 |
CẤP CỨU DẠ DÀY-RUỘT
SỐ 9
Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh
VIÊM TỤY TẠNG CẤP TÍNH (ACUTE
PANCREATITIS)
1/ VIÊM TỤY TẠNG CẤP TÍNH LÀ
GÌ ?
Viêm tụy tạng cấp tính là một tình trạng viêm cấp tính của tụy tạng, được
biểu hiện bởi đau bụng và thường được liên kết với sự tăng cao của các enzyme
tụy tạng trong máu. Quá trình diễn biến lâm sàng thay đổi từ bệnh nhẹ đến
suy nhiều cơ quan (multiorgan failure) và sepsis.Viêm tụy tạng cấp được
phân loại thành hoặc là viêm tụy tạng phù nề (edematous pancreatitis) hoặc
là viêm tụy tạng hoại tử (necrotizing pancreatitis). Viêm tụy tạng phù nề
được đặc trưng bởi sự hiện diện của phù nề mô kẽ của tụy tạng và sự hiện
diện của hoại tử nhẹ mô quanh tụy tạng. Viêm tụy tạng hoại tử được đặc trưng
bởi hoại tử nhu mô lan rộng, những vùng xuất huyết, và hoại tử mỡ lan rộng
quanh và trong tụy tạng.
2/ MÔ TẢ QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA
VIÊM TỤY TẠNG CẤP.
Quá trình diễn biến lâm sàng có thể thay đổi từ bệnh nhẹ với hồi phục hoàn
toàn đến một quá trình khủng khiếp được đặc trưng bởi suy nhiều cơ quan,
sepsis, và tử vong.
3/ NHỮNG TÌNH TRẠNG GÂY VIÊM TỤY
TẠNG CẤP LÀ GÌ ?
Sỏi
túi mật
45%
Rượu
35%
Linh tinh
10%
Không rõ nguyên nhân 10%.
Nói chung, căn nguyên của viêm tụy tạng cấp tính có thể được
phân loại do tắc (obstructive), gây nên bởi độc tố hay thuốc (toxin-or drug-induced),
chấn thương, chuyển hóa, nhiễm khuẩn, mạch máu, hay linh tinh.
4/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN DO TẮC CỦA VIÊM
TỤY TẠNG CẤP ?
Sỏi túi mật (Gallstones)
Túi cùng tá tràng quanh bóng Vater
Khối u bóng Vater hay tụy tạng Thoát
vị ống mật chủ (choledococele)
Giun hay vật
lạ
Cơ vòng Oddi tăng áp
Pancreas divisum
5/
NHỮNG CHẤT ĐỘC VÀ THUỐC ĐƯỢC BIẾT LÀ GÂY VIÊM TỤY TẠNG ?
Các chất độc gồm có ethyl alcohol, methyl alcohol, thuốc trừ sâu organophosphoré,
và nọc độc bò cạp. Hơn 80 loại thuốc khác nhau đã được báo cáo là gây
viêm tụy cấp. Nhiều thuốc thường dùng, gồm có acetaminophen, angiotensin-converting
enzyme inhibitors, ergotomine, furosemide, tetracycline, aminosalicylic,
corticosteroids, procainamide, thiazides, cimetidine, metronidazole, và
ranitidine được biết là gây nên viêm tụy tạng. Những thuốc với tỷ lệ viêm
tụy tạng cao nhất gồm có azathioprine và mercaptopurine (3-5%); didanosine
(lên đến 23%); và pentamidine (4-22%).
6/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHẤN THƯƠNG
CỦA VIÊM TỤY TẠNG ?
Chấn thương đụng dập (blunt trauma) với vỡ hệ các ống dẫn (ductal system)
có thể đưa đến viêm tụy tạng cấp tính. Chấn thương tụy tạng do trị liệu
(iatrogenic trauma), do chụp đường mật-tụy ngược dòng (ERCP ; endosopic
retrograde cholangiopancreatography), cắt cơ thắt bằng nội soi (endoscopic
sphincterotomy), và đo áp (manometry) của cơ vòng Oddi cũng có thể dẫn
đến viêm tụy tạng.
7/ NHỮNG TÌNH TRẠNG CHUYỂN HÓA
NÀO CÓ THỂ GÂY NÊN VIÊM TỤY TẠNG CẤP TÍNH ?
Tăng triglixerit-huyết (hypertriglyceridemia) (đặc biệt là hyperlipoproteinemia
loại V) với những nồng độ trên 1000 /dl làm tăng nguy cơ viêm tụy tạng.
Tăng canxi-huyết (hypercalcemia) đã được ghi nhận liên kết với viêm tụy
tạng trong những trường hợp hiếm hoi ; thường tăng canxi-huyết được liên
kết với tăng cường cận giáp (hyperparathyroidism).
8/ NHỮNG TÌNH TRẠNG KHÁC CÓ LIÊN
HỆ VÀO TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIÊM TỤY TẠNG
Các ký sinh trùng như ascaris và clonorchiasis và các nhiễm trùng virus
như quai bị, rubella, viêm gan, Epstein-Barr virus, và HIV đã được quy
như là những yếu tố căn nguyên đối với viêm tụy tạng. Các nguyên nhân
vi khuẩn của viêm tụy tạng gồm có các loại Mycoplasma, Campylobacter jejuni,
Mycobacterium tuberculosis, Mycobacterium avium, các loại Legionella,
và leptospirosis. Những nguyên nhân khác của viêm tụy tạng cấp tính gồm
có loét dạ dày-tá tràng xuyên thấu (penetrating peptic ulcers), bệnh Crohn,
hội chứng Reye, cystic fibrosis, periarteritis nodosa, lupus, và cao huyết
áp ác tính. Mặc dầu nhiều yếu tố căn nguyên được biết đối với viêm tụy
tạng cấp tính, gần 1% của tất cả các trường hợp được gọi là không rõ nguyên
nhân (idiopathic).
9/ MÔ TẢ SINH LÝ BỆNH LÝ CỦA VIÊM
TỤY TẠNG CẤP.
Vì có nhiều yếu tố nguyên nhân, nên quá trình có thể được khởi phát bởi
vài yếu tố khác nhau. Đường chung là sự hoạt hóa sớm của các hạt zymogen
với sự khởi đầu của chuỗi sau :
Sự thiếu máu cục bộ của cơ quan có vẻ biến hóa viêm phù nhẹ tụy tạng thành
những dạng xuất huyết hay hoại tử của bệnh. Sự đọng mỡ gia tăng nơi vùng
quanh tụy tạng làm dễ sự hoại tử lan rộng hơn ; chứng béo phì là yếu tố
nguy cơ quan trọng đối với viêm tụy tạng nặng. Mô hoại tử của tụy tạng
trở nên bị nhiễm trùng thứ phát trong 40 đến 60% các trường hợp.
10 / NHỮNG BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA
VIÊM TỤY TẠNG CẤP ?
Các bệnh nhân với viêm tụy tạng cấp trong trường hợp điển hình có triệu
chứng đau vùng thượng vị (midepigastric pain). Cơn đau thường xuyên và
như khoan (boring) với hướng lan ra sau lưng và được liên kết với nôn
và mửa. Trong viêm tụy tạng thể nặng, hạ huyết áp và những dấu hiệu lâm
sàng của choáng có thể hiện diện, do mất dịch và các chất trung gian của
phản ứng viêm luu hành trong máu.
11/ DẤU HIỆU GRAY-TURNER LÀ GÌ
?
Dấu hiệu Gray-Turner là sự đổi màu vùng thắt lưng, liên kết với viêm tụy
tạng xuất huyết (hemorrhagic pancreatitis).
12/ DẤU HIỆU CULLEN LÀ GÌ ?
Dấu hiệu Cullen để chỉ sự đổi màu quanh rốn, có thể hiện diện trong viêm
tụy tạng xuất huyết.
13/ NHƯNG XÉT NGHIỆM NÀO GIÚP CHẨN
ĐOÁN ?
Amylase-huyết là chất chỉ dấu thường được sử dụng nhất đối với viêm tụy
tạng cấp. Sự mô tả đầu tiên về định lượng amylase trong viêm tụy tạng
cấp đã được công bố vào năm 1929. Trong 24 giờ đầu, một nồng độ amylase
gia tăng có một độ nhạy cảm 81-84%. Vào ngày thứ hai, độ nhạy cảm của
amylase trụt xuống 33%. Mức độ đặc hiệu của một nồng độ amylase tăng cao
là thấp, bởi vì nó cũng được gây nên bởi thủng loét dạ dày-tá tràng, nhồi
máu ruột, chấn thương tuyến nước bọt, suy thận, và macroamylasemia. Lipase-huyết
đặc hiệu hơn amylase và có độ nhạy cảm 85%-100% ; sau 4 ngày nó vẫn cao
nơi 90% các bệnh nhân. Những báo cáo mới đây gợi ý rằng lipase là xét
nghiệm chính xác hơn trong viêm tụy tạng cấp tính. Lấy máu để đếm bạch
cầu, glucose, LDH, AST, Htc, calcium, triglycerides, thiếu hụt bazơ (base
deficit), và khí huyết động mạch có thể giúp xác định mức độ nghiêm trọng
và tiên lượng của các bệnh nhân với bất cứ dạng viêm tụy tạng nào ngoại
trừ những thể nhẹ nhất.
14/ NHỮNG THĂM DÒ X QUANG VÀ HÌNH
ẢNH NÀO LÀ HỮU ÍCH ?
Các kỹ thuật chụp hình ảnh là chủ yếu trong việc xác định chẩn đoán và
cung cấp các đầu mối để tìm nguyên nhân của viêm tụy tạng cấp tính.
- Chụp phim không sửa soạn bụng và ngực nên được thực hiện để loại trừ
những bệnh lý khác như thủng cơ quan rỗng hay một nhồi máu ruột, có thể
bắt chước triệu chứng của viêm tụy tạng.
- Siêu âm vẫn rất là hữu ích (mức độ nhạy cảm 67%, mức độ đặc hiệu 100%)
trong sự đánh giá đường mật nhưng không hữu ích trong sự phát hiện các
biến chứng của viêm tụy tạng cấp tính. Siêu âm có khả năng bị hạn chế
trong sự nhìn thấy tụy tạng trong 48 giờ đầu bởi vì chứng liệt ruột cơ
năng (paralytic ileus) được liên kết.
- Spiral contrast-enhanced computed tomography (CT) là phương pháp được
lựa chọn hiện nay để mô tả tụy tạng cũng như để xác định mức độ nghiêm
trọng và nhiều trong số các biến chứng của viêm tụy tạng. CT có ích để
hướng dẫn percutaneous therapy.
- Chụp cọng hưởng từ (MRI) : cũng như CT scan, MRI có thể mô tả sự hiện
diện và mức độ lan rộng của hoại tử và các tụ dịch quanh tụy tạng. MRI
đòi hỏi tiêm gadolinium (Gd) để phát hiện hoại tử. Sự kiện Gd không gây
độc so với các chất cản quang iodinized, được đòi hỏi lúc làm CT scan,
làm tăng sự ưa thích MRI nơi vài bệnh nhân. CT scan giữ ưu điểm phí tổn
thấp hơn, dễ tiếp cận hơn, và khả năng thực hiện những thủ thuật can thiệp.
15/ NHỮNG PHUƠNG PHÁP NÀO ĐỂ ĐÁNH
GIÁ MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG VÀ TIÊN LƯỢNG CỦA VIÊM TỤY TẠNG CẤP TÍNH.
Bệnh sử tự nhiên của viêm tụy tạng cấp tính thay đổi từ quá trình nhẹ
tự giới hạn đến một bệnh tối cấp, nhanh chóng gây tử vong. Do đó, việc
nhận diện sớm mức độ nghiêm trọng của bệnh là quan trọng để cho phép thực
hiện thích đáng monitoring và những biện pháp điều trị xâm nhập. Vài hệ
tiêu chuẩn lâm sàng đã được phát triển, bao gồm các tiêu chuẩn Ranson,
các tiêu chuẩn Glasgow, và hệ APACHE II. Các dấu hiệu CT Scan cũng đã
được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng và đã được đặt tương quan
với tỷ lệ tử vong và các tần số biến chứng. Các tiêu chuẩn Ranson và chỉ
số mức độ nghiêm trọng CT được sử dụng thường nhất và được tóm tắc dưới
đây :
Các tiêu chuẩn Ranson
CT severity index
16/ NHỮNG LIỆU PHÁP NỘI KHOA NÀO
ĐỂ ĐIỀU TRỊ VIÊM TỤY TẠNG CẤP ? NHỮNG LIỆU PHÁP NÀO CÓ HIỆU QUẢ ? NHỮNG
LIỆU PHÁP NÀO KHÔNG ?
Mục đích của liệu pháp nội khoa sau đây :
1. Giới hạn mức độ nghiêm trọng của các chất tiết tụy tạng.
Người ta đã mặc nhận rằng việc ức chế của sự tiết dịch tụy cải thiện tiến
triển của bệnh viêm tụy tạng. Việc hút dạ dày qua ống thông mũi (nasogastric
suction) đã được nhận thấy trong những thử nghiệm lâm sàng mới đây là
không có hiệu quả, mặc dầu sự hút mũi-dạ dày này có thể có ích nơi một
số bệnh nhân với mửa và chướng bụng. Sự bắt đầu ăn lại sớm bằng đường
miệng có thể làm tái hoạt hóa viêm tụy tạng ; do đó, việc cho ăn bằng
đường miệng nên đình chỉ cho đến khi đau, sốt, và tăng bạch cầu tan biến.
Sự ức chế của sự tiết dịch tụy bằng các thuốc kháng cholin (anticholinergic)
hay somatostatin đã không cho thấy lợi ích đáng kể trong những thử nghiệm
lâm sàng. Vài tác nhân, gồm có apoprotein, soybean trypsin inhibitor,
camostat, fresh frozen plasma, đã được nghiên cứu như là các chất ức chế
các enzyme tụy tạng mà không có lợi ích rõ ràng.
2. Cải thiện
các biến chứng bằng cách làm gián đoạn sự sinh bệnh. Nhiễm trùng vi khuẩn
thứ phát xảy ra nơi 40-60% các bệnh nhân phát triển mô hoại tử tụy tạng.
Do đó, theo truyền thống, kháng sinh đã được khuyến nghị để điều trị viêm
tụy tạng cấp tính, mặc dầu những công trình nghiên cứu sử dụng kháng sinh
để ngăn ngừa các biến chứng nhiễm trùng là thưa thớt. Tuy nhiên, vài thử
nghiệm đã bắt đầu xuất hiện và bằng cớ gợi ý rằng liệu pháp kháng sinh
sớm (imipenem và cilastin) làm giảm nhu cầu phẫu thuật và tổng số các
biến chứng cơ quan quan trọng trong viêm tụy tạng hoại tử cấp tính. Chú
ý sát tình trạng giảm thể tích và phòng ngừa sự thiếu máu cục bộ đối với
tụy tạng có thể giúp ngăn ngừa viêm tụy tạng nhẹ trở thành nặng hơn.
3. Hỗ trợ bệnh nhân và điều trị các biến chứng khi chúng
xuất hiện.
Hiện nay, những biện pháp quan trọng nhất trong
điều trị viêm tụy tạng là điều trị hỗ trợ (supportive) và triệu chứng.
Bởi vì viêm tụy tạng thường được liên kết với những sự chuyển dịch to
lớn, nên monitoring và điều trị thay thế thích đáng dịch trong mạch máu
là điều chủ yếu. Một catheter tĩnh mạch trung tâm và một catheter niệu
đạo nên được thiết đặt ; nếu bệnh nhân có bệnh tim mạch, một catheter
động mạch phổi có thể cần để điều trị được thích đáng. Hầu hết các bệnh
nhân có thể được hồi sức với crystalloid, nhưng có thể cần đến colloid
hay máu. Giảm kali-huyết thường xảy ra, và thường cần điều trị thay thế
potassium. Giảm canxi-huyết và magie-huyết cũng có thể xảy ra và đòi hỏi
điều trị thay thế. Bởi vì suy hô hấp là một tính chất thường xảy ra của
viêm tụy tạng cấp tính, nên cần thực hiện nhiều lần khí huyết động mạch
và nội thông khí quản sớm với thông khí áp suất dương tính cuối kỳ thở
ra (positive end-expiratory pressure ventilation), nếu có chỉ định. Sự
kiệt dinh dưỡng (nutrition depletion) là rất thông thường trong viêm tụy
tạng cấp tính, và hỗ trợ dinh dưỡng dưới dạng dinh dưỡng toàn bộ bằng
đường ngoài ruột (total parenteral nutrition) nên được sử dụng đối với
những bệnh nhân với viêm tụy tạng nghiêm trọng. Đau gây nên bởi viêm tụy
tạng có thể nghiêm trọng, và narcotics cho bằng đuờng tĩnh mạch có thể
cần đến. Nghẽn mạch phổi là một biến chứng muộn có thể xảy ra nơi những
bệnh nhân với viêm tụy tạng, do đó điều quan trọng là phải monitoring
các nồng độ fibrinogen và các tiểu cầu. Nếu một tình trạng tăng đông máu
(hypercoagulable state) được chứng tỏ, nên cho heparin.
17/ KHI NÀO THÌ PHẪU THUẬT ĐƯỢC
CHỈ ĐỊNH TRONG ĐIỀU TRỊ CỦA VIÊM TỤY TẠNG CẤP ?
Mục đích của phẫu thuật trong điều trị viêm tụy tạng cấp
như sau :
1. Giúp chẩn đoán. Khi khả năng của bệnh cấp tính ngoài
tụy tạng đe dọa mạng sống không thể loại trừ được bằng những phương tiện
khác, nội soi chẩn đoán có thể cần thiết.
2. Hạn chế quá trình viêm tụy tạng. Can thiệp ngoại khoa
được chỉ định một cách rõ ràng trong giai đoạn sớm của viêm tụy tạng cấp
tính nếu viêm túi mật hay viêm đường mật (cholangitis) hiện diện hay không
thể loại trừ.
3. Giới hạn sự sinh các biến chứng. Rửa xoang phúc mạc
bằng các catheter, được đưa vào bằng ngoại khoa, thường được liên kết
với sự cải thiện rõ rệt chức năng tim mạch, thận, và hô hấp. Hiệu quả
của rửa xoang bụng có thể được quy cho sự loại bỏ các chất độc trong xoang
phúc mạc. Tỷ lệ bị nhiễm trùng quanh tụy tạng trong giai đoạn muộn không
có vẻ được giảm bớt với rửa bụng, và tỷ lệ tử vong toàn bộ không thay
đổi.
4. Hỗ trợ bệnh nhân và điều trị các biến chứng. Sự thiết
đặt bằng phẫu thuật một mở hỗng tràng dinh dưỡng (feeding jejunostomy)
có thể làm đơn giản hóa rất nhiều sự hỗ trợ dinh dưỡng. Khi nhiễm trùng
hay áp xe tụy tạng được xác nhận bằng chọc hút (needle aspiration) hay
rất được nghi ngờ, cắt lọc ngoại khoa nên được thực hiện. Các phương thức
ngoại khoa gồm có cắt lọc triệt căn (radical debridement) và dẫn lưu với
tưới rửa (tỷ lệ tử vong bệnh viện 14%), hay blunt debridement với packing
lòng tụy tạng và cắt lọc lại khi thay băng (tỷ lệ tử vong 15%). Những
bệnh nhân như thế thường đau nặng và cần điều trị hỗ trợ cật lực.
18/ NANG GIẢ TỤY LÀ GÌ ?
Nang giả tụy (pancreatic pseudocyst) là các tụ dịch có
vỏ bọc (encapsulated collections) với những nồng độ enzyme cao phát xuất
từ tụy tạng. Các thành của nang giả tụy được tạo thành bởi quá trình xơ
hóa viêm (inflammatory fibrosis) của các phúc mạc, mạc treo và thanh dịch.
Thuật ngữ nang giả để chỉ sự vắng mặt của một lớp biểu mô. Các nang giả
tụy phát triển nơi khoảng 2% các trường hợp viêm tụy tạng cấp tính. Các
nang giả tụy là đơn độc trong 85% các trường hợp và nhiều nang trong 15%
còn lại.
19/ CÁC NANG GIẢ TỤY ĐƯỢC ĐIỀU
TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Các nang giả tụy không có triệu chứng không đòi hỏi một
điều trị đặc hiệu. 25 đến 50% các nang giả tụy sau viêm tụy tạng cấp biến
đi một cách ngẫu nhiên. Những dữ kiện mới đây dựa trên hai công trình
nghiên cứu gợi ý rằng các nang giả tụy với bất cứ kích thước nào, nếu
không có triệu chứng, thì không cần phải điều trị. Những nang giả tụy
có triệu chứng (symptomatic pseudocysts) được đặc trưng bởi đau, sốt,
mất cân, ấn chẩn đau, và một khối u có thể sờ thấy. Các u giả tụy có triệu
chứng có thể được điều trị bằng ngoại khoa (thường nhất).
20/ VAI TRÒ CỦA ERCP SỚM VÀ PAPILLOTOMY
TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TỤY TẠNG MẬT CẤP TÍNH ?
Cách nay 15 năm hầu hết các nhà nội soi nghĩ rằng chụp đường mật-tụy ngược
dòng (ERCP) bị chống chỉ định trong giai đoạn cấp tính của viêm tụy tạng.
Vào năm 1988 một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Neoptolemos
và các cộng sự đã nhận thấy rằng ERCP thực hiện sớm với giảm áp đường
mật và loại bỏ sỏi làm giảm tỷ lệ bệnh tật nhưng không làm giảm tỷ lệ
tử vong nơi các bệnh nhân già, trong những bệnh nhân này viêm tụy tạng
thể nặng được dự kiến phát triển. Căn cứ trên những công trình nghiên
cứu, Barkun đã đưa ra những lời khuyến nghị căn cứ trên chứng cớ sau đây
:
1. ERCP sớm (trong vòng 24-72 giờ sau khi khởi đầu các triệu chứng và
nhập viện) là an toàn nơi những bệnh nhân với một đợt nghiêm trọng viêm
tụy tạng mật cấp tính (acute biliary pancreatitis). Khuyến nghị Class
B căn cứ trên bằng cớ mức độ 1.
2. ERCP sớm (và xẻ cơ vòng Oddi (sphincterotomy) khi sỏi
đường mật được nhận thấy) đưa đến giảm sepsis đường mật trong số những
bệnh nhân với nghi viêm tụy tạng mật, đặc biệt là những bệnh nhân với
cơn kịch phát nghiêm trọng được đoán trước. Sự giảm sepsis đường mật đưa
đến cải thiện tiên lượng nơi nhóm những bệnh nhân này. Khuyến nghị Class
A (bằng cớ tốt để ủng hộ thủ thuật) căn cứ trên bằng cớ mức độ 1.
3. ERCP sớm (và xẻ cơ vòng Oddi khi sỏi ống mất chủ được nhận thấy) đưa
đến tăng tỷ lệ biến chứng nơi những bệnh nhân với viêm tụy tạng mật cấp
tính và một cơn kịch phát nghiêm trọng được đoán trước. Khuyến nghị Class
A căn cứ trên bằng cớ mức độ 1.
4. Hiện nay, ERCP sớm không nên được thực hiện nơi những
bệnh nhân với cơn nhẹ viêm tụy tạng cấp với nghi ngờ nguyên nhân do mật.
Khuyến nghị Class D (bằng cớ thủ thuật không nên được sử dụng) căn cứ
trên bằng cớ mức độ 1.
References : Critical Care Secrets.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội Thương và Cấp Cứu
(29/7/2010)
TAGS: Viêm tụy tạng cấp tính, Rượu, Sỏi
túi mật (Gallstones), Túi cùng tá tràng, Khối u bóng Vater hay tụy tạng,Thoát
vị ống mật chủ (Choledococele), Cơ vòng Oddi tăng áp, Giun hay vật lạ,
Pancreas divisum, Ethyl alcohol, Methyl alcohol, Thuốc trừ sâu organophosphoré,
Nọc độc bò cạp, Acetaminophen, Angiotensin-converting enzyme inhibitors,
Ergotomine, Furosemide, Tetracycline, Aminosalicylic, Corticosteroids,
Procainamide, Thiazides, Cimetidine, Metronidazole, Ranitidine, Azathioprine,
Mercaptopurine; Didanosine, Pentamidine, Chấn thương đụng dập (blunt trauma),
Chấn thương tụy tạng, Trị liệu (iatrogenic trauma), ERCP (endosopic retrograde
cholangiopancreatography), Nội soi (endoscopic sphincterotomy), Đo áp
(manometry) Oddi, Cao mỡ trong máu (hypertriglyceridemia), hyperlipoproteinemia
loại V, Tăng chất vôi trong máu (hypercalcemia), Tăng cường phó giáp trạng
(hyperparathyroidism), Ascaris, Clonorchiasis, siêu vi trùng quai bị,
Rubella, Viêm gan, Epstein-Barr virus, HIV, Triệu chứng Gray-Turner, Triệu
chứng Cullen, Mycoplasma, Campylobacter jejuni, Mycobacterium tuberculosis,
Mycobacterium avium, Legionella, Leptospirosis, Loét dạ dày-tá tràng xuyên
thấu (penetrating peptic ulcers), bệnh Crohn, hội chứng Reye, cystic fibrosis,
periarteritis nodosa, lupus, Cao huyết áp ác tính, Hút dạ dày qua ống
thông mũi (nasogastric suction), Kháng sinh, Phẫu thuật, Nang giả tụy
(pancreatic pseudocyst), xơ hóa viêm (inflammatory fibrosis), Nguyen
Van Thinh
>>>back>>>
|
 |