 |
Cấp
Cứu Nội Khoa Số 12 (Bác
sĩ Nguyễn Văn Thịnh)
ĐAU NGỰC ( CHEST PAIN )
1/TẠI
SAO NGUYÊN NHÂN CỦA ĐAU NGỰC THƯỜNG KHÓ XÁC ĐỊNH Ở PHÒNG CẤP CỨU ?
- nhiều bệnh khác nhau ở các cơ quan khác nhau có thể đưa đến đau ngực
- độ nghiêm trọng của cơn đau thường không liên quan với khả năng đe dọa
đến mạng sống của nó.
- định vị của cơn đau do bệnh nhân cảm nhận thường không tương ứng với
nguồn gốc của cơn đau này.
- các dấu hiệu vật lý, các xét nghiệm phòng thí nghiệm và các thăm dò
quang tuyến thường không có tính chất chẩn đoán ở phòng cấp cứu.
- có thể có nhiều bệnh hiện diện đồng thời
- các nguyên nhân của đau ngực cấp tính thường có thể là những quá trình
động.
2/ TẠI SAO ĐỊNH VỊ CỦA ĐAU NGỰC
KHÔNG CHẨN ĐOÁN ĐƯỢC NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ ?
Các sợi thần kinh thân thể (somatic fibers) từ bì (dermis) có số lượng
nhiều và vào tủy sống ở một mức duy nhất, dẫn đến cơn đau dữ dội và định
vị. Các sợi nối tạng đến (visceral afferent fibers) từ những cơ quan nội
tạng của ngực và bụng trên thị số lượng ít hơn. Chúng vào tủy sống ở nhiều
mức từ T1 đến T6, dẫn đến một cơn đau âm ỉ, kém khu trú. Những nối kết
giữa các sợi nội tạng và thân thể có thể đưa đến cơn đau nội tạng (visceral
pain) được cảm nhận như là xuất phát từ những định vị thân thể, như vai
hoặc cánh tay
3/ LIỆT KÊ NHỮNG NGUYÊN NHÂN ĐE
DỌA TÍNH MẠNG CỦA CƠN ĐAU NGỰC CẤP TÍNH CẦN PHẢI ĐƯỢC XÉT ĐẾN ĐẦU TIÊN
KHI ĐÁNH GIÁ MỘT BỆNH NHÂN Ở PHÒNG CẤP CỨU
- Nhồi máu cơ tim
- Cơn đau thắt ngực không ổn định (unstable angina)
- Lóc động mạch chủ (aortic dissection)
- Nghẽn mạch phổi (pulmonary embolism)
- Tràn khí màng phổi (pneumothorax)
- Viêm màng ngoài tim cấp tính (acute paricarditis)
- Vỡ thực quản.
4/ LIỆT KÊ NHỮNG TÌNH TRẠNG
BỆNH LÝ KHÁC CÓ THỂ CÓ TRIỆU CHỨNG ĐAU NGỰC
- cơn đau thắt ngực ổn định (stable angina)
- bệnh van tim (valvular heart disease)
- viêm phổi
- viêm màng phổi (pleurisy)
- viêm thực quản do trào ngược (reflux esophagitis)
- co thắt thực quản (esophageal spasm)
- thoracic outlet syndrome
- đau cơ xương (musculoskeletal pain)
- bệnh loét dạ dày tá tràng
- viêm túi mật
- viêm tụy tạng
- Herpes Zoster
- Lo âu
- Tăng thông khí phổi (hyperventilation)
- Bệnh tế bào lưỡi liềm (sickle cell disease)
- dùng cocaine
5/ HỘI CHỨNG DA COSTA LÀ GÌ ?
Da Costa’ s syndrome, hay suy nhược thần kinh tuần hoàn (neurocirculatory
asthenia) được mô tả như là đau ngực chức năng hay tâm sinh (psychogenic),
liên kết với một tình trạng lo âu. Cơn đau điển hình khu trú ở vùng đỉnh
tim. Đó là sự đau nhức âm ỉ, dai dẳng, kéo dài nhiều giờ và thường được
gia tăng hay liên hoàn với các cơn hoặc các cú đâm đau nhói dữ dội của
đau do viêm, kéo dài 1 hay 2 giây.Tình trạng này có thể xảy ra với sự
căng thẳng cảm xúc và mệt, ít có liên hệ với sự gắng sức và có thể kèm
theo nhạy cảm đau ở vùng trước ngực (precordial tenderness). Các cơn thường
liên kết với hồi hộp, tăng thông khí phổi (hyperventilation), tình trạng
tê cóng, cảm giác kiến bò nơi các đầu chi, thở dài, chóng mặt, khó thở,
yếu toàn thân, và một bệnh sử gồm các cơn hoảng sợ (panic attacks) và
những dấu chứng khác của sự bất ổn định cảm xúc hay trầm cảm.
6/ HỘI CHỨNG TIETZE LÀ GÌ ?
Hội chứng này là một loại đau thành ngực do viêm sụn sườn (costochondritis)
; cơn đau được định vị ở các khớp sụn sườn (costochondral) và ức sườn
(costosternal), đau lúc ấn chẩn. Đau thành ngực do viêm sụn sườn và viêm
cơ thương xảy ra nơi các bệnh nhân sợ bệnh tim
7/ THÁI ĐỘ XỬ LÝ BAN ĐẦU TỐT NHẤT
ĐỐI VỚI NHỮNG BỆNH NHÂN ĐAU NGỰC ?
Trừ một vài ngoại lệ, tất cả các bệnh nhân với đau ngực cấp tính nên được
xem như đó một nguyên nhân đe dọa đến tính mạng.Trước khi tiến hành thăm
dò chẩn đoán, cần cho oxy bổ sung, đặt đường tĩnh mạch và monitoring tim
8/ BẮT ĐẦU ĐÁNH GIÁ
BỆNH NHÂN VỚI ĐAU NGỰC NHƯ THẾ NÀO ?
Một bệnh sử chính xác là bộ phận quan trọng nhất của sự đánh giá. Các
yếu tố cần xét đến gồm có khởi đầu, tính chất, vị trí, hướng lan, và thời
gian cơn đau và các triệu chứng liên kết. Các yếu tố khởi động, như gắng
sức, cử động, hay thở vào, và những yếu tố làm giảm đau như nghỉ ngơi,
nitroglycerin, hay tư thế của cơ thể, có thể cho chìa khóa về nguồn gốc
của cơn đau.
| NGUYÊN NHÂN |
TÍNH CHẤT |
ĐỊNH VỊ |
HƯỚNG LAN |
THỜI GIAN |
NHỮNG TRIỆU
CHỨNG LIÊN KẾT |
KHỞI ĐẦU |
| Nhồi máu cơ tim |
Nội tạng |
Sau xương
ức |
Cơ, hàm, vai, cánh tay |
> 15 phút |
Nôn, mửa, toát mồ hôi, khó thở |
Biến thiên |
| Cơn đau thắt
ngực |
Nội tạng |
Sau xương
ức |
Cổ, hàm, vai, cánh tay |
5-15 phút |
Nôn, mửa, toát mồ hôi khó thở |
Dần dần |
| Lóc động mạch
chủ |
Nghiêm trọng,
như xé |
Sau xương ức |
Giữa các
xương bả vai |
Liên miên |
Nôn, toát mồ
hôi, khó thở |
Đột
ngột |
| Nghẽn mạch phổi |
Màng phổi |
bên |
|
Liên miên |
khó thở, lo âu |
Đột ngột |
| Tràn khí màng phổi |
Màng phổi |
bên |
Cổ, lưng |
Liên miên |
khó thở |
Đột ngột |
| Viêm màng ngoài tim |
Dữ dội, như
đâm |
Sau xương ức |
Cổ, lưng, vai, cánh tay |
Liên miên |
khó thở, khó nuốt |
Thay đổi |
| Vỡ thực quản |
Như khoan |
Sau xương
ức, thượng vị |
Sau ngực |
Liên miên |
toát
mồ hôi, khó thở (muộn) |
Đột
ngột |
| Viêm thực quản
|
âm ỉ, như
khoan |
Sau xương
ức |
Giữa các
xương bả vai |
Nhiều phút đến nhiều
giờ |
Khó nuốt |
Thay đổi |
| Co thắt thực quản |
Nội tạng |
Sau xương
ức |
Giữa các xương bả vai |
Nhiều phút đến nhiều
giờ |
Khó nuốt |
Thay đổi |
Cơ xương |
Dữ dội,
âm ỉ, nong |
Khu trú |
|
Thay đổi |
Khó thở |
Thay đổi |
9/ NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ
CHỦ YẾU LIÊN KẾT VỚI BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ, NGHẼN MẠCH PHỐI VÀ
LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ ?
Các yếu tố nguy cơ liên kết với bệnh tim do thiếu máu cục bộ (ischemic
heart disease) là tuổi lớn hơn 40, nam giới, bệnh sử gia đình với bệnh
tim do thiếu máu cục bộ, nghiện thuốc lá, tăng cholesterol, cao huyết
áp và đái đường .Trong số các bệnh nhân với nghẽn mạch phổi (pulmonary
embolism), 80% đến 90% có một hoặc hơn các yếu tố nguy cơ có liên quan
đến bộ ba Virchow bao gồm thương tổn nội mạc một mạch máu (chấn thương
hoặc phẫu thuật), ứ máu tĩnh mạch (bất động) hoặc tăng tính đông máu (hypercoagulability)
(bệnh ung thư, rối loạn đông máu hoặc những tình trạng viêm). Một trong
những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của nghẽn mạch phổi là một bệnh sử
trước đây bị huyết khối tắc mạch (thromboembolism). Cao huyết áp là nguyên
nhân của khoảng 90% những bệnh nhân với lóc động mạch chủ (aortic dissection)
10/ ĐAU NGỰC LAN TỎA CÓ Ý NGHĨA
GÌ KHÔNG ?
Đau ngực lan tỏa (radiating chest pain) là triệu chứng gợi ý nhưng không
để chẩn đoán thiếu máu cục bộ cơ tim (cardiac ischemia). Đau nội tạng
(visceral pain), gồm có các quá trình bệnh lý ở động mạch chủ, thực quản,
dạ dày, và phổi, có thể có triệu chứng lan tỏa lên cổ, vai, hoặc cánh
tay. Cơn đau ngực lan tỏa xuống cánh tay và lên cổ gia tăng khả năng nhồi
máu cơ tim.Trong một công trình nghiên cứu những bệnh nhân được nhập viện
với cơn đau ngực và sau đó được chẩn đoán là nhồi máu cơ tim, 71% có cơn
đau tỏa lan xuống cánh tay và lên cổ. Sự lan tỏa của cơn đau chỉ xảy ra
nơi 39% các bệnh nhân được nhập viện với cơn đau ngực không phải do nhồi
máu cơ tim. Cơn đau ngực tỏa ra nơi cả hai cánh tay sẽ gia tăng khả năng
nhồi máu cơ tim lên 7 lần.
11/ DẠNG VẺ CỦA BỆNH NHÂN CÓ TƯƠNG
QUAN VỚI NGUỒN GỐC CỦA ĐAU NGỰC KHÔNG ?
Các bệnh nghiêm trọng thường đưa đến sự lo âu, toát mồ hôi, và một vẻ
mặt bệnh hoạn. Sự bất động (splinting) có thể gây nên bởi nghẽn mạch phổi,
viêm màng phổi, tràn khí màng phổi, hoặc đau ngực có nguồn gốc cơ xương
(musculoskeletal chest pain). Levine’s sign (bệnh nhân đặt một nắm tay
bóp chặt lên xuống ức để mô tả cơn đau), thường được liên kết với bệnh
tim do thiếu máu cục bộ. Kussmaul’s sign là dấu hiệu căng đầy nghịch lý
các tĩnh mạch cổ lúc thở vào. Dấu hiệu này gợi ý nhồi máu tâm thất phải,
nghẽn mạch phổi to lớn (massive PE) hoặc viêm màng ngoài tim.
12/ CÁC DẤU HIỆU SINH TỬ (VITAL
SIGNS) HỮU ÍCH NHƯ THẾ NÀO ?
Một dị biệt huyết áp 20 mmHg giữa các chi trên hoặc một sự mất hoặc giảm
mạch của chi dưới ngụ ý một lóc động mạch chủ (aortic dissection). Sự
hiện diện của tim đập nhanh (tachycardia) phải khiến nghi ngờ đến bệnh
lý hệ trọng hoặc cơn đau nghiêm trọng. Nhịp thở nhanh (tachypnea) có thể
gây nên bởi giảm oxy (hypoxia) của nghẽn mạch phổi (pulmonary embolism),
có thể gây nên bởi viêm phổi, hoặc có thể do cơn đau đớn. Nhiệt độ tăng
cao thường thể hiện một quá trình viêm hay nhiễm khuẩn, như viêm màng
ngoài tim hay viêm phổi.
13/ MÔ TẢ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
ĐIỂN HÌNH CỦA ĐAU NGỰC TRONG BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ
Trong trường hợp điển hình, các bệnh nhân với cơn đau thắt ngực ổn định
(stable angina) có những đợt đau ngực khi gắng sức, giảm đi trong vòng
vài phút lúc nghỉ ngơi. Mức độ gắng sức gây nên đau ngực có thể thay đổi.
Đau thường mơ hồ, thường được mô tả như là cảm giác thắt lại (tighness)
hoặc nặng nề (heaviness), định vị dưới xương ức (substernal), lan tỏa
lên hàm, vai hoặc chi trên.
Bệnh nhân với cơn đau thắt ngực không ổn định (unstable angina) thường
có cơn đau tương tự, nhưng xảy ra lúc nghỉ ngơi hoặc với mức độ gắng sức
càng ngày càng ít hơn (crescendo angina). Những bệnh nhân với cơn đau
thắt ngực không ổn định có cơn đau lúc nghỉ ngơi nhưng đồng thời cũng
có cơn đau lúc gắng sức. Prinzmetal’s angina gây nên bởi co thắt động
mạch vành, là một ngoại lệ cho quy luật này. Bệnh nhân với Prinzmetal’s
angina có cơn đau lúc nghỉ ngơi, thường vào sáng sớm, và thường không
có cơn đau lúc gắng sức. Cơn đau thắt ngực do co mạch (vasospastic angina)
thật sự không thường xảy ra.
Cơn đau trong nhồi máu cơ tim nghiêm trọng hơn những cơn đau thắt ngực
khác. Cơn đau có thể được mô tả như là đè ép (crushing) nhưng thường không
phải là cơn đau như xé (ripping ) như trong trường hợp lóc động mạch chủ
ngực (thoracic aortic dissection).Với sự hiện diện của việc ra mồ hôi
và cơn đau lan tỏa lên hàm hoặc cánh tay phải nghi ngờ nhồi máu cơ tim.
14/ ĐỊNH NGHĨA CƠN ĐAU THẮT
NGỰC ( ANGINA PECTORIS).
Cơn đau thắt ngực là một hội chứng lâm sàng mà đặc điểm là đau ở ngực
hay vùng kề cận, do thiếu máu cục bộ cơ tim và điển hình được gây nên
bởi sự gắng sức và giảm bớt khi nghỉ ngơi hoặc khi dùng nitroglycerin
dưới lưỡi. Angina có nghĩa là nghẹt thở (choking), chứ không phải là đau
đớn. Angina có nghĩa là nghẹt thở (choking), chứ không phải là đau đớn.
Đó không phải là cơn đau thật sự mà đúng hơn là một cảm giác khó chịu
: “ đè ép ” (pressing), “ siết chặt ” (squeezing), “ bóp nghẹt ” (strangling),
“ thắt lại ” (constricting), “ vỡ tung ” (bursting) và “ rát bỏng ” (burning).
“ Một đai qua ngực ” (a band across the chest) và “ một trọng lượng ở
trung tâm ngực ” là những triệu chứng được mô tả khác. Siết nắm tay trước
ngực trong khi mô tả cảm giác (Levine’s sign) là một chỉ dấu vững chắc
của cơn đau có nguồn gốc thiếu máu cục bộ.
15/ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐAU NGỰC
KHÔNG PHẢI DO CƠN ĐAU THẮT NGỰC ( NONANGINAL CHEST PAIN) ?
Các đặc điểm sau đây không phải là của cơn đau thắt ngực (angina).
- Đau ngực chốc lát thoáng qua được mô tả nhu là “ kim đâm ” ( needle
jabs) hay “ sticking pains ”
- Đau được đinh vị trên một vùng rất nhỏ ( ví dụ có kích thước của đầu
ngón tay).
- Đau được gây nên bằng cách đè lên thành ngực.
- Đau tăng lên khi thở hoặc gây nên bởi một cử động đơn độc của thân mình
hoặc cánh tay.
- Cơn đau giảm trong vài giây sau khi nằm ngang hoặc sau khi ăn hoặc uống
một hoặc hai hớp thức ăn hay nước.
16/ NHỮNG DẤU CHỨNG KHÁM VẬT LÝ
NÀO CÓ THỂ GIÚP PHÂN BIỆT CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA CƠN ĐAU NGỰC CẤP TÍNH ?
Những dấu chứng vật lý riêng lẻ hiếm khi giúp chẩn đoán nguyên nhân của
đau ngực nhưng khi được sử dụng liên quan với bệnh sử, chúng có thể rất
là có giá trị. Ấn chẩn có thể phát hiện nhạy cảm đau khu trú (localized
tenderness) và gây ra đau cơ xương (musculoskeletal pain), nhưng 5% đến
10% các bệnh nhân đau ngực được gây nên một phần hay hoàn toàn bằng ấn
chẩn, có bệnh tim do thiếu máu cục bộ (ischemic heart disease).Thính chẩn
tim có thể phát hiện một tiếng thổi mới do thiểu năng van động mạch chủ
(aortic insufficiency) làm nghĩ đến lóc động mạch chủ ( aortic dissection
) hoặc một tiếng thổi mới do trào ngược van hai lá (mitral regurgitation)
do loạn chức năng cơ gai (papillary muscle dysfunction), gây nên bởi nhồi
máu cơ tim thành dưới (inferior wall myocardial infarction). Một tiếng
tim thứ ba làm tăng khả năng nhồi máu cơ tim.Tiếng cọ màng ngoài tim (a
pericardial friction rub) gợi ý viêm màng ngoài tim (pericarditis). Khí
trung thất do vỡ thực quản gây nên một tiếng lạo xạo được gọi là Hammon’s
sign. Tiếng thở giảm hoặc tăng vang âm (hyperresonance) có thể chứng tỏ
một tràn khí màng phổi (pneumothorax). Tiếng ran khu trú gợi ý bệnh lý
phổi như là nguyên nhân của đau ngực. Những bệnh nhân với sưng cẳng chân
một bên, phù ấn lún một cẳng chân, nhạy cảm đầu trên hệ tĩnh mạch sâu,
hoặc sưng bắp chân trên 3cm nơi một cẳng chân, có nguy cơ gia tăng bị
nghẽn mạch phổi (pulmonary embolism).
17/ ĐIỆN TÂM ĐỒ HỮU ÍCH TRONG VIỆC
ĐÁNH GIÁ ĐAU NGỰC NHƯ THẾ NÀO ?
Dấu hiệu điện tâm đồ thường liên kết với thiếu máu cục bộ cơ tim là nâng
cao đoạn ST (ST segment elevation), hạ đoạn ST ( ST segment depression),
các sóng T đảo ngược (inverted T waves) và các bloc nhánh trái mới xảy
ra. Khởi đầu điện tâm đồ có thể bình thường nơi 20 đến 50% những bệnh
nhân đến phòng cấp cứu mà sau đó được chẩn đoán là nhồi máu cơ tim. So
sánh với các điện tâm đồ trước đây có thể phát hiện những thay đổi tinh
tế và có ý nghĩa. Trong viêm màng ngoài tim (pericarditis), những thay
đổi ban đầu của điện tâm đồ bao gồm các đoạn ST nâng cao trên khắp các
chuyển đạo với đoạn PR hạ xuống. Những điện tâm đồ của các bệnh nhân với
nghẽn mạch phổi (pulmonary embolism) thường cho thấy một nhịp xoang bình
thường. Những dấu hiệu điện tâm đồ thông thường nhất liên kết với nghẽn
mạch phổi cấp tính là nhịp nhanh xoang và những bất thường ST-sóng T trong
các chuyển đạo trước tim phải. Sự căng tim phải (right heart strain) do
nghẽn mạch phổi có thể đưa đến một sóng P nhọn ( peaked P wave), trục
lệch về phía phải (right-axis deviation) hoặc một sóng S nổi trội trong
chuyển đạo ngoại biên I, một sóng Q trong chuyển đạo ngoại biên III và
một sóng T đảo ngược, mới xuất hiện trong chuyển đạo III (S1Q3T3) ; tuy
nhiên những dấu chứng này không thường xảy ra.
18/ NHỮNG BẤT THƯỜNG NÀO CÓ THỂ
TÌM THẤY TRÊN HÌNH CHỤP NGỰC TRONG CÁC BỆNH GÂY ĐAU NGỰC ?
Các hình chụp ngực của những bệnh nhân với cơn đau ngực thường đều bình
thường nhưng có thể có giá trị chẩn đoán, như trong tràn khí màng phổi.
Lóc động mạch chủ (aortic dissection) có thể cho thấy trung thất bị giãn
rộng (a widened mediastinum) hoặc một phân cách 4- đến 5-mm hoặc hơn giữa
nội mạc bị vôi hóa (the calcified intima) và mép ngoài của phồng động
mạch chủ (aortic knob). Nghẽn mạch phổi (pulmonary embolism) có thể cho
thấy những dấu hiệu không điển hình, như xẹp phổi (atelectasis) hoặc một
nửa cơ hoành bị nâng cao (an elevated hemidiaphragm). Những dấu hiệu hiếm
như Hampton’s hump (một thâm nhiễm hình chêm, có đáy là màng phổi, biểu
hiện một vùng bị nhồi máu), và Westermark’s sign ( không có hình bóng
phổi phía dưới nghẽn mạch phổi trung tâm ). Viêm phổi điển hình gây nên
một hay nhiều vùng đông đặc phổi (pulmonary consolidation), có thể xẹp
phổi và có thể kèm theo bởi tràn dịch màng phổi (pleural effusion) và
tạo hang (cavitation).Vỡ thực quản cổ điển liên kết với khí thủng dưới
da (subcutaneous emphysema), tràn khí trung thất (pneumomediastinum),
tràn dịch màng phổi phía trái, hoặc tràn khí màng phổi phía trái.
19/ CÁC ENZYMES TIM CÓ HỮU ÍCH
TRONG ĐÁNH GIÁ CƠN ĐAU NGỰC Ở PHÒNG CẤP CỨU KHÔNG ?
- Đo nồng độ các enzymes tim nhiều lần chứng tỏ gia tăng CK và CK-MB có
thể xác nhận chẩn đoán hoại tử cơ tim.Tuy nhiên, những định lượng nồng
độ riêng rẻ ở phòng cấp cứu thường không giúp chẩn đoán bởi vì có thể
cần đến 3 đến 4 giờ trước khi nồng độ CK-MB gia tăng. Myoglobin có thể
được phát hiện trong vòng 1 đến 2 giờ sau khi bắt đầu nhồi máu cơ tim.
Mặc dầu mức độ nhạy cảm của myoglobin gần 90% trong 4 đến 6 giờ, nhưng
enzyme này không đặc hiệu cho thương tổn tim. Có tỷ lệ dương tính giả
cao vì Myoglobin hiện diện trong tất cả các mô cơ. Việc sử dụng tỷ suất
CK-MB/CK (cũng được gọi là index ; bình thường < 0,05) nhạy cảm và
đặc hiệu hơn một trị số CK-MB riêng rẻ.
- Troponin I có tính nhạy cảm và đặc hiệu cao đối với thương tổn tim,
ngay cả trong bối cảnh thương tổn cơ xương. Troponin I cũng đòi hỏi nhiều
giờ để tăng cao trên mức quy định. Một lợi thế của Troponin I là nồng
độ vẫn cao trong 7 ngày, như vậy cho phép phát hiện thương tổn cơ tim
nơi những bệnh nhân sau nhiều ngày đã bị thương tổn do thiếu máu cục bộ.
20/ CÁC BỆNH LÝ THÔNG THƯỜNG LIÊN
KẾT VỚI GIA TĂNG NỒNG ĐỘ CK-MB ?
- Cơn đau thắt ngực không ổn định ( unstable angina).
- Thiếu máu cục bộ động mạch vành cấp tính ( acute coronary ischemia).
- Bệnh tim do viêm.
- Bệnh cơ tim (Cardiomyopathies).
- Suy tuần hoàn và sốc.
- Phẫu thuật tim.
- Chấn thương tim.
- Chấn thường cơ xương (nghiêm trọng).
- Viêm da cơ ( dermatomyositis), viêm đa cơ (polymyositis).
- Các bệnh cơ (myopathic disorders).
- Loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy), đặc biệt là Duchenne.
- Thể dục mạnh.
- Tăng thân nhiệt ác tính ( malignant hyperthermia).
- Hội chứng Rye.
- Tiêu cơ vân ( rhabdomyolysis) bất cứ do nguyên nhân gì.
- Sảng ruợu cấp (delirium tremens).
- Ngộ độc ethanol (mãn tính).
21/ CÓ NHỮNG TRẮC NGHIỆM BÊN GIƯỜNG
CÓ THỂ GIÚP NHẬN DIỆN ĐƯỢC NGUỒN GỐC CỦA CƠN ĐAU NGỰC CẤP TÍNH KHÔNG ?
Vài trắc nghiệm bên giường (bedside tests) có thể hữu ích, nhưng hiếm
khi chúng có giá trị chẩn đoán. Giảm đau với nitroglycerin xảy ra trong
cơn đau thắt ngực (angina) và co thắt thực quản (esophageal spasm), trong
khi đó không có tác dụng giảm đau trong nhồi máu cơ tim cấp tính và cơn
đau thắt ngực không ổn định (những hợp chứng động mạch vành cấp tính).
Thuốc kháng axit (antacids) hay một GI cocktail (gồm có lidocaine và một
chất kháng axit), thường làm biến mất cơn đau thực quản nhưng cũng làm
giảm đau nơi 7% các bệnh nhân với cơn đau thắt ngực. Nên tránh việc sử
dụng các chất kháng axit như là trắc nghiệm chẩn đoán. Đau do viêm màng
ngoài tim (pericarditis) trở nặng hơn lúc nằm ngửa và giảm khi nghiêng
mình về phía trước. Còn đau do bệnh thực quản trở nặng hơn với sự thay
đổi tư thế, như nghiêng mình về phía trước hoặc nằm xuống. Đau cơ xương
(musculoskeletal pain) cũng tăng lên với các cử động.
22/ CÓ NHƯNG XÉT NGHIỆM QUANG TUYẾN
HỮU ÍCH NÀO KHÁC NỮA KHÔNG ?
Lóc động mạch chủ (aortic dissection) có thể được chẩn đoán bằng hình
chụp động mạch ngực (thoracic arteriogram), một rapid-sequence CT scan,
hoặc bằng siêu âm tâm ký xuyên thực quản ( transesophageal echocardiogram).
Một nghẽn mạch phổi nghi ngờ, có thể được xác nhận bởi ventilation-perfusion
scan, spiral CT scan ngực, hoặc chụp mạch phổi (pulmonary arteriography).Vỡ
thực quản (esophageal rupture) có thể được chẩn đoán bằng esophagogram
với chất cản quang hoà tan trong nước .
23/ MÔ TẢ NHỮNG CÂN NHẮC ĐẶC BIỆT
KHI ĐÁNH GIÁ ĐAU NGỰC NƠI CÁC BỆNH NHÂN GIÀ, ĐÁI ĐƯỜNG, HAY PHỤ NỮ
Mặc dầu nguồn gốc của đau ngực nơi người già không khác nhau nhiều so
với các bệnh nhân nói chung, triệu chứng đau ngực nơi người già thường
không điển hình.Thay vì cơn đau ngực, bệnh tim do thiếu máu cục bộ có
thể được biểu hiện bởi khó thở tiến triển đột ngột, cảm giác đầy bụng
hoặc thượng vị, mệt cực kỳ, lú lẫn, hay ngất xỉu. Các bệnh nhân đái đường
có thể có sự cảm nhận đau đớn bị biến đổi, đưa đến một triệu chứng không
điển hình tương tự với triệu chứng của người già. Nguy cơ bị bệnh tim
do động mạch vành nơi các phụ nữ gia tăng với kỳ mãn kinh, đặc biệt là
nơi các phụ nữ không sử dụng liệu pháp estrogen. Các phụ nữ với bệnh tim
do thiếu máu cục bộ có những triệu chứng không điển hình thường xảy ra
hơn so với đàn ông. Điều này thường là do tỷ lệ cao hơn mắc phải các nguyên
nhân ít thông thường khác, như cơn đau thắt ngực do co thắt mạch (vasospastic
angina)
24/ KHOẢNG 4% NHỮNG BỆNH
NHÂN VỚI ĐAU NGỰC DO NHỒI MÁU CƠ TIM ĐƯỢC CHO XUẤT VIỆN VỀ NHÀ. LIỆT KÊ
NHỮNG YẾU TỐ KHIẾN THẤT BẠI TRONG CHẨN ĐOÁN
- Bệnh nhân trẻ hơn so với những bệnh nhân điển hình.
- Không có được một bệnh sử chính xác.
- Giải thích điện tâm đồ không đúng.
- Không nhận diện được những triệu chứng không điển hình.
- Do dự không nhập viện những bệnh nhân với các triệu chứng mơ hồ.
- Tin cậy vào những xét nghiệm như enzymes tim.
- Kinh nghiệm hoặc đào tạo không được đầy đủ.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 20/5/2008 )
References :
- Emergency Medicine Secrets.
- Critical Care Secrets
Copyright, 2006. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |