 |
CẤP
CỨU NỘI THẦN KINH SỐ 8
(Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh)
CƠN ĐỘNG KINH (CRISES D’EPILEPSIE)
JEAN-LOUIS VINCENT, Chef
du Service de soins intensifs, Hôpital Erasme, Bruxelles.
Cơn động kinh được liên kết với một sự phóng điện giống giao
cảm (décharge sympathomimétique) với cao huyết áp, tim nhịp nhanh và một
sự gia tăng lưu lượng tim, toát mồ hôi và chảy nhiều nước bọt và sự gia
tăng các dịch tiết phế quản. Những
nguyên nhân chính của cơn động kinh.
Bệnh não chuyển hóa : giảm glucose-huyết, giảm natri-huyết
Các thương tổn thiếu oxy-mo (lésions postanoxiques)
Bất thường cấu trúc : chấn thương, tai biến mạch máu não, khối u…
Nhiễm trùng của hệ thần kinh trung ương : viêm màng não, viêm não, áp xe
não
Cai thuốc hay cai rượu.
Ngộ độc thuốc hay rượu.
Viêm động mạch do viêm (lupus érythémateux). CÁC
BIẾN CHỨNG CHÍNH CỦA CÁC CƠN ĐỘNG KINH
- Hít dịch dạ dày.
- Phù phổi do nguyên nhân thần kinh (oedème pulmonaire neurogénique)
- Thiếu máu cục bộ cơ tim và loạn nhịp tim ; ngừng tim.
- Tiêu cơ vân (rhabdomyolyse) với nguy cơ suy thận cấp tính.
- Sốt Để xác định nguồn gốc của cơn động kinh,
một mô tả lâm sàng có thể rất hữu ích. Một điểm khởi đầu khu trú có thể
giúp nhận diện một thương tốn não bộ. CT Scan não thường được chỉ định để
nhận diện một nguồn gây động kinh khả dĩ. Nếu không có nguy cơ tụt kẹt,
chọc dò tủy sống có thể hữu ích để loại bỏ một quá trình nhiễm khuẩn. Một
thăm dò NMR cũng có thể hữu ích trong trường hợp viêm não.
Những xét nghiệm cần được thực hiện (nhất là nếu động kinh không được biết)
:
- xét nghiệm huyết học, glucose-huyết (Dextristix cấp cứu), urée, créatinine,
điện giải đồ, calcium và magnésium ionisés; khí huyết và lactate;
- CT Scan : tùy theo kết quả, xét chọc dò tủy sống và khám NMR.
- Tùy trường hợp, đo nồng độ các chất độc : alcool, tricycliques, cocaine,
anti-histamines, aminophylline và isoniazide là những chất thường có liên
hệ.
- Đo nồng độ các thuốc chống động kinh (nếu bệnh nhân đã được điều trị trước
đây). TRẠNG
THÁI ĐỘNG KINH (ETAT DE MAL EPILEPIQUE)
Trạng thái động kinh (Status epilepticus) hay cơn động kinh liên tục (état
de mal épileptique) được định nghĩa như là một hoạt động co giật kéo dài,
hoặc dưới dạng cơn kéo dài (>5 phút), hoặc dưới dạng các cơn nối tiếp
nhau, mà bệnh nhân không tỉnh lại giữa các cơn (một loạt các cơn động kinh
nhưng bệnh nhân tỉnh lại giữa các cơn, không tương ứng với định nghĩa cơn
động kinh liên tục). Cơn động kinh liên tục cũng có thể là biểu hiện đầu
tiên của bệnh động kinh.
Cơn động kinh liên tục không phải luôn luôn luôn liên kết với các cơn co
giật thấy rõ (cơn động kinh liên tục không điển hình, mal épileptique larvé).
Cơn động kinh liên tục cũng có thể bị che khuất bởi một điều trị an thần
hoặc thuốc thư giãn cơ (myorelaxant). Điện não đồ là xét nghiệm lựa chọn
để nhận biết cơn động kinh. Điện não đồ có thể vẫn bị xáo trộn sau cơn động
kinh.
Cơn động kinh liên tục là một cấp cứu nội khoa, có tỷ lệ bệnh và tử vong
quan trọng. Các thương tổn thường trực của não bộ có thể xuất hiện khi cơn
vượt quá 20 đến 30 phút. Các vùng limbique (hải mã : hippocampe) đặc biệt
nhạy cảm. Tỷ lệ tử vong từ 20 đến 25% nơi người trưởng thành, tùy theo thời
gian kéo dài của các cơn động kinh và tùy theo bệnh lý bên dưới.
THÁI ĐỘ XỬ TRÍ
CÁC NGUYÊN TẮC CHÍNH
- điều trị phải tiến hành nhanh chóng vì 2 lý do : một cơn động kinh kéo
dài đưa đến những thương tổn thần kinh nghiêm trọng hơn và khó điều trị
hơn.
- Tốt hơn là thuốc phải được cho bằng đường tĩnh mạch.
- điều trị có thể cần đến thông khí cơ học (ventilation mécanique)
Về hồi sức cơ bản, trước hết cần bảo về các đường dẫn khí, bằng cách đặt
bệnh nhân nằm nghiên để tránh hít dịch dạ dày (tư thế an toàn: position
de sécurité). Mặc dầu có những thời kỳ ngừng thở và xanh tía, nói chung
những biến chứng hô hấp hạn chế nếu các đường dẫn khi được bảo vệ. Nên cho
oxy liệu pháp hào phóng. Sự sử dụng một oxymètre pulsé là rất hữu ích để
nhận diện sớm mọi tình trang giảm oxy-huyết. Nếu nội thông khí quản tỏ ra
cần thiết, có thể cần phải nhờ đến một thuốc làm liệt cơ (paralysant musculaire)
có thời gian tác dụng ngắn (như vécuronium 1mg/10kg), để có thể theo dõi
thăm khám thần kinh. Một ống thông dạ dày có thể cần thiết để làm giảm nguy
cơ hít dịch dạ dày.
Ta cho vitamine B (100mg) trong trường hợp nghiện rượu được xác định hay
nghi ngờ hay suy dinh dưỡng ; cho magnésium (1-2g) phải được xét đến, nhất
là nơi người nghiện rượu và suy dinh dưỡng.
Ta cho 50mL dung dịch glucose 50% trong trường hợp hạ glucose-huyết hay
Na uu trường trong trường hợp hạ natri-huyết.
Một điều trị chồng cao áp phải được thực hiện cấp cứu nếu cơn động kinh
xuất hiện trong bối cảnh của một bệnh não cao áp (encéphalopathie hypertensive)
hay một sản giật (éclampsie). Trong những trường hợp khác, cao huyết áp
đi kém theo cơn động kinh không được điều trị bởi vì nó thường có tính cách
tạm thời và sự điều chỉnh có thể làm giảm áp suất tưới máu não.
Toan chuyển hóa lactic có thể nghiêm trọng, nhưng nó có thể tự điều chỉnh
nhanh chóng và không cần phải điều trị ; việc tiêm truyền bicarbonate chỉ
được chỉ định trong trường hợp đặc biệt.
Về điều trị nhiễm trùng, những viêm màng não-não không phải là những nguyên
nhân đầu tiên của các cơn động kinh, sự chẩn đoán chúng phải được thực hiện
nhanh chóng. Chẩn đoán đôi khi khó, vì lẽ sốt và tăng bạch cầu là quy tắc
trong mỗi cơn động kinh. Ngoài ra, nước não tủy có thể chứa một số tế bào
nào đó.
Xếp loại Child-Pugh
| Loại viêm màng não |
Bạch cầu
(/mm3)
|
Protéine-nước não tủy |
Glucose-nước não tủy |
| Vi khuẩn |
Nhiều trăm đến > 50.000
Nổi trội bạch cầu đa nhân trung tính
|
> 100 |
5-4% glucose- huyết |
| Lao |
25-100 (hiếm khi hơn) Nổi trội các tế bào lympho
(các bạch cầu đa nhân trung tính có thể nổi trội lúc ban đầu).
|
100-200
(đôi khi hơn)
|
Giảm |
| Cryptococcose |
0-800 (biến thiên)
Nổi trội các tế bào lympho
|
20-500 (biến thiên) |
Nói chung giảm |
| Virus |
5 đến nhiều trăm. Nổi trội các tế bào lympho (các
bạch cầu đa nhân trung tính có thể nổi trội lúc ban đầu).
|
20-100 (đôi khi hơn trong những trường hợp nặng) |
Bình thường (đôi khi hạ trong CMV, herpes simplex,
bệnh quai bị) |
| Ung thư |
Biến thiên |
Thường rất cao |
Thường thấp |
ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH
BẰNG THUỐC.
Tốt hơn là thuốc phải được cho bằng đường tĩnh mạch.
CÁC BENZODIAZEPINES là cần thiết để
làm ngưng cơn động kinh, nếu cơn kéo dài (trên 5 phút).
- Lorazépam (Témesta, ampoules 4mg//ml ) là thuốc được ưa thích vì thời
gian tác dụng trên não bộ kéo dài (2 đến 3 giờ). Liều lượng là 2mg, được
lập lại nếu cần, với một liều lượng tổng cộng lên đến 8mg, bằng đường tĩnh
mạch.
- Diazépam (Valium, ampoules 10mg/2ml ), với liều lượng từ 5 đến 15mg bằng
đường tĩnh mạch, dễ hòa tan trong mỡ hơn, đi vào nhanh chóng trong não bộ,
nhưng nhanh chóng bị tái phân bố, vì vậy thời gian tác dụng trên não bộ
không quá 20 đến 30 phút. Nếu không có đường tĩnh mạch (nhất là ở trẻ em),
có thể cho dung dịch tiêm tĩnh mạch diazépam bằng đường trực tràng với liều
lượng 0,5 mg/kg (nhưng không vượt quá 20 mg).
CÁC THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH CHÍNH ĐƯỢC
SỬ DỤNG DÀI HẠN
| Thuốc |
Liều lượng mỗi ngày
(mg)
|
Thời gian bán phân hủy |
Nồng độ trị liệu
(mcg/ml)
|
Những tác dụng phụ |
Diphényl
hydantoine |
300- 500 |
20 giờ |
10-20 |
Phì đại lợi răng, rậm lông, mụn, biến đổi các xét
nghiệm gan |
| Phénobarbital |
100-200 |
100 giờ |
100 giờ |
An thần, chóng mặt, nôn, trầm cảm |
| Valproate |
1000-3000 |
15-20 giờ |
15-20 giờ |
Rối loạn tiêu hóa, các trắc nghiệm gan bị biến đổi,
run rẩy, giảm tiểu cầu |
| Carbamazépine |
800-1600 |
12-20 giờ |
12-20 giờ |
Ngủ gà, rối loạn thị giác, giảm bạch cầu, các trắc
nghiệm gan bị biến đổi |
- Midazolam (Dormicum, ampoules 5mg/5ml) là một thuốc lựa
chọn thứ hai bởi vì ít được nghiên cứu trong chỉ định này, và lợi ích của
việc tiêm truyền liên tục không chắc chắn.
Trong trường hợp không có đường tĩnh mạch (chủ yếu đó là vấn để nơi trẻ
em), ta có thể cho bằng đường trực tràng dung dịch tĩnh mạch diazéapm (Valium),
với liều lượng 0,5mg/kg (tuy nhiên không vượt quá 20mg).
DIPHENYLHYDANTOINE (DPH)
- Phénytoine hay diphénylhydantoine (Diphantoine amp 250 mg/ 5ml)
- là thuốc chống động kinh đầu tiên được cho để làm ngưng hẳn cơn động kinh
và để ngăn ngừa tái phát.
- DPH chỉ có thể cho bằng đường tĩnh mạch qua một cathéter tĩnh mạch trung
ương bởi vì thuốc có tính chất kích thích ; chích mông không những gây đau
đớn mà còn có thể đưa đến hoại tử mô.
- liều lượng là 15 đến 20 mg/kg (1 đến 1,5g nơi người trưởng thành). Ở trẻ
em dưới 18 tháng, liều lượng là 100 mg trong vài phút ; ở trẻ em trên 18
tháng, liều lượng là 250mg trong 5 phút.
- phải tiêm chậm (50mg/phút, trong 20 đến 30 phút ở người trưởng thành)
để tránh hạ huyết áp (giảm áp cơ tim) và những rồi loạn nhịp tim.
- DPH phải được trộn với một dung dịch muối (nguy cơ kết tủa trong dung
dịch glucose ) và cho bằng đường tĩnh mạch trung tâm vì lẽ chất thuốc có
tính chất kích thích.
- các tác dụng của DPH bắt đầu tương đối chậm, vì vậy trước hết phải cho
lorazépam hoặc diazépam để làm ngưng cơn động kinh. Nồng độ DPH vẫn có tác
dụng điều trị trong gần 24 giờ.
- DPH chỉ kiểm soát được từ 60 đến 80% các cơn động kinh.Trong trường hợp
các cơn dai dẳng có thể truyền bổ sung 5-10 mg/kg.
- Trong truong hop cac con keo dài, ta co the them valproate voi lieu luong
20mg/kg.
PHENOBARBITAL
Phénobarbital phải được thêm vào trong trường hợp cơn động kinh kéo dài
hoặc tái diễn, với liều lượng khởi đầu 200mg, gia tăng dần dần cho đến một
liều lượng cực đại 20 mg/kg. Thuốc phải được tiêm thận trọng và chậm (60
đến 100mg/phút ) vì lẽ nguy cơ hạ huyết áp do giảm áp cơ tim và giảm trương
lực huyết quản. Cấm tiêm mông bởi vì sự hấp thụ rất chậm. Các nồng độ trị
liệu là 15-40 mcg/mL.
GÂY MÊ
- Gây mê liên tục trong 12-24 giờ có thể cần thiết trong trường hợp không
đáp ứng với DPH và phénobarbital.
- Tạo hôn mê barbiturique (coma barbiturique) bằng cách truyền liên tục
pentobarbital hay thiopental (như trong điều trị cao áp lực nội sọ nghiêm
trọng).
- Thiopental được tiêm tĩnh mạch trực tiếp với liều lượng 5mg/kg rồi sau
đó truyền 3-5 mg/kg/giờ, nếu cần gia tăng đến 5-6mg/kg/giờ. Nồng độ trị
liệu là 20-40 mcg/mL.
CÁC CÁCH KHÁC :
- Midazolam : tiêm tĩnh mạch trực tiếp 10-15 mg rồi sau đó truyền 3-50 mg/giờ.
- Propofol (Diprivan) : tiêm tĩnh mạch trực tiếp 1-2 mg/kg rồi sau đó truyền
2-10mg/kg/giờ.
-Valproate : vị trí của valproate trong điều trị cấp cứu mal épileptique
không được xác định rõ, vì vậy tốt hơn nên tránh sử dụng.
- Cho các thuốc gây mê bằng đường hít (isoflurane) đã được đề nghị, nhưng
lợi ích không chắc chắn.
- Cần ghi chú rằng các thuốc thư giãn cơ (myorelaxant) ngăn cản những cử
động co giật và do đó làm che lấp các cơn động kinh nhưng không điều trị
chúng. Các thuốc này không được sử dụng (trừ trường hợp sử dụng tạm thời
để thực hiện một điện não đồ không bị quấy nhiễu).
ĐIỀU TRỊ PHÒNG NGỪA CÁC CƠN.
CÁC CHỈ ĐỊNH CHÍNH :
- các đụng dập sau chấn thương : điều trị một tuần ;
- phẫu thuật ngoại thần kinh : thời gian điều trị không được xác định rõ
(thường từ 1 đến 3 tháng).
- xuất huyết dưới màng nhện.
LA DIPHENYLHYDANTOINE :
- là điều trị mà tính hiệu quả được xác lập hơn hết.
- liều tấn công là 15-20 mg/kg như trong điều trị.
- liều duy trì : 5mg/kg/ngày (400mg/ngày) với một liều duy nhất (2 liều/ngày
ở trẻ em) ; cần thích ứng tùy theo nồng độ trong máu ; duy trì nồng độ từ
10 đến 20 mcg/ml.
LA VALPROATE (DEPAKINE)
- tính hiệu quả không được chứng tỏ lắm như đối với diphenylhydantoine.
- ưu thế là dung nạp tốt lúc chích, có thể được thực hiện nhờ một catheter
ngoại biên.
- liều lượng tấn công là 20mg/kg (10mg/kg nơi trẻ em) trong 3-5 phút, rồi
truyền sau đó 1mg/kg/giờ.
- những nồng độ cần duy trì trong máu là 50-100 mcg/mL.
- nguy cơ chính là sự phát sinh tăng ammoniac-huyết (hyperammoniémie), nguyên
nhân của bệnh não (encéphalopathie).
LE LEVETIRACETAM (KEPPRA) :
- thuốc mới càng ngày càng được sử dụng.
- liều lượng khởi đầu là 500mg 2 lần mỗi ngày, cần gia tăng sau 2-3 tuần,
lên đến 1500mg 2 lần mỗi ngày.
- các liều lượng phải được giảm trong trường hợp suy thận.
LA CARBAMAZEPINE (TEGRETOL)
- có thể là một điều trị bổ sung hay trong trường hợp các cơn động kinh
bán phần (crises partielles).
Reference : Le Manuel de Réanimation, Soins Intensifs et
Médecine d’Urgence. Edition 2009. Jean-Louis Vincent.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/5/2010)
TAGS: Cơn động kinh, Giảm natri-huyết, Giảm glucose-huyết,
Thiếu oxy-mô, Chấn thương, tai biến mạch máu não, Khối u, Nhiễm trùng
hệ thần kinh trung ương, Cai thuốc, Cai rượu, Ngộ độc thuốc hay rượu,Viêm
động mạch do viêm, Hít dịch dạ dày, Phù phổi do nguyên nhân thần kinh
(oedème pulmonaire neurogénique), Thiếu máu cục bộ cơ tim, Loạn nhịp tim,
Ngừng tim, Tiêu cơ vân (rhabdomyolyse), Suy thận cấp tính, Sốt, Benzodiaxepines,
Diphenylhydantoine, Phénobarbital, Valproate, Carbamazépine, Nguyen
van Thinh
>>>back>>>
|
 |