường của hormone thùy sau tuyến yên, làm ức chế sự bài
tiết nước. Bình thường, khi nồng độ sodium giảm xuống, những nồng độ của
hormone này cũng giảm, đưa đến mất nước qua thận (lợi tiểu). Trong hội
chứng SIADH, ADH được phóng thích một cách không thích đáng, và nồng độ
của sodium hạ xuống trong khi nước tự do được giữ lại quá mức hơn (antidiuresis).
Dấu hiệu xác nhận của hội chứng này là nước tiểu tương đối đậm đặc, hơn
là nước tiểu được hòa loãng tối đa mà chúng ta thấy trong bệnh nhân bị
quá tải nước (water-overloaded). Không được cho chẩn đoán SIADH nếu bệnh
nhân dùng thuốc lợi tiểu hay có một lý do dễ bị tăng gánh nước (thí dụ,
suy tim sung huyết, suy thận mãn tính, hay suy gan).
27/ GIẢM NATRI- HUYẾT ĐƯỢC ĐIỀU
CHỈNH VỚI TỐC ĐỘ RA SAO ?
Có nhiều bàn cải về việc nồng độ sodium nên được điều chỉnh với nhịp độ
nhanh thế nào (khoảng 2 mEq/giờ) hay chậm ra làm sao (khoảng 0,5 mEq/
giờ). Các bệnh nhân nên được điều chỉnh chậm trong 1-2 ngày, và nồng độ
sodium nên được cho phép tăng không hơn 0,5 mEq/ giờ. Phương cách này
tránh khả năng phát triển central pontine myelinosis (bây giờ được gọi
là osmotic demyelinating syndrome), một bệnh thần kinh đầy tai họa gồm
hôn mê và bại liệt, được thấy trong trường hợp điều chỉnh giảm natri-huyết
quá nhanh.
28/ NỒNG ĐỘ SODIUM CÓ KHI NÀO ĐƯỢC
ĐIỀU TRỊ NHANH HAY KHÔNG ?
Có vài chỉ định đặc hiệu để làm tăng nồng độ sodium của bệnh nhân nhanh
chóng bằng cách truyền saline 3% với tốc độ 100mL/giờ trong tối đa 2-3
giờ. Những bệnh nhân có nồng độ sodium ít hơn 120 mEq/L và có sự biến
đổi cấp tính của trạng thái tâm thần, co giật, hay những dấu hiệu khu
trú, nên được nâng cao nồng độ sodium lên khoảng 4-6 mEq/dL trong vài
giờ. Ngoài những bệnh nhân hiếm hoi với giảm natri-huyết nghiêm trọng,
có triệu chứng này, sự điều chỉnh chậm bằng cách hạn chế nước, truyền
nước muối chậm và sử dụng hợp lý furosemide nên được sử dụng.
29/ NỒNG ĐỘ OSMOL LÀ GÌ ? OSMOLAL
GAP LÀ GÌ ?
Nồng độ osmol (osmolality) được tính bằng cách nhân 2 nồng độ natri- huyết
và cộng thêm glucose chia cho 18, cộng BUN (blood urea nitrogen) chia
2,8. Bình thường khoảng 280 đến 290 mOsm.
Osmolality = 2 x Na + GLU/18 + BUN/2,8
Osmolal gap = osmololity được xác định bởi phòng xét nghiệm – osmolality
được tính.
30/ LÀM SAO SỬ DỤNG OSMOLAL GAP
ĐỂ BIẾT AI ĐÃ UỐNG METHANOL HAY ETHYLENE GLYCOL ?
Nếu osmolal gap tăng cao, anh phải đo nồng độ ethanol trong máu của bệnh
nhân ngay lập tức. Do trọng lượng phân tử của ethanol, mỗi 4,2 mg/dL “
cân nặng ” 1mOsm. Nếu nồng độ alcohol là 100 mg/dL, thì osmolal gap của
bệnh nhân sẽ là 30-35 (khoảng 25 từ alcohol, thêm vào osmolal gap bình
thường khoảng 5-10).
Nếu có một osmolal gap cao hơn, những osmol không được tính đến này có
thể biểu hiện methanol, ethylene glycol, hay isopropyl alcohol. Bởi vì
isopropyl alcohol gây nên nhiễm xeton (ketosis) mà không có nhiễm toan,
do đó nhiễm toan cộng với một osmolal gap không giải thích được có thể
muốn nói một ngộ độc đe do mạng sống (ngộ độc methanol và ethylene glycol).
31/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG
NHẤT CỦA TĂNG CANXI-HUYẾT, VÀ CHÚNG ĐƯỢC BIỂU HIỆN NHƯ THỂ NÀO ?
Tăng canxi-huyết nhẹ thường là do mất nước, thuoc lợi tiểu thiazide, hay
tăng năng tuyến cận giáp (hyperparathyroidism). Tăng canxi-huyết thường
không có triệu chứng, nhưng mệt nhẹ, sỏi thận, hay những triệu chứng dạ
dày-ruột không đặc hiệu có thể hiện diện. Tăng canxi-huyết nặng, với những
nồng độ 2-3 mg/dL trên bình thường, được thể hiện bởi biến đổi tri giác
với những triệu chứng và dấu chứng mất nước nặng.
32/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU TĂNG
CANXI-HUYẾT ?
Tăng canxi-huyết (hypercalcemia) triệu chứng được điều trị bằng hồi sức
thể tích tích cực với dụng dịch muối đẳng trượng (normal saline), được
bổ sung bởi furosemide sau khi đã bình thường hoá thể tích trong huyết
quản. Tăng can xi huyết là một trong những chỉ định thật sự duy nhất của
lợi tiểu cưỡng ép (forced diuresis) (tan cơ vân có thể là chỉ định duy
nhất khác). Nên cho bệnh nhân 200 đến 400 mL dụng dịch muối đẳng trương
cộng với furosemide với liều lượng đủ để giữ lưu lượng nước tiểu cao.
Dung dịch muối đẳng trương ức chế các ống thận gần khiến calcium không
được hấp thụ, và furosemide ức chế sự hấp tụ calcium ở ống thận xa. Những
bệnh nhân già và những bệnh nhân với chức năng tim bị suy giảm không nên
nhận hơn khoảng 200 mL dung dịch muối đẳng trương mỗi giờ khi họ bị giảm
thể tích.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/9/2009)
References :
- Emergency Medicine Secrets.
- Guidelines 2000 for Cardiopulmonary Resuscitation and Emergency.
- Cardiovascular Care.
- Advanced Life Support. Edition 2006
- Critical Care Review
- Hospital Medicine Secrets
- Le Manuel de Réanimation, Soins intensifs et Médecine d’ Urgence
- Medical Secrets
>>>back>>>
|
 |