 |
Cấp
Cứu Nội Khoa số 23 (Bác
sĩ Nguyễn Văn Thịnh)
VIÊM GAN VÀ XƠ GAN (HEPATITIS AND CIRRHOSIS)
1/ VIÊM GAN LÀ GÌ ?
Viêm gan (hepatitis) chỉ bất cứ quá trình viêm nào xảy ra ở nhu mô gan
và có thể dẫn đến từ những bất thường xét nghiệm đơn thuần đến bệnh tối
cấp gây tử vong. Yếu tố căn nguyên thông thường nhất là siêu vi trùng.
2/ CÁC VIRUS NÀO GÂY VIÊM GAN ?
Viêm gan siêu vi trùng (viral hepatitis) có thể gây nên bởi các virus
gây viêm gan A, B, C, D và E; virus Epstein-Barr (EBV); và cytomegalovirus
(CMV). Một virus gây viêm gan không A-E, viêm gan G, mới được mô tả gần
đây. Nói chung những virus này gây nên những bệnh cảnh lâm sàng tương
tự nhau, từ không có triệu chứng đến bệnh nặng (hiếm).
3/ CÁC VIRUS GÂY VIÊM GAN TRUYỀN
BỆNH NHƯ THẾ NÀO ?
Viêm gan A và E được truyền bằng đường phân-miệng (fecal-oral route).
Cả hai tác nhân gây bệnh thịnh hành nơi những vùng có trình độ y tế thấp.
Những vụ dịch lớn của hai bệnh này thường xảy ra sau lụt lội và những
tai họa thiên nhiên khác làm phá vỡ những hệ thống y tế vốn đã mong manh.
Viêm gan A gây dịch địa phương ở Hoa Kỳ và ở nhiều vùng trên thế giới,
trong khi viêm gan E không gây dịch địa phương ở Hoa Kỳ. Những vụ bộc
phát lớn viêm gan E đã được thấy ở Trung và Nam Mỹ, Bangladesh, và Ấn
Độ. Đường truyền phân miệng bao gồm không những sự gây nhiễm trực tiếp
nước uống và thức ăn, mà còn độ tập trung virus và sự mắc bệnh bằng đường
ruột do ăn sống sò hến tôm cua từ nước bị ô nhiễm bởi cống rãnh.
Các virus gây viêm gan B,C, và D được truyền bằng tiếp xúc qua da bởi
máu và các dịch cơ thể bị nhiễm trùng. Những yếu tố nguy cơ bao gồm hoạt
động sinh dục không được bảo vệ, dùng thuốc ma túy bằng đường tĩnh mạch,
bị kim chích, truyền máu, thẩm tách máu, và sự lây truyền mẹ-em bé lúc
sinh.
4/ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA VIÊM GAN A
?
Virus gây viêm gan A (hepatitis A virus) là một enterovirus thuộc họ Picornaviridae,
gây một bệnh được truyền bằng đường ruột, mắc phải do ăn uống chất đã
bị ô nhiễm bởi phân. Virus đi qua dạ dày, tăng sinh trong phần dưới của
ruột, được vận chuyển đến gan và bắt đầu tăng sinh trong tế bào chất.
Sự tổn hại tế bào xảy ra khi các phòng vệ miễn dịch của cơ thể cố gắng
giết chết virus.
Thời kỳ tiềm phục trung bình cho đến khi phát khởi triệu chứng là khoảng
32 ngày, nhưng thay đổi từ 3 đến 6 tuần. Trong trường hợp cổ điển, có
một giai đoạn tiền chứng (prodromal phase), trong đó những triệu chứng
thông thường là cảm giác khó chịu, chán ăn, đau vùng thượng vị hay hạ
sườn phải, sốt, phát ban, ỉa chảy, và bón. Bệnh thường được nhận biết
trong giai đoạn hoàng đản (icteric phase), khi nước tiểu đậm màu và vàng
da khiến bệnh nhân đi thăm khám y khoa. Các trắc nghiệm gan vào giai đoạn
này cho thấy các nồng độ transaminase và bilirubin tăng cao, và chẩn đoán
lâm sàng có thể được xác nhận bằng cách phát hiện kháng thể IgM chống
lại virus.
Mức độ nghiêm trọng của bệnh có liên hệ với tuổi tác. Những người lớn
tuổi hơn có khuynh hướng có những triệu chứng xấu hơn những người trẻ
tuổi. Hầu hết các trường hợp viêm gan A cấp tính biến mất trong vòng vài
tuần với sự hồi phục hoàn toàn về mặt lâm sàng và sinh hóa.
5/ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA VIÊM GAN B
?
Virus viêm gan B (HBV) là prototype của một họ virus mới, Hepadnaviridae.
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng HBV có thể biến thiên từ tình trạng
mang trùng (carrier state) đến viêm gan tối cấp (fulminant hepatitis).
Trong trường hợp viêm gan cấp tính B điển hình, thời kỳ tiềm phục biến
thiên từ 60 đến 180 ngày. Cũng giống như viêm gan A, viêm gan B có một
thời kỳ tiền chứng (prodromal phase) âm ỉ hơn và kéo dài hơn, cọng thêm
những triệu chứng viêm khớp và ban mày đay. Cũng như viêm gan A, các triệu
chứng có khuynh hướng cải thiện khi vàng da khởi phát. Trong giai đoạn
hoàng đản, bilirubin có khuynh hướng gia tăng ít dốc đứng hơn so với viêm
gan A, nhưng đạt nồng độ cao hơn, và vàng da kéo dài lâu hơn. Nồng độ
aminotransferase tăng chậm hơn, với cao điểm đạt chậm hơn nhiều so với
viêm gan A.
Không giống với viêm gan A, viêm gan B cấp tính có thể trở nên viêm gan
mãn tính và xơ gan. Các bệnh nhân cũng có thể có một nhiễm trùng không
có triệu chứng và không có bệnh gan (người lành mang trùng)
Nhiễm trùng HBV có thể được lan truyền qua đường ngoài ruột (parenteral
transmision). Máu là phương tiện hiệu quả nhất để lan truyền, nhưng virus
cũng hiện diện trong các chất dịch khác của cơ thể (ví dụ nước miếng và
tinh dịch). Nhiễm trùng HBV là một vấn đề thông thường trong số những
người nghiện ma túy bằng đường tĩnh mạch, những người đàn ông đồng tính
luyến ái, và các bạn đường phối ngẫu của những bệnh nhân bị nhiễm trùng.
Sự lan truyền theo chiều thẳng đứng (vertical transmission) có thể xảy
ra nơi các nhũ nhi có mẹ bị nhiễm phải viêm gan B trong tam cá nguyệt
cuối cùng của thai kỳ.
6/ CÁC XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN VIÊM
GAN B ? CHÚNG ĐƯỢC GIẢI THÍCH NHƯ THẾ NÀO ?
Có những xét nghiệm miễn dịch nhạy cảm để định mức các kháng nguyên liên
kết với HBV và các kháng thể mà nó gây ra. Hoạt tính kháng nguyên của
nhân lõi (core) DNA của virus được ký hiệu là HBc (core ) Ag. Lớp bề mặt
(surface coat) khác của virus có tính kháng nguyên đặc biệt và được ký
hiệu là HbsAg (hepatitis B surface antigen). Những kháng nguyên này gây
ra những kháng thể đặc hiệu, và cả hai tạo nên những chỉ dấu miễn dịch
(immunologic marquers) quan trọng của nhiễm trùng và tiến triển của nó.
Trong một trường hợp viêm gan B cấp tính, HbsAg được phát hiện đầu tiên
trong máu trong thời kỳ tiềm phục, 1 tuần sau khi bị nhiễm trùng. Nồng
độ HbsAg bắt đầu sụt xuống sau khi bệnh khởi đầu và thường trở nên không
thể phát hiện được trong vòng 3 tháng sau khi tiếp xúc. Sự hiện diện của
HbsAg trong huyết thanh chỉ rõ tiềm năng gây nhiễm khuẩn. Anti-HBc xuất
hiện trong huyết thanh vào cuối thời kỳ tiềm phục và tồn tại trong giai
đoạn cấp tính của bệnh và vài tháng đến vài năm sau đó. Anti-HBs được
phát hiện trung thời kỳ dưỡng bệnh (vài tuần đến vài tháng sau khi HbsAg
biến mất) và tồn tại trong một thời gian dài. Một nồng độ cao anti-HBs
xác nhận tính miễn dịch đối với HBV. Sự tồn tại kéo dài của HbsAg là một
dấu hiệu của viên gan B mãn tính.
7/ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA VIÊM GAN C
?
Viêm gan C là tên được đặt cho virus RNA chuỗi đơn (single-standed), có
bà con xa với họ Flavivirus. Virus viêm gan C là nguyên nhân quan trọng
của viêm gan không phải do virus A và B (non-A, non-B hepatitis) xảy ra
sau truyền máu (posttransfusion), mắc phải trong cộng đồng (community-acquired),
hay không rõ nguyên nhân. Mãi cho đến khi có các xét nghiệm huyết thanh,
viêm gan C là nguyên nhân của 90-95% của tất cả các trường hợp viêm gan
sau truyền máu (posttransfusion hepatitis).
Thời gian tiềm phục để nồng độ aminotransferase gia tăng là 6-8 tuần.
Những triệu chứng thường có mức độ nghiêm trọng trung bình ; 40 đến 75%
các trường hợp không có triệu chứng. Vàng da không thường xảy ra (10%)
và thường nhẹ. Viêm gan C có tỷ lệ cao tiến triển thành viêm gan mãn tính
và xơ gan. Nhận diện sớm nhiễm trùng là khó. Alanine aminotransferase
thường cao hơn aspartate aminotransferase.
8/ XÉT NGHIỆM NÀO CÓ THỂ PHÁT HIỆN
VIRUS VIÊM GAN C VÀO THỜI ĐIỂM SỚM NHẤT TRONG TIẾN TRIỂN BỆNH ?
RNA viêm gan C có thể được phát hiện bằng PCR (polymerase chain reaction)
vào khoảng 2 tuần sau khi tiếp xúc.
9/ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA VIÊM GAN D
Viêm gan D (hay delta agent) là một phần tử virus RNA không hoàn toàn,
tương tự với các virus thực vật ; siêu vi viêm gan D đòi hỏi sự hiện diện
của HBV để sự nhiễm trùng và tăng sinh có thể xảy ra. Nhiễm trùng chỉ
có thể xảy ra nơi những người mang HbsAg tiếp xúc với tác nhân delta hay
nơi những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời bởi HBV và viêm gan D. Nhiễm trùng
đồng thời bởi cả hai virus này có thể được liên kết với viêm gan tối cấp
(fulminant hepatitis). Nhiễm trùng mạn tính với viêm gan D thường được
liên kết với viêm gan mãn tính hoạt động (chronic active hepatitis) hay
xơ gan.
10/ VIÊM GAN E LÀ GÌ ?
Siêu vi trùng viêm gan E (hepatitis E virus) gây nên một bệnh lây truyền
bằng đường nước (water-borne disease), tương tự nhưng nói chung nhẹ hơn
viêm gan A. Viêm gan E có thể được truyền bằng đường phân-miệng (fecal-oral
route). Bệnh có thời gian tiềm phục trung bình là 40 ngày và gây dịch
bệnh trong một số nước đang phát triển. Viêm gan tối cấp (fulminant hepatitis)
có thể xảy ra, đặc biệt là nơi những phụ nữ có thai, với một tỷ lệ tử
vong cao đến 20%.
11/ VIÊM GAN G LÀ GÌ ?
Siêu vi trùng viêm gan G (HGV) là một siêu vi trùng độc nhất có thể được
truyền bằng đường máu. Sự liên kết của viêm gan G với bệnh vẫn không rõ
ràng, nhưng người ta ước tính rằng khoảng 0,3% những người với viêm gan
cấp tính do virus bị nhiễm bởi HGV. Nhiễm trùng dai dẳng với HGV có vẻ
rất thịnh hành trong toàn dân ; hầu như 2% những người cho máu và 14-52%
những bệnh nhân với những loại viêm gan siêu vi khác có xét nghiệm dương
tính đối với HGV RNA
12/ VIÊM GAN Ứ MẬT (CHOLESTATIC
HEPATITIS) LÀ GÌ ?
Viêm gan siêu vi mãn tính hay hội chứng đáp ứng viêm toàn thể (systemic
inflammatory response syndrome : SIRS) có thể đưa đến quá trình tắc mật,
được chẩn đoán bởi vàng da, ngứa, nồng độ bilirubin trực tiếp và alkaline
phosphatase tăng cao. Căn nguyên của tình trạng này là tình trạng loạn
chức năng của các tiểu quản mật (canalicular dysfunction), thứ phát nhiễm
trùng siêu vi và/hay đáp ứng viêm. Hầu hết các đợt viêm gan tắc mật (cholestatic
hepatitis) đều tự giới hạn : tuy nhiên cần loại bỏ các nguyên nhân gây
tắc mật ngoài gan.
13/ VIÊM GAN SIÊU VI TỐI CẤP (FULMINANT
VIRAL HEPATITIS) LÀ GÌ
Viêm gan tối cấp (fulminant hepatitis) xảy ra nơi khoảng 1% những bệnh
nhân bị viêm gan siêu vi cấp tính cần nhập viện. Trong viêm gan tối cấp,
sự hoại tử ồ ạt tế bào gan xảy ra và được cho là do sự thanh lọc các kháng
nguyên của virus xảy ra nhanh một cách bất thường. Viêm gan B chịu trách
nhiệm khoảng 50% các trường hợp, viêm gan C khoảng 45% các trường hợp
và viêm gan A khoảng 5%. Viêm gan tối cấp cũng có thể xảy ra do một số
thuốc gây độc gan (hepatotoxic drugs) và những bệnh không thông thường.
Hậu quả cuối cùng là suy gan tối cấp (fulminant hepatic failure). Suy
gan tối cấp được thể hiện bởi những triệu chứng và những dấu chứng của
bệnh não (encephalopathy), xảy ra trong vòng 3-8 tuần sau khi bệnh khởi
phát. Một bệnh đông máu nặng xảy ra do chức năng tổng hợp của gan xấu
và được đánh giá với prothrombin time (PT). Nếu PT vượt quá trị số bình
thường 10 giây mặc dầu được cho bổ sung vitamin K, thì suy gan tối cấp
đã tiến triển. Suy thận, thường là do thiếu hụt thể tích và phù não, là
một di chứng thường gặp của suy gan tối cấp.
14/ SUY GAN TỐI CẤP (FULMINANT
HEPATIC FAILURE) LÀ GÌ ?
Suy gan tối cấp (fulminant hepatic failure) là sự phát triển nhanh của
loạn chức năng gan nghiêm trọng, tiến triển thành bệnh não gan (hepatic
encephalopathy), trong vòng 8 tuần từ khi bắt đầu bị bệnh, nơi một bệnh
nhân không có bệnh sử bệnh gan.
15/ 4 NGUYÊN NHÂN CHÍNH CỦA SUY
GAN CẤP TÍNH ?
1. Những nhiễm trùng bởi virus : viêm gan siêu vi trùng.
2. Những phản ứng độc hay đặc ứng ( toxic or idiosyncratic reactions)
đối với các thuốc điều trị.
3. Những rối loạn chuyển hóa có nguyên nhân không rõ ràng.
4. Các độc tố.
16/ NHỮNG THAY ĐỔI TIM MẠCH LIÊN
KẾT VỚI SUY GAN TỐI CẤP ? ĐIỀU TRỊ ?
Những thay đổi tim mạch điển hình được liên kết với suy gan là giảm sức
đề kháng huyết quản ngoại biên và gia tăng cung lượng tim (trạng thái
tăng động lực, hyperdynamic state). Lưu lượng tim gia tăng được cho là
do các shunt huyết quản cơ-da (myocutaneous vascular shunts) được mở ra.
Sự thiết đặt catheter động mạch phổi rất hữu ích trong điều trị bệnh nhân.Về
mặt sinh lý, phương pháp tốt nhất để điều trị lưu lượng tim gia tăng là
làm giảm sự đề kháng huyết quản ngoại biên. Dopamine và các tác nhân alpha-adrenergic
có thể được sử dụng, nhưng phải theo dõi phản ứng tachyphylactic và xuất
huyết dạ dày-ruột. Những nghiên cứu lâm sàng đang được tiến hành với sự
sử dụng levodopa trong cố gắng làm đầy norepinephrine nơi các tận cùng
thần kinh giao cảm.
17/ NHỮNG RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI LIÊN
KẾT VỚI SUY GAN TỐI CẤP ? ĐIỀU TRỊ ?
Những rối loạn điện giải liên kết với xơ gan và suy gan thường là giảm
natri-huyết (hyponatremia) và giảm kali-huyết (hypokalemia). Giảm natri-huyết
thường là do máu bị pha loãng (dilutional), hậu quả của sự giảm bài tiết
nước qua thận. Giảm kali-huyết là do gia tăng sự thải K trong nước tiểu
(do chịu ảnh hưởng của aldosterone) và mất trong đường tiêu hóa.
Những bất thường này được điều trị tốt nhất bằng cách hạn chế dịch và
sodium. Spironolactone, chất đối kháng aldosterone, làm gia tăng sự mất
nước hơn là mất sodium và cũng làm giảm sự bài tiết potassium. Điều trị
phối hợp với furosemide và spironolactone có thể được sử dụng trong những
trường hợp đề kháng, nhưng nồng độ K phải được theo dõi sát. BUN (blood
urea nitrogen) và creatinine phải được theo dõi sát, và nếu bất cứ sự
gia tăng nào được ghi nhận, thì điều trị bằng thuốc lợi tiểu nên được
dừng lại để ngăn ngừa một dạng suy gan- thận (hepatorenal failure).
18/ NHỮNG THAY ĐỔI HỆ THẦN
KINH TRUNG ƯƠNG ĐƯỢC THẤY TRONG VIÊM GAN TỐI CẤP. CHÚNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ
NHƯ THỂ NÀO ?
Bệnh não gan (hepatic encephalopathy) và phù não thường được thấy trong
viêm gan tối cấp (fulminant hepatitis) và trong suy gan. Những tính chất
lâm sàng của bệnh não gan là những biến đổi trạng thái tâm thần, asterixis,
tiền hôn mê, và hôn mê. Nguyên nhân của bệnh não gan được nghĩ là do sự
gia tăng nồng độ ammoniac trong máu, gián tiếp đưa đến một sự gia tăng
vận chuyển amino acid xuyên qua hàng rào mạch máu-não (blood-brain barrier).
Điều trị bệnh não gan được căn cứ trên sự làm mất bất cứ những yếu tố
thúc đẩy nào và làm giảm amino acids được vận chuyển qua hàng rào mạch
máu-não. Nếu có một thuốc đặc hiệu nào bị liên hệ, thì phải dừng sử dụng
thuốc này. Điều trị chủ yếu là thuốc tẩy với lactulose (15 ml 3 lần mỗi
ngày) hay magnesium citrate (240 ml/ ngày), dẫn đến một pH trong phân
thấp hơn và sự thanh lọc vi khuẩn gia tăng. Sự giảm các vi khuẩn sinh
urease với aminoglycosides dùng bằng đường miệng (neomycin, 1 g 4 lần
mỗi ngày) cũng góp phần trong điều trị. Những bệnh nhân với bệnh não gan
(hepatic encephalopathy) cần một chế độ ăn giảm đạm. Dinh dưỡng toàn bộ
bằng đường ngoài ruột (TPN : total parenteral nutrition) dùng cho các
bệnh nhân bị suy gan nên chứa ít hơn những amino acid trung tính, có nhân
thơm và nhiều hơn amino acid có chuỗi phân nhánh. Những dung dịch như
thế được dung nạp tốt hơn.
19/ VIÊM GAN TỐI CẤP ĐƯỢC
ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Ngoài ghép gan orthotopic, không có hình thức điều trị đặc hiệu nào khác
được chứng tỏ có lợi trong trong viêm gan tối cấp. Mục đích của điều trị
hiện nay là kéo dài cuộc sống và kiểm soát sự suy gan trong một thời gian
đủ để cho phép sự tái sinh gan trước khi bệnh nhân chết vì suy gan. Ghép
gan đối với viêm gan tối cấp còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, nếu ghép gan
orthotopic được xét đến, cần khẩn thiết hội chẩn ngoại khoa ghép : bệnh
não gan càng tồi, thì tiên lượng toàn bộ càng xấu.
20/ TIÊN LƯỢNG ĐỐI VỚI MỘT BỆNH
NHÂN VỚI VIÊM GAN TỐI CẤP ?
Tiên lượng sinh tồn toàn bộ của những bệnh nhân với viêm gan tối cấp là
20-25%. Tỷ lệ sinh tồn tương quan với tuổi của bệnh nhân và mức độ nặng
nhất của bệnh não gan đã đạt được. Trên 50% những bệnh nhân đạt bệnh não
giai đoạn II còn sống sót. Trái lại , tỷ lệ sinh tồn đối với những bệnh
nhân tiến triển đến bệnh não giai đoạn IV là 20%.
21/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA VIÊM
GAN CẤP TÍNH VÀ MÃN TÍNH ?
Tất cả các virus viêm gan đều có thể gây nhiễm trùng cấp tính, được định
nghĩa như là sự hiện diện của những bất thường sinh hóa và huyết thanh
trong tối đa 6 tháng. Viêm gan A và E được loại bỏ khỏi cơ thể trong vòng
6 tháng và không gây nhiễm trùng dai dẳng trong một thời gian dài. Trái
lại, viêm gan B, C, và D có thể dẫn đến nhiễm trùng mãn tính, có khả năng
liên kết với sự phát triển của xơ gan hơn. Một nguy cơ gia tăng bị ung
thư biểu mô tế bào gan (hepatocellular carcinoma) nguyên phát xảy ra nơi
những bệnh nhân bị nhiễm trùng mãn tính với viêm gan B, C và D.
22/ VIÊM GAN MÃN TÍNH LÀ GÌ ?
Viêm gan mãn tính được định nghĩa là viêm gan kéo dài hơn 6 tháng. Có
hai loại chính : viêm gan mãn tính kéo dài (chronic persistent hepatitis)
và viêm gan mãn tính hoạt động (chronic active hepatitis). Viêm gan mãn
tính kéo dài là một trường hợp phát trở lại, thuyên giảm, hiền tính, tự
giới hạn, không liên kết với thương tổn gan xảy ra từ từ và không dẫn
đến suy hay xơ gan. Viêm gan mãn tính hoạt động là một bệnh có tiên lượng
xấu, được đặc trưng bởi sự phá hủy dần dần các tế bào gan trong một khoảng
thời gian nhiều năm, với sự sói mòn liên tục dự trữ chức năng của gan
và sự phát triển nhiên hậu của xơ gan. Người ta ước tính rằng khoảng 5-10
% những bệnh nhân với viêm gan B cấp tính và có thể đến 33% những bệnh
nhân với viêm gan C có thể phát triển bệnh gan mãn tính.
23/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN VIÊM
GAN KHÔNG PHẢI DO SIÊU VI ?
Thương tổn gan có thể được gây nên bởi nhiều tác nhân hoá học, các dược
phẩm, và các bệnh chuyển hóa. Các thuốc được liên kết với viêm gan mãn
tính hay xơ gan gồm có acetaminophen, aspirin, chlorpromazine, dantrolene,
ethanol, halothane, isoniazid, methyldopa, nitrofurantoin, propylthiouracil,
và sulfonamides. Những độc chất cho gan khác gồm có carbon tetrachloride,
phosphorus, tetracycline, các thuộc hóa học trị liệu, Amanita phalloides
(độc tố nấm), và các anabolic steroids. Các bệnh chuyển hóa như bệnh Wilson,
bệnh thiếu alpha1-antitrypsin, và viêm gan tự miễn dịch (autoimmune hepatitis),
đều được liên kết với viêm gan và bệnh gan.
24/ XƠ GAN LÀ GÌ ?
Xơ gan (cirrhosis) là một quá trình tỏa lan, được đặc trưng bởi sự xơ
hóa (fibrosis) và sự biến đổi cấu trúc gan bình thường thành các nốt (nodules)
có cấu trúc bất bình thường. Sự rối loạn cấu trúc (architectural disorganization)
của gan là không đảo ngược được một khi đã được xác lập, và xử trí nhằm
vào hoặc phòng ngừa thương tổn gan xảy ra thêm nữa và điều trị các biến
chứng.
25/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH CỦA
XƠ GAN ?
Rượu là nguyên nhân thông thường nhất của xơ gan, chịu trách nhiệm 60
đến 70% các trường hợp.Viêm gan mãn tính, viêm gan tự miễn dịch (autoimmune
hepatitis), xơ gan do mật nguyên phát (primary biliary cirrhosis), viêm
đường mật hóa xơ nguyên phát (primary sclerosing cholangitis), hemachromatosis,
bệnh Wilson, và những nguyên nhân không được biết cũng có thể dẫn đến
xơ gan.
26/ NHỮNG BIẾN CHỨNG CHÍNH
CỦA XƠ GAN ?
Sự thương tổn từ từ của các tế bào gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa là
những di chứng của xơ gan ; chúng có thể đưa đến 4 biến chứng quan trọng
: cổ trướng (ascite), viêm phúc mạc tự phát do vi khuẩn (spontaneous bacterial
peritonitis), bệnh não gan (hepatic encephalopathy), và xuất huyết dạ
dày-ruột trên. Tất cả những biến chứng này có thể đưa đến sự nhập viện
ở đơn vị điều trị tăng cường (ICU).
27/ CỔ TRƯỚNG DO XƠ GAN ĐƯỢC ĐIỀU
TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Điều trị khởi đầu của cổ trướng do xơ gan (cirrhotic ascite) có tính cách
bảo tồn, nhấn mạnh sự hạn chế sodium và nghỉ ngơi. Người ta ước tính rằng
10-20% các bệnh nhân bị xơ gan cổ trướng có thể được điều trị một cách
đầy đủ bằng cách này. Những bệnh nhân không đáp ứng với những biện pháp
bảo tồn, cần điều trị bằng thuốc lợi tiểu. Spironolactone là thuốc được
lựa chọn do tác dụng sinh lý của nó, tác dụng giữ K (potassium-sparing
effects) và tương đối an toàn lúc sử dụng. Điều trị phối hợp spironolactone
với furosemide được sử dụng nơi những bệnh nhân không đáp ứng với spironolactone
được dùng đơn độc. Trong những trường hợp cổ trướng không đáp ứng với
thuốc lợi tiểu, chọc dò điều trị (therapeutic paracentesis) (chọc tháo
dịch cổ trướng) nên được xét đến, và bù albumin nếu cần. Nơi những bệnh
nhân thật sự không đáp ứng, dẫn lưu kín phúc mạc-tĩnh mạch (peritoneovenous
shunt) (dẫn lưu màng bụng vào tĩnh mạch cổ qua một ống teflon có van một
chiều) nên được xét đến, nhưng ghi nhớ rằng có một tỷ lệ biến chứng cao
(đông máu tỏa lan trong lòng mạch và sepsis) và không có lợi ích được
chứng tỏ với phương pháp điều trị này.
28/ VIÊM PHÚC MẠC TỰ PHÁT DO VI
KHUẨN LÀ GÌ ? LÀM SAO CHẨN ĐOÁN ?
Viêm phúc mạc tự phát do vi khuẩn (SBP : spontaneous bacterial peritonitis)
là một nhiễm trùng của dịch cổ trướng (ascitic fluid). Những dấu hiệu
và các triệu chứng gồm có sốt, đau bụng, tri giác bị biến đổi, tăng bạch
cầu, azotemia, nhiễm toan chuyển hóa, và xuất huyết dạ dày-ruột không
thể giải thích. Chọc dò xác lập chẩn đoán. Đếm neutrophil trong dịch cổ
trướng > 250/mm3 xác nhận chẩn đoán viêm phúc mạc do vi khuẩn. Viêm
phúc mạc tự phát do vi khuẩn thường nhất được gây nên bởi Escherichia
coli, các loại Klebsiella, và các loại Streptococcus. Đường nhiễm trùng
được nghĩ là xuất phát từ sự chuyển dịch trực tiếp của vi khuẩn xuyên
qua thành ruột phù và thẩm thấu một cách bất thường, mặc dầu sự lan truyền
bằng đường máu gây nhiễm dịch cổ trướng có thể xảy ra. Nhuộm Gram và cấy
dịch cổ trướng có thể giúp nhận diện vi khuẩn.
29/ VIÊM PHÚC MẠC NGUYÊN
PHÁT DO VI KHUẨN ĐƯỢC PHÂN BIỆT VỚI VIÊM PHÚC MẠC THỨ PHÁT DO VI KHUẨN
NHƯ THỂ NÀO ?
Chẩn đoán của viêm phúc mạc tự phát do vi khuẩn (spontaneous bacterial
peritonitis) được xác nhận bởi phân tích dịch cổ trướng. Các xét nghiệm
chủ yếu là đếm tế bào, protéine toàn thể, lactate deshydrogenase, glucose,
và nhuộm Gram.
| Xét nghiệm dịch |
Viêm phúc mạc nguyên phát do vi khuẩn |
Viêm phúc mạc thứ phát do vi khuẩn |
| Bạch cầu (tế bào/ mm3) |
>500 |
>500 |
| Proteine toàn thể(g/dl) |
<1 |
>1 |
| Glucose (mg/dl) |
>50 |
<50 |
| Lactate deshydrogenase (U/L) |
<225 |
>225 |
| Nhuộm Gram |
đơn vi khuẩn |
đa vi khuẩn |
30/ ĐỊNH NGHĨA TĂNG ÁP LỰC
TĨNH MẠCH CỬA ?
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa hay tăng áp cửa (portal hypertension) được định
nghĩa như là áp lực tĩnh mạch cửa (portal venous pressure) cao hơn 12
mmHg hoặc một áp lực tĩnh mạch cửa bít (hepatic wedge venous pressure)
vượt quá áp lực tĩnh mạch chủ dưới hơn 5 mmHg. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa
được xếp loại trước gan (prehepatic), trong gan (hepatic) hoặc sau gan
(posthepatic) tùy theo vị trí cơ thể học của sức cản tĩnh mạch cửa (portal
venous resistance). Xơ gan là nguyên nhân thông thường nhất của tăng áp
lực tĩnh mạch cửa trong gan.
31/ XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT TRÊN
NƠI BỆNH NHÂN XƠ GAN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Khoảng 70% các đợt xuất huyết trong xơ gan là do các giãn tĩnh mạch (variceal
hemorrhage), nhưng những nguyên nhân khác như viêm dạ dày, loét, và vết
rách Mallory-Weiss nên được ghi nhớ. Điều trị ban đầu nhằm vào hồi sức
thể tích (volume resuscitation), điều chỉnh bệnh đông máu (coagulopathy),
làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa. Vasopressin được sử dụng rộng rãi để làm
giảm áp lực tĩnh mạch cửa với tỷ lệ thành công ban đầu cao. Tuy nhiên
những thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng somatostatin cho những kết
quả tương tự nhưng không làm giảm lưu lượng động mạch vành như trong trường
hợp vasopressin. Một khi bệnh nhàn đã được ổn định, nội soi được thực
hiện để xác định nguyên nhân của xuất huyết. Nếu xuất huyết do giãn tĩnh
mạch thực quản (esophageal varices), tiêm xơ (injection sclerotherapy)
và/ hoặc thắt búi tĩnh mạch bằng vong cao su (banding) trở nên phương
pháp điều trị được ưa thích và có một tỷ lệ thành công 85% trong xử trí
cầm máu. Nếu liệu pháp xơ hóa (sclerotherapy) không thành công, có thể
đặt một ống Sengstaken-Blakemore để cầm máu, nhưng việc sử dụng các ống
này không thể thay thế liệu pháp triệt để. Nếu xuất huyết do giãn tĩnh
mạch vẫn tiếp tục, một portosystemic shunt hay một TIPS (transjugular
intrahepatic portacaval shunt) nên được xét đến. Một phương pháp thay
thế là cắt bỏ phần dưới thực quản và/hay làm mất phân bố mạch thực quản-dạ
dày (esophagogastric devascularization) (thủ thuật Sugiura), luôn luôn
làm ngừng sự xuất huyết nhưng được liên kết với tỷ lệ tử vong cao.
32/ VAI TRÒ CỦA GHÉP GAN
ORTHOTOPIC TRONG XƠ GAN ?
Ghép gan đã trở nên một điều trị triệt để đối với xơ gan ở giai đoạn cuối.
Tỷ lệ sinh tồn một và năm năm lần lượt khoảng 80% và 65%. Việc thực hiện
ghép gan nơi những bệnh nhân xơ gan do rượu (alcoholic cirrhosis) còn
gây tranh cãi. Tuy nhiên, hầu hết các phẫu thuật viên ghép muốn đưa những
bệnh nhân này lên danh sách để ghép nếu họ chứng tỏ là đang kiêng cử rượu
và hiện đang tham gia lớp hay nhóm phục hồi. Việc thực hiện ghép gan orthotopic
nơi những bệnh nhân với viêm gan B hay C cũng gây tranh cãi. Tuy nhiên,
với sự sử dụng HBIG (hepatitis B immunoglobulin), tải lượng virus (viral
burden) được giảm, mang lại những tỷ lệ sinh tồn hứa hẹn nơi những bệnh
nhân với viêm gan B.
33 / GHÉP DỊ LOẠI (XENOGRAFT
TRANSPLANTATION) CÓ ĐÓNG MỘT VAI TRÒ TRONG ĐIỀU TRỊ SUY GAN TỐI CẤP KHÔNG
?
Vài báo cáo trường hợp trong tư liệu mới đây mô tả ghép khác chỗ (heterotopic
transplantation) những gan heo để hỗ trợ về mặt chuyển hóa trước khi ghép
bằng một gan người. Hầu hết những trường hợp này đều không thành công
trong việc cung cấp chức năng gan trong hơn 36-48 giờ, do bị thải bỏ cấp
tính.
34/ NHỮNG TIẾN BỘ NÀO ĐÃ ĐƯỢC THỰC
HIỆN VỚI HỖ TRỢ GAN NHÂN TẠO (ARTIFICIAL LIVER SUPPORT)
Trong vài năm qua, các hệ thống hỗ trợ gan sinh-nhân tạo (bioartificial
liver support systems), sử dụng hollow-fibers bioreactors, microcarrier
cell culture techniques, và porcine hepatocytes, đã được ghép vào các
động vật với suy gan cấp tính và đã đưa đến sự cải thiện quá trình khử
độc và chức năng tổng hợp. Các hệ thống gan sinh-nhân tạo ngoài cơ thể,
sử dụng porcine hepatocytes đã trắc nghiệm in vitro và đã chứng tỏ có
hoạt tính cytochrome P450, tổng hợp protein, và kết hợp bilirubine. In
vivo, những hệ thống này cung cấp sự hổ trợ chuyển hóa đáng kể cho động
vật và cải thiện chức năng thần kinh. Với nghiên cứu thêm, các gan sinh-nhân
tạo(bioartificial livers) có thể trở nên một chiếc cầu hiệu quả cho ghép
gan orthotopic nơi những bệnh nhân chờ đợi các cơ quan của người cho.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/2/2009)
References :
- Critical Care Secrets
- GI/Liver Secrets
- Hospital Medicine Secrets
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |