 |
CHỈNH HÌNH
NHI ĐỒNG (PEDIATRIC
ORTHOPEDICS)
Bác
sĩ Nguyễn văn Thịnh
1/
GÃY XƯƠNG TẠO HÌNH (PLASTIC FRACTURE) LÀ GÌ ?
Gãy xương tạo hình (plastic fracture) xảy ra đó tính dễ uốn
(malleability) của xương trong thời kỳ thơ ấu. Xương trẻ em đáp ứng với
các lực ép và ngang (compressive and transverse force) bằng những biến dạng
tạo hình (plastic deformation). Với một lực có cường độ nhỏ, xương có thể
hơi uốn cong và sau đó trở lại trạng thái bình thường của nó. Nếu lực quá
mức, xương có thể vượt quá khả năng đàn hồi trở lại hoàn toàn và bị biến
dạng. Tùy thuộc vào mức độ của lực và lực tác dụng như thế nào, một trong
3 gãy xương tạo hình có thể xảy ra.
2/ KỂ BA LOẠI GÃY XƯƠNG TẠO HÌNH
? - Buckle hay torus fracture
(gãy bánh bơ, fracture en motte de beurre) - Greenslick
fracrure (gãy cành xanh, fracture en bois vert) -
Gãy uốn cong (bowing or bending fracture, fracture en incurvation)
3/ GÃY BÁNH BƠ (TORUS HAY BUCKLE
FRACTURE) NGHĨA LÀ GÌ ? - Loại
gãy xương này điển hình được thấy ở hành xương (metaphysis) của xương quay
nhưng không chỉ giới hạn vào xương này. Torus có nghĩa là một sưng tròn
hay chỗ nhô lên (protuberance). Ở trẻ em, xương vỏ xương và hành xương bị
oằn do đè ép (buckling), trong khi vỏ xương đối diện vẫn nguyên vẹn. Vùng
xương bị oằn do đè ép này tạo nên một chỗ nhô lên (torus). Bởi vì, vỏ đối
diện vẫn nguyên vẹn, những gãy xương này ổn định và cần đặt nẹp (splint)
hay bó bột trong 4 tuần lễ.
- Gãy bánh bơ (buckle fracture hay fracture en “ motte de beurre ”) có những
dấu hiệu lâm sàng và X quang thường rất kín đáo, thường xảy ra nơi trẻ em.
Những gãy xương như thế hiếm khi bị xê dịch hoặc bi gập góc và được chẩn
đoán trên những biến đổi rất kín đáo, một bên, của vỏ xương. Điều trị, khi
một xương bị gãy thường là điều trị triệu chứng và hỗ trợ.
4/ GÃY CÀNH XANH (GREENSTICK FRACTURE)
LÀ GÌ ? - Xương của trẻ có tính
đàn hồi gia tăng. Một lực làm gập góc (angular force) tác động lên một xương
dài của một đứa bé gây nên gãy cành xanh (greenstick fracture). Một vỏ xương
không đủ căng, trong khi vỏ xương đối diện gãy trong đè ép. Gãy xương này
tương tự với gãy xảy ra khi chúng ta cố bẻ gãy một cành cây xanh. Loại gãy
xương này thường xảy ra ở xương quay và xương trụ. Cần nắn những gãy xương
này, và gãy xương phải hoàn toàn để đạt được sự nắn đầy đủ. Cần bất động
bằng bó bột trong 6 tuần lễ.
5/ TẠI SAO NẮN GÃY UỐN CONG LÀ QUAN
TRỌNG ? Gãy uốn cong (bowing fracture,
fracture en incurvation) không kèm theo thương tổn cốt mạc (periosteum)
và do đó không được kích thích để tu sửa lại. Điều này có thể dẫn đến sự
gập góc thường trực của xương, có thể có những hậu quả có hại lên biên độ
cử động và chức năng bình thường .
6/ XẾP LOẠI SALTER-HARRIS LÀ GÌ,
VÀ Ý NGHĨA LÂM SÀNG ? Một phương
pháp xếp loại các chấn thương đầu xương (epiphyseal injuries). Những gãy
đầu xương (epiphysis) có thể đưa đến rối loạn tăng trưởng, và bố mẹ phải
được thông báo về khả năng này. Vào khoảng 80% những chấn thương này là
Salter-Harris loại I và II, cả hai có tỷ lệ biến chứng thấp. Những thương
tổn Salter-Harris loại III, IV, và V có một tiên lượng thay đổi hơn. Những
gãy xương xê dịch Salter-Harris loại III và IV có thể cần nắn mổ (open reduction)
để phục hồi tương quan bình thường của đầu xương và mặt khớp.
XẾP LOẠI SALTER-HARRIS
| Loại I |
Gãy kéo dài qua sụn tiếp hợp đầu xương
(epiphyseal plate), làm xê dịch đầu xương (điều này chỉ có thể xuất
hiện bằng sự tăng bề rộng của vùng không cản quang, đó là sụn tiếp
hợp tăng trưong (growth plate) |
| Loại II |
Cũng như trên, nhưng thêm vào gãy một mẫu xương hình
tam giác ở vùng hành xương (métaphysis) |
| Loại III |
Đường gãy chạy từ bề mặt khớp qua sụn tiếp hợp đầu
xương (epiphyseal plate) và đầu xương (epiphysis) |
| Loại IV |
Đường gãy xương cũng xảy ra trong loại III nhưng
cũng đi qua hành xương kế cận |
| Loại V |
Đây là chấn thương đụng dập của đầu xương, có thể
xác định bang thăm khám X quang |
7/ MÔ TẢ NHỮNG BIẾN
CHỨNG MẠCH MÁU LIÊN KẾT VỚI GÃY TRÊN LỐI CẦU Ở TRẺ EM ?
Những gãy lệch trên lồi cầu cánh tay (displaced supracondylar
fracture) ở trẻ em có một tỷ lệ gây biến chứng mạch máu 5%. Trong trường
hợp điển hình, động mạch cánh tay (brachial artery) bị đè ép hay bị xé rách
bởi thân xuong cánh tay bị lệch về phía trước. Sự lệch sau ngoài (posterior
lateral displacement) của gãy trên lồi cầu là kiểu gãy xương thường có khả
năng đưa đến thương tổn mạch máu nhất. Đứa trẻ với bàn tay còn sức sống
và không có mạch phải được nhanh chóng nắn và cố định gãy xương trong phòng
mổ, rồi được đánh giá lại tình trạng huyết quản sau thủ thuật. Nơi bệnh
nhân không có mạch và bàn tay devascularized, nên thực hiện kéo dọc theo
trục và đặt nẹp ở phòng cấp cứu nhằm tái tạo lưu lượng máu ở phần xa của
chi. Cần hội chẩn nhanh chóng với thầy thuốc chỉnh hình và ngoại khoa mạch
máu.
8/ MÔ TẢ NHỮNG BIẾN CHỨNG THẦN KINH
LIÊN KẾT VỚI GÃY TRÊN LỐI CẦU CÁNH TAY TRẺ EM.
Dây thần kinh gian cốt trước (anterior interosseous nerve
(nhánh của dây thần kinh giữa) là dây thần kinh thông thường nhất bị thuơng
tổn. Dây thần kinh này phân bố thần kinh ngăn sau của cẳng tay. Ngăn này
gồm có cơ gấp sâu ngón trỏ (flexor digitorum profundus to thế index), cơ
sấp tròn (pronator quadratus, carré pronateur), và cơ gấp dài ngón cái (flexor
pollicis longus). Dây thần kinh có thể được kiểm tra bằng cách đánh giá
chức năng của cơ gấp dài ngôn cái ở khớp gian đốt ngón (interphalangeal
joint) của ngón cái. Phải thực hiện một thăm khám vật lý kỹ lưỡng để nhận
diện những thương tổn này, một công việc khó khăn nơi trẻ nhỏ.
9/KHUỶU TAY CỦA CÔ GIỮ TRẺ (NURSEMAID’S
ELBOW) LÀ GÌ? XỬ TRÍ?
Kéo dọc trên cánh tay duỗi thẳng của một đứa bé 1 đến 5 tuổi
có thể dẫn đến bán trật của dây chằng vòng (annular ligament) lên đầu sụn
của xương quay. Trong trường hợp điển hình, đứa bé có chi bị thương tổn
bị bại liệt giả (pseudoparalysis). Các phim X quang âm tính đối với gãy
hoặc sai khớp đầu xương quay. Nắn đồng thời làm ngửa cẳng tay và gập khuỷu
tay. Một tiếng click phân biệt trên đầu xương quay có nghĩa là đã nắn thành
công. Đứa trẻ thường bắt đầu sử dụng chi trong vòng vài phút sau khi được
nắn. Bố mẹ và người giữ trẻ nên được chỉ dẫn tránh kéo dọc trên cánh tay
để ngăn ngừa điều này xảy ra trong tương lai.
10/ MỘT GÃY XƯƠNG CÁNH TAY HAY XƯƠNG
ĐÙI NƠI MỘT TRẺ NHỎ HÀM Ý ĐIỀU GÌ ?
Nơi một trẻ chưa đi đứng được bị những gãy xương này, nên
nghi ngờ cao ngược đãi trẻ em. Một biến cố không có nhân chứng hay một bệnh
sử không tương ứng với các thương tổn là một dấu hiệu có khả năng khác của
ngược đãi trẻ em.
11/ WADDELL’ S TRIAD
LÀ GÌ ?
Bộ ba thương tổn nơi một trẻ bị xe đụng :
1. Gãy xương đùi
2. Chấn thương ngực
3. Chấn thương đầu.
12/ NHỮNG RỒI LOẠN KHÔNG DO CHẤN
THƯƠNG VÙNG HÁNG KHIẾN TRẺ ĐI KHẬP KHIỂNG ?
Viêm khớp nhiễm khuẩn (septic arthritis), viêm màng hoạt
dịch tạm thời (transient synovitis) (tuổi từ 2 đến 12), hoại tử vô mạch
không rõ nguyên nhân (idiopathic avascular necrosis) (con trai, tuổi từ
5 đến 9), trợt đầu trên xương đùi (SCFE : slipped capital femoral epiphysis
hay épiphysiolyse de la hanche) (con trai, tuổi từ 10 đến 16), Perthes’
disease, và viêm khớp dạng thấp thiếu niên (juvenil rhumatoid arthritis)
; tất cả những bệnh này là hiếm xảy ra. Viêm màng hoạt dịch tạm thời (transient
synovitis) có lẽ là nguyên nhân thông thường nhất của tật đi khập khiểng
nơi trẻ em nhưng đó là một chẩn đoán loại trừ. Điều trị triệu chứng viêm
màng hoạt dịch tạm thời gồm có thuốc kháng viêm không phải steroid (AINS),
đi nạng không tỳ (non-weight bearing) và nghỉ ngơi. Không điều trị hoặc
điều trị muộn viêm khớp nhiễm khuẩn có thể dẫn đến những di chứng không
thể hồi phục và tai họa do thương tổn và biến dạng thường trực sụn khớp.
Nhiễm trùng nơi một đứa bé với đau háng không do chấn thương phải được loại
trừ một cách thuyết phục. Đếm bạch cầu, tốc độ lắng máu, và nhiệt độ thân
thể thường cao trong những trường hợp nhiễm trùng. Nếu còn nghi ngờ, tiêu
chuẩn vàng là hút dịch khớp háng, thường được thực hiện trong phòng mổ.
Các phim X quang tư thế trước sau và bên phân biệt bệnh Perthes’ disease
và trợt đầu trên xương đùi (slipped capital femoral epiphysis : SCFE).
13/ NHỮNG DẤU HIỆU X QUANG SỚM CỦA
BỆNH TRỢT ĐẦU TRÊN XƯƠNG ĐÙI (SCFE) LÀ GÌ ?
Bất cứ sự bất đối xứng nào của sự tương quan giữa đầu xương
đùi với cổ xương đùi nên được nghi ngờ trợt đầu trên xương đùi (SCFE), mặc
dầu rõ ràng chỉ trên một tư thế phim chụp. Nếu các tư thế phim chụp trước-sau
và bên bình thường, tư thế cẳng ếch (fog-leg view) nên được thực hiện. So
sánh hai háng có thể không hữu ích trong sự phân biệt những thay đổi tinh
tế bởi vì trợt đầu trên xương đùi xảy ra hai bên trong 20% các trường hợp.
14/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ Ở PHÒNG CẤP CỨU
NƠI MỘT EM BÉ BỊ CHẤN THƯƠNG VÀ ĐAU KHI SỜ MỘT ĐẦU XƯƠNG HỞ NHƯNG CHỤP X
QUANG BÌNH THƯỜNG ?
Tốt nhất là giả định rằng đứa bé đã bị một gãy của sụn tiếp
hợp (physis) không thể xác định được (Salter loại I hay V). Hãy bất động
khớp trong một nẹp máng sau (posterior splint) và đi nạng không tỳ nếu chi
dưới bị chấn thương. Các bệnh nhân nên được thông báo về khả năng của loại
chấn thương này và tiềm năng bị rối loạn tăng trưởng. Sự cần thiết được
theo dõi nhanh phải được nhấn mạnh và phải được sắp xếp trước khi đứa trẻ
ra khỏi phòng cấp cứu. Một gãy sụn tiếp hợp không bị lệch trở thành bị lệch
vì không được bất động có thể có những hậu quả đáng kể lâu dài. Bất động
trong thời gian ngắn trong một nẹp được đặt một cách thích hợp hay bó bột
được dung nạp tốt. Nếu có nghi ngờ, hãy bất động.
References :
- Emergency Medicine Secrets
- Pediatric Emergency Medicine Secrets
- Trauma Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội
Thương và Cấp Cứu
(10/8/2010)
TAGS: Chỉnh hình nhi đồng (Pediatric orthopedics),
Gãy xương tạo hình (Plastic fracture), Buckle hay torus fracture (gãy
bánh bơ, fracture en motte de beurre), Greenslick fracrure (gãy cành xanh,
fracture en bois vert), Gãy uốn cong (bowing or bending fracture, fracture
en incurvation)), Thương tổn cốt mạc (periosteum), Gãy lệch trên lồi cầu
cánh tay (displaced supracondylar fracture), Gãy xương đùi, Viêm khớp
nhiễm khuẩn (septic arthritis), Viêm màng hoạt dịch tạm thời (transient
synovitis), Hoại tử vô mạch không rõ nguyên nhân (idiopathic avascular
necrosis), Trợt đầu trên xương đùi (SCFE : slipped capital femoral epiphysis
hay épiphysiolyse de la hanche), Perthes’ disease, Viêm khớp dạng thấp
thiếu niên (juvenil rhumatoid arthritis), Viêm màng hoạt dịch tạm thời
(transient synovitis), Salter loại I hay V, Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |