 |
CẤP CỨU DẠ DÀY-RUỘT
SỐ 8
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT TRÊN VÀ DƯỚI (UPPER
AND LOWER GASTROINTESTINAL BLEEDING ON THE CRITICALLY ILL PATIENT)
1/ CÓ PHẢI TẤT
CẢ CÁC BỆNH NHÂN VỚI XUẤT HUYẾT DẠ DÀY- RUỘT ĐỂU CẦN PHẢI ĐƯA VÀO ICU
?
- Không. Những bệnh nhân đang xuất huyết tích cực, đã mất máu nhiều, hay
những bệnh nhân có nguy cơ bất ổn định tim mạch do hậu quả của xuất huyết
nên được đưa vào đơn vị điều trị tăng cường (intensive care unit).
2/ ĐIỀU GÌ CHỈ CÓ NƠI BỆNH NHÂN
NHẬP VIỆN BỊ XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT ?
Xuất huyết dạ dày- ruột nơi một bệnh nhân nội trú, được nhập viện vì một
tình trạng không liên quan, được liên kết với một tỷ lệ tử vong cao. Xuất
huyết bắt đầu trong thời kỳ nhập viện có một tỷ lệ tử vong 25% so sánh
với 3,5%-7% đối với xuất huyết bắt đầu trước khi nhập viện. Nguyên nhân
của tử vong thường không phải do chính sự xuất huyết, mà đúng hơn là do
cơn bộc phát của quá trình bệnh nguyên thủy.
3/ NÓI VỀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN QUAN
TRỌNG CỦA XUẤT HUYẾT DẠ DÀY- RUỘT ?
- Loét dạ dày-tá tràng là nguyên nhân thông thường nhất của xuất huyết
dạ dày- ruột trên (upper gastrointestinal tract) và chịu trách nhiệm khoảng
50% các trường hợp. Xuất huyết dạ dày-ruột trên được định nghĩa là mất
máu có nguồn gốc ở phần gần đối với dây chằng Treiz. Các vết xước dạ dày
(gastric erosions) (23%), các búi tĩnh mạch thực quản (10%), vết rách
Mallory-Weiss (7%), và viêm thực quản (6%) là nguyên nhân của hầu hết
những trường hợp còn lại. Loét dạ dày-tá tràng và các búi tĩnh mạch thực
quản là các thương tổn có khả năng nhất gây nên xuất huyết quan trọng
của dạ dày-ruột trên, cần được đưa vào ICU.
- Xuất huyết túi cùng (diverticular bleeding) là nguyên nhân thông thường
nhất của xuất huyết dạ dày-ruột dưới (lower gastrointestinal tract) và
chịu trách nhiệm 43% các trường hợp. Xuất huyết dạ dày-ruột dưới (lower
gastrointestinal bleeding) được định nghĩa là mất máu có nguồn gốc ở phần
xa đối với dây chằng Treitz.
- Angiodysplasia (loạn sản mạch) (20%), các nguyên nhân không được xác
định (12%), khối u (9%) và viêm đại tràng (9%) chịu trách nhiệm phần lớn
các trường hợp còn lại.
Các túi cùng (diverticula) và đôi khi loạn sản mạch (angiodysplasia) là
các thương tổn có khả năng nhất gây nên mất máu quan trọng của phần dưới
đường tiêu hóa, cần phải được đưa vào ICU.
4/ NHỮNG BỆNH NHÂN ICU CÓ
NGUY CƠ ĐỐI VỚI NHỮNG NGUYÊN NHÂN XUẤT HUYẾT DẠ DÀY- RUỘT NÀO ?
Mặc dầu những bệnh nhân ở ICU có thể có bất cứ nguyên nhân điển hình nào
của sự xuất huyết, những bệnh nhân này đặc biệt có nguy cơ phát triển
các loét do stress (stress-induced ulcers) ở đường dạ dày- ruột trên và
thiếu máu cục bộ đại tràng do hạ huyết áp (hypotension-induced ischemia
of the colon).
5/ NHỮNG CÂU HỎI NÀO GIÚP ĐÁNH
GIÁ ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT ?
- Bệnh nhân có bất ổn huyết động quan trọng không ?
- Bệnh nhân có đang xuất huyết một cách tích cực không ?
- Đây có phải là một bệnh nhân có nguy cơ cao không ? (tuổi > 60, xuất
huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, hay có bệnh kèm theo) ?
- Đây có phải là xuất huyết dạ dày-ruột trên không ?
6/ CÁC YẾU TỐ NÀO ĐƯỢC LIÊN KẾT
VỚI MỘT TỶ LỆ TỬ VONG CAO NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT
TRÊN ?
Hệ thống cho số điểm (scoring system) đã được phát triển để đánh giá và
điều trị chính xác những bệnh nhân với xuất huyết dạ dày- ruột. Những
chỉ dấu tiên đoán (predictor) này giúp nhận diện bệnh nhân nào là có nguy
cơ cao nhất bị tử vong. Những bệnh nhân như thế được hưởng các thủ thuật
điều trị sớm và được điều trị ở phòng hồi sức. Những yếu tố nguy cơ (risk
factors) được liên kết với một tý lệ tử vong cao gồm có :
1. Tuổi > 60.
2. Những bệnh lý nội khoa tiềm tàng (ví dụ : bệnh đái đường, suy thận,
bệnh động mạch vành, ung thư, bệnh gan).
3. Hạ huyết áp kéo dài.
4. Phải truyền hơn 5 đơn vị máu.
5. Xuất huyết hay tái xuất huyết trong thời gian nhập viện.
6. Chất dịch hút của dạ dày có máu.
7. Cần phẫu thuật cấp cứu.
8. Các thương tổn có nguy cơ cao (các búi tĩnh mạch thực quản, các loét
có nguy cơ cao được thấy lúc làm nội soi, các vết loét > 2cm và các
vết loét nằm ở đường cong nhỏ của dạ dày hay mặt sau hành tá tràng).
7/ CÁC BƯỚC TRONG XỬ TRÍ BAN ĐẦU
CỦA MỘT BỆNH NHÂN VỚI XUẤT HUYẾT DẠ DÀY- RUỘT ?
1. Đặt hai catheter tĩnh mạch có kích thước lớn (ít nhất cỡ 18).
2. Đánh giá mất thể tích (volume loss). Một bệnh nhân trong tình trạng
choáng đã mất ít nhất 40% thể tích máu toàn thể. Một bệnh nhân với tim
đập nhanh và hạ huyết áp do tư thế (postural hypotension) đã mất ít nhất
20% thể tích máu toàn thể. Hematocrit ban đầu phản ánh kém mức độ mất
máu nếu như mất máu cấp tính. Có một khoảng thời gian quân bình 24 giờ
đến 72 giờ trước khi nồng độ hematocrit phản ánh lượng máu mất.
3. Bắt đầu hồi sức với với dung dịch muối đẳng trương, và nếu thích đáng,
truyền máu, với tốc độ tương xứng với thể tích máu bị mất được ước tính.
8/ DỊCH HÚT
DẠ DÀY KHÔNG CÓ MÁU CÓ LOẠI TRỪ MỘT XUẤT HUYẾT DẠ DÀY- RUỘT TRÊN KHÔNG
?
Không. Đến 15% những bệnh nhân với xuất huyết dạ dày-ruột trên có thể
có dịch hút mũi-dạ dày không có máu. Tình huống này có thể xảy ra khi
đầu mũi của ống thông mũi-dạ dày nằm ở thực quản hay khi một cơ vòng môn
vị (pyloric sphincter) tốt không cho phép máu từ vết loét tá tràng trào
ngược lên dạ dày. Do đó, các bệnh nhân với Ỉa máu tươi (hématochezia),
không ổn định về mặt huyết động, và một dịch hút mũi-dạ dày âm tính vẫn
còn phải xét đến nội sôi trên (upper endoscopy) tức thì.
9/ ĐƯA ỐNG THÔNG MŨI-DẠ DÀY VÀO
MỘT BỆNH NHÂN VỚI BÚI TĨNH MẠCH CÓ LÀM GÂY XUẤT HUYẾT KHÔNG ?
Không. Không có bằng cớ hổ trợ cho mối quan tâm cho rằng việc đưa vào
một ống thông mũi-dạ dày gây xuất huyết do làm thương tổn một búi mạch
(varix).
10/ NỘI SOI ĐÓNG VAI TRÒ GÌ TRONG
XỬ TRÍ XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT TRÊN VÀ DƯỚI ?
Nội soi là quan trọng trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết dạ dày-ruột
trên và dưới. Các loét dạ dày hay tá tràng được điều trị hoặc bằng những
phương pháp tiếp xúc nhiệt (thermal contact methods) (heater probe, electrocoagualtion)
hoặc bằng tiêm một số chất (epinephrine, nước muối, các sclerosing agents
như rượu). Các giãn tĩnh mạch được điều trị bằng endoscopic band ligtion
hay tiêm các sclerosing agents như ethanolamine oleate. Liệu pháp nội
soi cấp cứu của các giãn tĩnh mạch và loét làm giảm thời gian nằm viện,
tỷ lệ bị tái xuất huyết và cải thiện tỷ lệ sinh tồn.
Thời điểm làm nội soi đại tràng nơi bệnh nhân với xuất huyết dạ dày ruột
dưới vẫn còn được tranh cãi. Nội soi cấp cứu đối với xuất huyết dạ dày-ruột
dưới cấp tính ít được xác lập hơn so với soi thực quản-dạ dày-tá tràng
đối với xuất huyết dạ dày-ruột trên cấp tính. Túi cùng (diverticula) và
các giãn huyết quản (vascular ectasia) có thể nằm rải rác khắp ruột già,
và việc tìm thấy thương tổn thủ phạm có thể khó với xuất huyết hoạt động
hay một đại tràng không được chuẩn bị một cách thích đáng. Hơn một nguồn
xuất huyết tiềm tàng được nhận diện lúc soi đại tràng nơi 42% bệnh nhân
với xuất huyết dạ dày-ruột dưới cấp tính. Vài trung tâm đã điều tra nghiên
cứu tẩy xổ nhanh tiếp theo bởi soi đại tràng cấp cứu trong vòng 12 giờ
sau khi nhập viện và đã báo cáo sự thành công trong việc nhận diện và
điều trị thương tổn thủ phạm. Soi đại tràng trong vòng 24 giờ có thể là
một mục tiêu hợp lý hơn vì bệnh nhân có thể được hồi sức một cách thích
đáng và sự chuẩn bị ruột có thể được thực hiện. Sự xếp loại thành những
nhóm có nguy cơ thấp và cao đối với tái xuất huyết đã được thiết lập đối
với soi thực quản-dạ dày-tá tràng nhưng không đối với soi đại tràng.
11/ NÓI VỀ VAI TRÒ CỦA TAGGED RBC
SCAN VÀ CHỤP MẠCH (ANGIOGRAPHY) TRONG XUẤT HUYẾT DẠ DÀY-RUỘT DƯỚI
Nếu sự mất máu khá nhanh ảnh hưởng không thuận lợi lên chất lượng của
soi đại tràng, tagged RBC scan, được theo sau bởi chup mạch (angiography),
có thể giúp định vị tri và điều trị thương tổn xuất huyết trong đường
dạ dày-ruột dưới (lower gastrointestinal tract). Tagged RBC scan nhạy
cảm hơn angiography trong việc phát hiện xuất huyết nhưng ít chính xác
hơn trong việc định vị trí xuất huyết. Nó không mang lại khả năng điều
trị nhưng có thể phát hiện 0,1ml/phút mất máu. Angiography ưu thế hơn
tagged RBC scan trong việc xác định nguồn xuất huyết và cho phép điều
trị nhưng ít nhạy cảm hơn trong sự phát hiện mất máu. Nó có thể phát hiện
0,5ml/phút mất máu.
12 / LOÉT DO STRESS (STRESS ULCER)
LÀ GÌ ?
Một loét do stress (stress ulcer) là một mắc xích của một phổ các thương
tổn dạ dày-tá tràng, chỉ thương tổn do tình trạng stress sinh lý nghiêm
trọng. Phổ rộng này bây giờ được gọi là hội chứng viêm chợt dạ dày do
stress (SRES : stress-related erosive syndrome). Trước đây SRES được gọi
là viêm dạ dày do stress (stress gastritis), bệnh niêm mạc do stress (stress-related
mucosal disease), viêm chợt dạ dày (erosive gastritis), và viêm dạ dày
xuất huyết (hemorrhagic gastritis) cũng như loét do stress (stress ulcer).
Những thương tổn này biến thiên từ những vết sướt nông tỏa lan (diffuse
superficial erosions) đến những thương tổn sâu hơn có thể tạo thành những
vết loét thật sự và đôi khi gây thủng. Loét do stress (stress ulcer) đầu
tiên được mô tả bởi Curling nơi những bệnh nhân bị bỏng rộng và bởi Cushing
nơi các bệnh nhân sau khi bị chấn thương nghiêm trọng hệ thần kinh trung
ương. Loét Cushing (Cushing’s ulcer) là một bộ phận đáng lưu ý của SRES
bởi vì chúng luôn luôn được liên kết với sự tiết gia tăng của gastrin
và acid dạ dày.
13/ NHỮNG BỆNH NHÂN NHẬP VIỆN NÀO
CÓ NGUY CƠ BỊ HỘI CHỨNG VIÊM CHỢT DẠ DÀY DO STRESS (SRES) ?
- Độ nghiêm trọng của bệnh cơ bản (khiến bệnh nhân phải vào ICU) càng
lớn thì nguy cơ xuất huyết quan trọng về mặt lâm sàng do stress càng lớn.
Trong một phân tích meta 2252 bệnh nhân, Cook và các cộng sự viên đã nhận
diện sự thông khí cơ học (mechanical ventilation) và bệnh đông máu (coagulopathy)
như là hai yếu tố nguy cơ chính của SRES. Sự hiện diện của những yếu tố
nguy cơ phụ, như hạ huyết áp, sepsis, suy gan, suy thận, bỏng rộng, hay
chấn thương, làm gia tăng một cách tỷ lệ nguy cơ bị SRES quan trọng.
14/ HỘI CHỨNG VIÊM CHỢT DẠ DÀY
DO STRESS (SRES) ĐƯỢC CHẤN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO ?
Không phải tất cả các hội chứng viêm chợt da dày do stress (SRES) đều
rõ ràng về mặt lâm sàng, mặc dầu hầu như tất cả các bệnh nhân được thông
khí cơ học đều phát triển SRES. Các thương tổn có thể im lặng về mặt lâm
sàng, gây chảy máu ẩn (occult bleeding), hoặc gây chảy máu rõ ràng (overt
bleeding). Khoảng 75-100% những bệnh nhân bị bệnh nguy kịch (critically
ill patients) có bằng cớ nội soi những vết chợt (erosions) 12-24 giờ sau
khi khởi đầu bệnh. Chỉ một bộ phận của những vết chợt này là rõ ràng về
mặt lâm sàng. Những thương tổn ẩn (occult lesions) chỉ có thể ứ máu và
gây nên một trắc nghiệm máu ẩn trong phân dương tính. Những thương tổn
khác có thể gây nên một sự giảm chậm nồng độ Hb trong máu. Những thương
tổn rõ ràng (overt lesions) có thể cần truyền máu hay có thể được phát
hiện như bã cà phê (coffee grounds) trong ống thông mũi-dạ dày hay dưới
dạng đại tiện máu đen (melena). Chảy máu ẩn xảy ra nơi trên 25% những
bệnh nhân bị bệnh nguy kịch, trong khi chảy máu rõ ràng xảy ra nơi dưới
10% những bệnh nhân.
15/ MÔ TẢ NHỮNG CƠ CHẾ BỆNH CỦA
HỘI CHỨNG VIÊM CHỢT DẠ DÀY DO STRESS.
Hội chứng viêm chợt da dày do stress (SRES) được gây nên do một sự bất
quân bình của các yếu tấn công và phòng thủ (aggressive and defensive
factors) cổ điển. Những yếu tố tấn công (agressive factors) gồm có acid,
pepsin, vàmật. Bệnh loét do stress (stress ulcer) cổ điển gây nên loét
và xuất huyết tỏa lan của niêm mạc dạ dày của phần gần và đáy (fundus)
dạ dày. Xuất lượng acid cao là yếu tố tấn công làm thương tổn lớp phủ
kế cận. Tuy nhiên thương tổn cổ điển không phải là chuẩn mực. SRES xảy
ra ở hang dạ dày (antrum), tá tràng, và phần xa thực quản. Nó xảy ra trong
bối cảnh xuất lượng acid cao, bình thường hoặc thấp. Sự thừa nhận rằng
xuất lượng acid cao không phải là yếu tố duy nhất chịu trách nhiệm những
thương tổn này nêu bật sự chọc thủng của các yếu tố phòng vệ góp phần
vào sự phát triển của bệnh SRES như thế nào. Những yếu tố phòng vệ như
tính vẹn toàn của niêm mạc, chất đệm niêm dịch kiềm, sự hồi phục biểu
mô dạ dày (sự di tản của các tế bào biểu mô dạ dày đến những vùng niêm
mạc dạ dày bị phá vỡ), và sự sản xuất prostaglandin bảo vệ niêm mạc bị
ảnh hưởng bởi hạ huyết áp, nhiễm trùng, và nhiễm toan toàn thân. Những
yếu tố phòng vệ bị suy giảm một cách đáng kể nơi những bệnh nhân bị bệnh
nặng.
16/ HỘI CHỨNG VIÊM CHỢT DẠ DÀY
DO STRESS (SRES) CÓ THỂ ĐƯỢC PHÒNG NGỪA NHƯ THẾ NÀO ?
Tỷ lệ toàn bộ xuất huyết do SRES đã giảm nhiều từ những năm 1980 do những
cải thiện trong điều trị và hỗ trợ ở ICU (các yếu tố phòng ngự ít bị phá
vỡ hơn) hơn là do sử dụng dự phòng dược lý (giảm những yếu tố tấn công
như acid). Ngay cả như vậy, dự phòng đã được chứng tỏ làm giảm xuất huyết
do SRES, mặc dầu nó không có ảnh hưởng lên tử vong.
Duy trì một pH dạ dày trên 4 đã được chứng tỏ ngăn ngừa SRES. Các chất
kháng toan (antacid), các thuốc kháng thụ thể H2 (H2 receptor antagonists),
và các thuốc kháng bơm proton (proton pump inhibitor) đã được sử dụng.
Sucralfate được cho là tác dụng chủ yếu như một tác nhân bảo vệ tế bào
(cytoprotective agent), mặc dầu sự kích thích vài yếu tố tăng trưởng có
liên hệ trong quá trình lành sẹo của loét có thể là cơ chế tác động thật
sự của nó.
Các chất kháng toan (antacid) là những thuốc đầu tiên chứng tỏ hiệu quả
trong việc làm giảm xuất huyết rõ rệt và có ý nghĩa lâm sàng. Các thuốc
này không được sử dụng thường hơn bởi vì chúng đòi hỏi các liều lượng
thường xuyên và cho bằng ống mũi-dạ dày và có thể gây tăng magnesium huyết
nơi những bệnh nhân với suy thận. Các thuốc kháng thụ thể H2 thật sự làm
gia tăng pH dạ dày > 4 bằng cách phong bế sự kích thích tiết acid dạ
dày qua histamine. Những thuốc này được sử dụng rộng rãi bởi vì có dạng
tiêm tĩnh mạch và bởi vì chúng được chứng tỏ có hiệu quả trong sự phòng
ngừa SRES. Những tác dụng phụ gồm có giảm tiểu cầu, những tác dụng lên
hệ thần kinh trung ương, và
miễn dịch nhanh (tachyphylaxis). Các thuốc kháng bơm proton có hiệu quả
so với placebo. So sánh với các thuốc kháng H2, chúng duy trì có hiệu
quả hơn pH dạ dày trên 4 trong một thời gian 24 giờ. Những thuốc này không
có tác dụng phụ tachyphylaxis của các thuốc kháng thụ thể H2. Thuốc này
có thể cho bằng đường tĩnh mạch.
Sự nuôi ăn bằng đường ruột (enteral nutrition) đang được đánh giá, và
những thử nghiệm quy mô nhỏ đã chứng minh tính hiệu quả trong việc làm
giảm tỷ lệ mắc bệnh SRES.
17/ VIÊM ĐẠI TRÀNG DO THIẾU MÁU
CỤC BỘ (ISCHEMIC COLITIS) LÀ GÌ ?
Viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ (ischemic colitis) bao gồm một phổ
rộng tổn thương đại tràng do lưu lượng máu động mạch vào ruột bị suy giảm.
Phổ thương tổn biến thiên từ bệnh đại tràng có thể hồi phục (xuất huyết
dưới niêm mạc hay trong thành ruột, viêm đại tràng tạm thời) cho đến bệnh
không hồi phục được (viêm loét mãn tính, fulminant universal colitis,
trít hẹp, hoại tử).
18/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA VIÊM
ĐẠI TRÀNG DO THIẾU MÁU CỤC BỘ ?
Những nguyên nhân của viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ có thể được xếp
loại bởi cơ chế sinh bệnh lý của thương tổn. Chúng có thể hoặc là viêm
đại tràng do thiếu máu cục bộ gây tắc (occlusive ischemic colitis) (ví
dụ tắc do điều trị (iatrogenic occlusion) của động mạch mạc treo dưới
(inferior mesenteric artery) trong lúc phẫu thuật động mạch chủ) hoặc
viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ không gây tắc (nonocclusive ischemic
colitis) (ví dụ : giảm lưu lượng máu vào các tạng trong khi bị choáng
hay phẫu thuật bắt cầu tim (cardiac bypass surgery).
Nơi những bệnh nhân trẻ, thiếu máu cục bộ có thể liên quan hơn với (1)
những tình trạng toàn thân như viêm huyết quản (vasculitides) (thí dụ
systemic lupus erythematosus) ; (2) nhiễm trùng (cytomegalovirus, Escherichia
coli 0157 : H7) ; (3) các bệnh đông máu (thí dụ các thiếu hụt protein
C và S, thiếu hụt antithrombin III, đề kháng với protein C hoạt hóa),
(4) những loại thuốc khác nhau (ví dụ thuốc uống ngừa thai) hay các thuốc
ma túy bất hợp pháp (ví dụ cocaine, methamphetamines) ; hay (5) hoạt động
vật lý cật lực và kéo dài (thí dụ chạy đường dài).
19/ NHỮNG BỆNH NHÂN NÀO CÓ NGUY
CƠ BỊ VIÊM ĐẠI TRÀNG DO THIẾU MÁU CỤC BỘ ?
Trong ICU, viên đại tràng do thiếu máu cục bộ có khuynh hướng xảy ra nơi
những bệnh nhân tuổi trung niên hay già với bệnh xơ mỡ động mạch (bệnh
động mạch vành, bệnh động mạch ngoại biên) trong bối cảnh hạ huyết áp,
choáng kết hợp với các thuốc co mạch, hoặc giải phẫu sửa chữa động mạch
chủ mới đây (đặc biệt là sửa chữa phình động mạch). Viêm đại tràng do
thiếu máu cục bộ gây biến chứng cho 7% trường hợp mổ phiên sửa chữa động
mạch chủ và 60% những trường hợp phẫu thuật cấp cứu vì vỡ phình động mạch
chủ bụng. Viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ chịu trách nhiệm khoảng 10%
tử vong sau phẫu thuật tái tạo động mạch chủ (aortic reconstruction).
20/ BỆNH VIÊM ĐẠI TRÀNG DO THIẾU
MÁU CỤC BỘ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO ?
Nhiều tính chất thay đổi và không đặc hiệu. Các bệnh nhân thường đau bụng
quặn ở hố chậu trái, kèm theo sau bởi cảm giác muốn đi cầu. Trong vòng
24 giờ, các bệnh nhân đi cầu ra máu đỏ tươi hay màu maroon, trộn với phân.
Sự xuất huyết thường không đủ để đòi hỏi truyền máu. Bụng thường đè hơi
đau nơi khúc đoạn bị thương tổn, điển hình là ở hố chậu trái. Tùy thuộc
là tác nhân gây thương tổn có tiếp tục tác động hay không, thiếu máu cục
bộ nông (superficial ischemia) có thể lan rộng và gây nên thiếu máu cục
bộ xuyên thành (transmural ischemia). Trong những trường hợp cực kỳ, quá
trình này có thể gây nên sự căng bụng (abdominal distention), hoại thư
và viêm phúc mạc. Bệnh nhân có thể bị sốt và phát triển tăng bạch cầu.
Các phim chụp bụng không sửa soạn có thể cho thấy “dấu in ngón tay cái”
(thumbprinting), chỉ rõ vùng dưới niêm mạc bị phù nề. Một CT Scan bụng
có thể phát hiện một thành ruột già bị dày lên trong vùng bị thương tổn
hay có thể cho thấy trướng khí (pneumatosis) (không khí trong thành ruột
già). Không có xét nghiệm huyết thanh nào giúp chẩn đoán viêm đại tràng
do thiếu máu cục bộ giai đoạn sớm. Nồng độ lactate, LDH, CPK, và amylase
tăng cao trong thương tổn thiếu máu cục bộ tiến triển và nghiêm trọng.
Nhiễm toan cũng là một dấu hiệu muộn và xảy ra trong bối cảnh nhồi máu
ruột. Nội soi đại tràng hay soi đại tràng sigma có thể chẩn đoán xác định
viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ. Thủ thuật phải được thực hiện một
cách thận trọng vì lẽ nguy cơ gây thủng do thổi khí vào hay do áp lực
thành bên trong đại tràng sigma và ở các góc đại tràng (flexures) trong
khi ống nội soi được đưa tiến tới. Nội soi đại tràng bị chống chỉ định
nơi những bệnh nhân với viêm phúc mạc hay với thương tổn xuyên thành quan
trọng của đại tràng.
21/ NHỮNG VÙNG RUỘT GIÀ NÀO CÓ
NGUY CƠ NHẤT BỊ THIẾU MÁU CỤC BỘ GÂY TẮC VÀ KHÔNG GÂY TẮC ?
Phần lớn cung cấp máu đến đường dạ dày-ruột tùy thuộc vào lượng máu chảy
tốt của tuần hoàn bàng hệ giữa celiac artery, động mạch mạc treo trên
(SMA), và động mạch mạc treo dưới (IMA). Các nhánh của SMA cung cấp máu
cho đại tràng phần gần (proximal), và ngang (mid-transverse) bên phải.
Các nhánh của IMA cung cấp vùng từ phần xa của đại tràng ngang đến phần
gần của trực tràng. Góc lách (splenic flexure) tùy thuộc vào tuần hoàn
bàng hệ giữa SMA và IMA, có thể nghèo nàn nơi 10% dân chúng. Trực tràng
hiếm khi bị thiếu máu cục bộ bởi vì tuần hoàn bàng hệ phong phú giữa IMA
và tuần hoàn chậu trong.
Tất cả các vùng của đại tràng có thể bị ảnh hưởng bởi thiếu máu cục bộ,
nhưng vài nguyên nhân của viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ có khuynh
hướng ảnh hưởng thường hơn lên vài khúc đoạn của đại tràng. Thiếu máu
cục bộ không phải do tắc (nonocclusive ischemia), thứ phát một tình trạng
lưu lượng thấp, thường nhất ảnh hưởng đại tràng phải và có can dự trong
68% các trường hợp viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ có liên quan với
hạ huyết áp. Cơ thể học động mạch của đại tràng phải góp phần vào sự gia
tăng nguy cơ này bởi vì một động mạch bờ (marginal artery), được tạo nên
bởi các nhánh của SMA không được phát triển hoàn toàn hay không có nơi
25 đến 75% người ta. Do đó có ít huyết quản tận (end artery) cung cấp
máu cho đại tràng phải hơn. Tình trạng lưu lượng thấp cũng ảnh hưởng lên
những “vùng xôi đậu” (watershed areas) trong góc lách đại tràng hay chỗ
nối trực tràng-sigma do lưu lượng tuần hoàn bàng hệ kém nơi 10% dân số.
Tắc động mạch mạc treo dưới gây thiếu máu cục bộ nơi đại tràng sigma,
vùng xa tuần hoàn bàng hệ nhất.
22/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐẠI TRÀNG
DO THIẾU MÁU CỤC BỘ.
Hầu hết các bệnh nhân với viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ có bệnh từ
mức độ nhẹ đến trung bình, có thể hồi phục được và được liên kết với một
tỷ lệ tử vong thấp. Nếu không có bằng cớ hoại thư hay thủng, điều trị
viên đại tràng do thiếu máu cục bộ không do tắc (nonocclusive ischemic
colitis) chủ yếu là hỗ trợ. Các bệnh nhân với tắc do điều trị (ví dụ sau
phẫu thuật động mạch chủ) có thể cần mổ lại và revascularization. Những
bệnh nhân với bằng cớ thương tổn hay thủng xuyên thành, đòi hỏi mở bụng
cấp cứu (emergent laparotomy). Tỷ lệ tử vong gia tăng nhiều do nhu cầu
ngoại khoa. Tỷ lệ tử vong nơi các bệnh nhân chịu phẫu thuật là khoảng
60%.
23/ KỂ 3 NGUYÊN NHÂN KHÁC GÂY XUẤT
HUYẾT TỪ HƠI Ồ ẠT ĐẾN Ồ ẠT, ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở ICU
Xuất huyết từ rò động mạch chủ-ruột (AEF), các giãn tĩnh mạch, và các
loét có nguy cơ cao (high-risk ulcers).
24/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
CỦA MỘT RÒ ĐỘNG MẠCH CHỦ-RUỘT (AORTOENTERIC FISTULA) ?
Rò động mạch chủ-ruột (AEF : aortoanteric fistula) hiếm xảy ra nhưng có
thể dramatic và catastrophic. AEF được định nghĩa như là một sự thông
thương giữa động mạch chủ bụng và một quai ruột kế cận. Một rò nguyên
phát là do vỡ của một phồng động mạch chủ bụng lớn ra vào trong ruột.
Một rò thứ phát là một biến chứng của phẫu thuật tái tạo động mạch chủ
bụng . Một đoạn mạch nhân tạo (prosthetic graft) bị viêm hay bị nhiễm
khuẩn vỡ vào khúc ruột dính kế cận, thứ phát chuyển động đập thường xuyên
của động mạch chủ. Nó có thể là biến chứng của 1,5% phẫu thuật tái tạo
động mạch chủ. Mặc dầu rò có thể xảy ra giữa động mạch chủ và bất cứ phần
nào của đường tiêu hóa, nhưng 75% các trường hợp xảy ra nơi tá tràng.
Các đoạn thứ ba và thứ tư của tá tràng thường bị thương tổn nhất bởi vì
chúng bắt chéo trực tiếp qua trước động mạch chủ bụng.
Một AEF hiện diện nhiều tháng đến nhiều năm (trung bình 3 năm) sau ngoại
khoa tái tạo động mạch chủ. Bệnh nhân có thể biểu hiện cấp tính với đi
cầu ra máu (melena), mửa ra máu (hematemesis), hay ít thường hơn, Ỉa máu
tươi (hematochezia). Trên 20% các trường hợp có thể có bệnh sử cổ điển
của một “xuất huyết báo trước” (herald bleed), đó là một đợt xuất huyết
nhanh dừng lại một cách ngẫu nhiên trước khi một xuất huyết khac ồ ạt
hơn trong những giờ hay tuần tiếp theo sau. Hoặc bệnh nhân có thể có một
bệnh cảnh lâm sàng mãn tính với xuất huyết từng hồi trong nhiều tuần đến
nhiều tháng. Bệnh nhân có thể báo cáo khó chịu, mất cân, sốt, hay đau.
25/ MỘT RÒ ĐỘNG MẠCH CHỦ-RUỘT (AEF)
ĐƯỢC CHẤN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO ?
Chẩn đoán rò động mạch chủ-ruột (aortoenteric fistula) đòi hỏi một mức
độ nghi ngờ cao về lâm sàng. Soi thực quản-dạ dày-tá tràng (EGD) hữu ích
để loại bỏ những nguyên nhân thông thường hơn của xuất huyết dạ dày-ruột.
Một đánh giá nội soi thường quy đi từ thực quản đến phần hai của tá tràng.
Hầu hết các AEF xảy ra ở các đoạn thứ ba và thứ tư của tá tràng. Do đó,
nếu AEF được nghi ngờ, nội soi phải được thực hiện đến phần thứ tư của
tá tràng. EGD có thể phát hiện những bất thường nơi 50% các trường hợp
nhưng chỉ chẩn đoán xác định nơi khoảng 25% các trường hợp. Một CT scan
bụng có thể hữu ích trong thiết lập chẩn đoán, mặc dầu những dấu hiệu
có thể tinh tế, và một CT bình thường không loại bỏ chẩn đoán. Chụp X
quang mạch máu (angiography) hiếm khi hữu ích bởi vì bản chất chậm và
đoạn hồi của sự xuất huyết. Phẫu thuật là bắt buộc bởi vì AEF không được
điều trị đều đưa đến tử vong. Phẫu thuật nhằm lấy đi mẫu ghép bị nhiễm
trùng, sửa chữa rò động mạch chủ-ruột, và tạo nên một bắt cầu ngoài cơ
thể học để tái phân bố mạch các chi dưới.
26/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT GIÃN
TĨNH MẠCH (VARICEAL BLEEDING)
Các bệnh nhân với xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa có nguy cơ bị xuất
huyết do giãn tĩnh mạch (varices). Xuất hiện giãn tĩnh mạch lần đầu được
liên kết với một tỷ lệ tử vong 30-50%. Các giãn tĩnh mạch (varices) có
thể gây nên một xuất huyết dạ dày-ruột với thể tích lớn bởi vì những áp
lực cao của tĩnh mạch cửa thúc đẩy làm vỡ các giãn tĩnh mạch. Sự cầm máu
kém do giảm tiểu cầu (thrombocytopenia) và bệnh đông máu (coagulopathy)
làm phức tạp vấn đề. Sau khi đã thực hiện những bước điều trị sớm được
mô tả trước đây, những bệnh nhân được nghi có xuất huyết giãn mạch nên
được bắt đầu cho octreotide (Sandostatine) trong khi chờ đợi nội soi.
Một liều lượng tấn công 50 mcg tiêm tĩnh mạch, theo sau bởi một tiêm truyền
50 mcg/giờ. Octreotide tác động bằng cách làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa.
Những bệnh nhân với xuất huyết giãn tĩnh mạch cấp tính, được điều trị
với cả octreotide và nội soi, đã được nhận thấy có tỷ lệ tái xuất huyết
thấp hơn một cách đáng kể so với những bệnh nhân chỉ được điều trị với
nội soi không thôi. Mặc dầu thời gian điều trị tối ưu đã không được xác
định, các nghiên cứu đã sử dụng một tiêm truyền 5 ngày.
Liệu pháp nội soi nhanh chóng với hoặc là thất bằng bằng cao su (band
ligation) hoặc liệu pháp gây xơ cứng (sclerotherapy) là trụ cột của điều
trị. Buộc bằng cao su (band ligation) và tiêm xơ (sclerotherapy) là hai
phương pháp có hiệu quả. Trong một phân tích meta, buộc giãn mạch bằng
băng cao su được nhận thấy hiệu quả hơn trong việc làm giảm tỷ lệ tài
xuất huyết, tỷ lệ tử vong, và tỷ lệ biến chứng so với liệu pháp gây xơ
cứng (sclerotherapy). Những bệnh nhân xuất huyết dai dẳng hay tái xuất
huyết mặc dầu liệu pháp nội soi có thể đòi hỏi TOPS (transjugular intrahepatic
shunting) hay, trong những trường hợp hiếm, ngay cả cần đến phẫu thuật
để làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và kiểm soát sự xuất huyết. Xuất huyết
giãn tĩnh mạch tích cực không đáp ứng với liệu pháp nội soi có thể tạm
thời được kiểm soát bởi balloon tamponade. Thủ thuật này nhằm đặt một
ống Sengstaken-Blakemore hay một ống Minnesota bởi một thầy thuốc chuyên
khoa tiêu hóa cho đến khi TIPS hay phẫu thuật có thể được thực hiện.
27/ NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ LOÉT NÀO
CẦN ĐIỀU TRỊ ICU LIÊN TỤC ?
Soi thực quản-dạ dày-tá tràng (EGD) xếp loại các bệnh nhân thành các nhóm
có nguy cơ tái xuất huyết cao và thấp. Nội soi cũng có thể điều trị các
loét có nguy cơ cao và làm giảm nguy cơ tái xuất huyết. Một vết loét có
đáy sạch có nguy cơ tái xuất huyết thấp nhất và không đòi hỏi liệu pháp
nội soi. Những bệnh nhân có nguy cơ thấp này có thể được cho xuất viện
trong vòng 24 giờ đầu sau khi nhập viện. Những vết loét có nguy cơ cao
được định nghĩa như là những vết loét đang xuất huyết một cách tích cực,
những vết loét không xuất huyết nhưng có một mạch máu có thể nhìn thấy
được, và những vết loét không xuất huyết nhưng có một cục máu đông dính
trên chúng. Nguy cơ tái xuất huyết cao nhất xảy ra trong vòng 72 giờ đầu
sau đợt xuất huyết ban đầu. Ngoại khoa dành cho những vết loét tiếp tục
chảy máu mặc dầu liệu pháp nội soi. Nhưng thương tổn có nguy cơ khác bao
gồm các giãn tĩnh mạch, các vết loét trên 2 cm, và các vết loét nằm ở
đường cong nhỏ của dạ dày hay ở hành sau của tá tràng.
References : Critical Care Secrets.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (6/7/2010)
TAGS: Xuất huyết dạ dầy, Xuất huyết ruột,
Loét tá tràng, Xuất huyết dạ dày, Xuất huyết ruột, Vết xước dạ dày (gastric
erosions), Búi tĩnh mạch thực quản, Vết rách Mallory-Weiss, Viêm thực
quản, Xuất huyết túi cùng (diverticular bleeding), Loạn sản mạch (Angiodysplasia),
Khối u (9%), Viêm đại tràng, Loét do stress (Stress-induced ulcers) dạ
dày, Hạ huyết áp thiếu cục bộ ruột già (Hypotension-induced ischemia of
colon), Tiếp xúc nhiệt (thermal contact methods) (heater probe, electrocoagualtion)
Tiêm chất (epinephrine, nước muối, sclerosing agents), Tagged RBC scan,
Chụp hình mạch (Angiography), Thông khí cơ học (Mechanical ventilation),
Đông máu (Coagulopathy), Chảy máu ẩn (occult bleeding), Kháng thụ thể
H2 (H2 receptor antagonists), Kháng bơm proton (Proton pump inhibitor),
Miễn dịch nhanh (Tachyphylaxis), Nuôi ăn bằng đường ruột (Enteral nutrition),
Viêm đại tràng thiếu máu cục bộ (Ischemic colitis), Viêm đại tràng thiếu
máu cục bộ gây tắc (Occlusive ischemic colitis), Tắc do điều trị (Iatrogenic
occlusion) động mạch mạc treo dưới (Inferior mesenteric artery), Phẫu
thuật bắt cầu tim (Cardiac bypass surgery), Viêm huyết quản (Vasculitides),
Thiếu máu cục bộ nông (Superficial ischemia), Thiếu máu cục bộ xuyên thành
(Transmural ischemia), Mở bụng cấp cứu (Emergent laparotomy), Đi cầu ra
máu (Melena), Mửa ra máu (Hematemesis), Ỉa máu tươi (Hematochezia), Thắt
bằng bằng cao su (Band ligation), Liệu pháp gây xơ cứng (Sclerotherapy),
Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |