 |
CẤP
CỨU NHI KHOA SỐ 6
(Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh)
BỎNG VÀ HÍT KHÓI Ở TRẺ EM
(BURNS AND SMOKE INHALATION IN CHILDREN)
1/
CÁC CHỨC NĂNG NÀO CỦA DA BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI BỎNG ?
• Kiểm soát nhiệt độ
• Bảo vệ chống nhiễm trùng
• Đau đớn và cảm giác
• Nội hằng định thể dịch (fluid homeostasis)
2/ XẾP LOẠI
CÁC ĐỘ SÂU CỦA BỎNG ?
Độ sâu của vết thương bỏng Lớp bị thương tổn Dấu hiệu lâm sàng
Độ một
Biểu bì
Đỏ da
Độ hai, một phần bề dày
Bì
Phỏng nước
Độ ba, toàn bộ bề dày
Mô dưới da
Xanh hay cháy thành than,
không cảm giác
Độ bốn
Cân, cơ, hay xuơng Mất mô
-
Bỏng độ một (First-degree burns) chỉ ảnh hưởng lớp biểu bì (epidermis).
Da đỏ (erythematous) nhưng không có phỏng nước (blisters).
• Bỏng độ hai (Second-degree burns) hay bỏng một phần bề dày (partial-thichkness
burns) : ảnh hưởng lớp bì (dermis) với những mức độ thay đổi. Các phần
phụ của bì luôn luôn được bảo tồn và là nguồn để tái sinh. Bỏng độ hai
được đặc trưng bởi sự hiện diện của phù nề rõ rệt, đỏ da (erythema), phỏng
nước (blistering), và nước rịn từ vết bỏng.
• Bỏng độ ba (Third-degree burns) là bỏng toàn bộ bề dày (full-thickness
burns). Bì và các phần phụ của bì bị phá hủy. Da màu trăng trắng hay như
da thuộc (leathery).
• Bỏng độ bốn (Fourth-degree burns) lan rộng xuống các mô sâu hơn, như
cơ, cân mạc, dây thần kinh, dây gân, mạch máu, và xương.
3/ NHỮNG NGUỒN GÂY BỎNG THÔNG THƯỜNG
NƠI TRẺ EM ?
• Nguyên nhân gây bỏng nơi trẻ em thay đổi tùy theo khung cảnh trong đó
chúng được đánh giá và tuổi của đứa trẻ. Bỏng được điều trị ở phòng cấp
cứu khác với bỏng đòi hỏi nhập viện. Bỏng do tiếp xúc và do nước sôi chịu
trách nhiệm một tỷ lệ bỏng được điều trị ngoại trú cao hơn. Bỏng do nước
sôi (scald burns) chủ yếu nơi các trẻ em nhỏ, trong khi bỏng do lửa chịu
trách nhiệm phần lớn những nhập viện nơi các trẻ em lớn tuổi hơn.
Bỏng nơi trẻ em được
nhập viện (%)
Bỏng được điều
trị ở phòng cấp cứu (%)
Ngọn lửa 36
Tiếp xúc
43,1
Nước sôi
35
Nước sôi
33,9
Nhúng
14
Ngọn lửa
11
Hóa học
3,5
Điếu thuốc
5,5
Điện
1,5
Điện
2,8
Tiếp xúc
9
Cháy nhà
0,9
Khác
2,7
-
Bỏng do nhiệt là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của tử vong nơi trẻ em
ở Hoa Kỳ. Bỏng do nước sôi là cơ chế thông thường nhất của bỏng do nhiệt
nơi trẻ em. Bỏng loại này thường xảy ra khi trẻ dưới 3 tuổi cố vói làm
đỗ nước nóng trong các bình chứa trên bếp lò hay trên quầy hàng. Bỏng
do nước sôi trong bồn tắm (bathtub scalds) là một cơ chế thông thường
khác. Điều này có thể được ngăn ngừa bằng cách điều chỉnh nhiệt độ nước
nóng dưới 120 độ F. Sự tiếp xúc của quần áo với ngọn lửa có thể làm bốc
cháy đồ vải. Nguyên nhân gây tử vong hơn cả của bỏng nơi trẻ em là cháy
nhà, chịu trách nhiệm 45% những trường hợp tử vong có liên quan với bỏng.
Hít khói và hít các khí độc khác cũng góp phần vào tỷ lệ bệnh tật và tử
vong của cháy nhà.
4/ TẠI SAO VIỆC PHỎNG VẤN CÁC NHÂN
VIÊN XE CỨU THƯƠNG ĐẾN VỚI NẠN NHÂN HỎA HOẠN LÀ QUAN TRỌNG ?
Các nhân viên xe cứu thương có thể trả lời các câu hỏi có thể ảnh hưởng
lên điều trị và tiên lượng. Sau đây là những câu hỏi quan trọng cần được
đặt ra :
• Hỏa hoạn xảy ra trong một vùng hở hay đóng kín : một ngộ độc CO phải
được nghi ngờ trong trường hợp hỏa hoạn nơi một môi trường kín, nhất là
nếu có một biến đổi tri giác.
• Đứa trẻ được tìm thấy ở đâu ?
• Thời gian tiếp xúc với khói là bao lâu ?
• Đứa trẻ có bị bất tỉnh không ?
• Vận chuyển mất bao lâu ?
- Thời gian vận chuyển mất bao lâu ?
• Điều trị nào đã được thực hiện ?
• Có nghi chấn thương hay các thương tổn kèm theo không ?
• Các vật liệu nào hiện diện nơi hỏa hoạn ?
• Việc tiếp xúc thêm khói độc có phải là một mối quan tâm ?
5/ NHỮNG DẤU HIỆU VẬT LÝ NÀO ĐƯỢC
LIÊN KẾT VỚI CÁC NẠN NHÂN HỎA HOẠN ?
PHỔI
THẦN KINH TRUNG ƯƠNG
DA
Tim đập
nhanh
Lú lẫn
Lông mũi cháy xém
Tiếng
thở rít
Chóng mặt
Bỏng
Tiếng
khò khè
Đau đầu
Màu
đỏ anh đào
Tiếng
ran
Ảo giác
Xanh tía
Sự
rút vào
Hôn mê
Ho
Không yên
Đờm
có cacbon Co
giật
Khàn
giọng
Mũi
lòe ra
6/ KỂ NHỮNG PHUƠNG PHÁP THƯỜNG
ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ DIỆN TÍCH CƠ THỂ BỊ BỎNG NƠI TRẺ EM ?
• Sự phân bố diện tích bỏng (BSA : body surface area) khác nhau ở người
lớn và trẻ em. Quy tắc chuẩn các số 9 (rules of nines) được dùng ở người
lớn không chính xác như thế ở trẻ em.Trẻ nhỏ có một tỷ lệ diện tích cơ
thể lớn hơn ở đầu và nhỏ hơn ở các chi. Nagel và Schunk đã chứng minh
rằng diện tích toàn thể của lòng bàn tay đứa trẻ (gồm các các ngón tay)
là khoảng 1% diện tích cơ thể. – Ở trẻ em diện tích da bị bỏng không nên
được đánh giá bởi “ quy tắc số 9 ” của Wallace vì lẽ diện tích đầu của
trẻ em quan trọng hơn. Diện tích da bỏng phải được đánh giá từ bàn tay
của bệnh nhân, tương đương 1% diện tích của cơ thể, và từ các bảng Lund
và Browder, có tính đến sự tăng trưởng khác nhau của đầu và các khúc đoạn
khác của cơ thể.
7/ ĐIỀU TRỊ SƠ KHỞI CÁC BỎNG
QUAN TRỌNG Ở MỘT TRẺ NHỎ ?
• xử lý và ổn định đường hô hấp, sự thở và tuần hoàn
• lấy đi bất cứ vật nóng hoặc gây bỏng còn lại
• đặt đường truyền dịch và bắt đầu hồi sức dịch, nếu cần, đối với vài
bỏng nặng.
• cho thuốc giảm đau : phải nên nhớ rằng các vết bỏng thường vô cùng đau
đớn. Một khi đã ổn định về mặt huyết động, hãy xét đến việc cho thuốc
giảm đau có cường độ mạnh như morphine, 0,1 đến 0,2 mg/kg, tiêm tĩnh mạch.
Liều lượng này có thể lập lại mỗi 15 phút nếu cần, vừa theo dõi nhịp hô
hấp, độ bảo hoà oxy, huyết áp và trạng thái tinh thần. Có thể dùng Proparacétamol,
15-20 mg/kg (tiêm tĩnh mạch chậm) hay Nalbuphine, 0,2 mg/kg (tiêm tĩnh
mạch). Nếu trẻ dẫy dụa, có thể an thần với midazolam (Dormicum), 100 mcg/kg
tiêm tĩnh mạch hoặc 200 mcg/kg bằng đường trực tràng.
• theo dõi và duy trì nhiệt độ trung tâm
• đánh giá diện tích và độ sâu của bỏng
• tưới bằng nước muối ấm và vô trùng
• lấy đi một cách nhẹ nhàng bằng băng vô trùng mô hoại tử
• thực hiện cắt bỏ các mảng mô hoại tử (escharotomies), nếu cần, đối với
bỏng viên chu độ 3 (full-thickness circumferential burns)
• đắp trụ sinh dùng tại chỗ lên các bỏng độ hai (partial-thickness burns)
• phủ vùng bỏng với khăn vô trùng
• cho thuốc phòng ngừa uốn ván, nếu cần.
8/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ DỊCH NƠI MỘT
TRẺ BỊ BỎNG NẶNG ?
Truyền dịch khởi đầu gồm dung dịch lactated Ringer hay muối đẳng trương,
nếu cần, để điều trị sốc. Lượng dịch truyền thay thế trong giai đoạn đầu
được ước tính bằng một trong hai công thức sau đây : Theo Parkland formula
thì 4ml/ kg / % diện tích bỏng có thể nên được cho trong 24 giờ đầu. Một
nửa được cho trong 8 giờ đầu và ½ được cho trong 16 giờ kế tiếp. Các nhu
cầu duy trì nên được thêm vào ở trẻ dưới 5 năm. Công
thức Carvajal khuyên cho 5000 ml /m2/ % diện tích bỏng cơ thể.
½ được cho trong 8 giờ đầu và ½ còn lại được cho trong 16 giờ tiếp theo.
Dịch duy trì 2000 ml/m2/ngày được thêm vào tổng số lượng dịch truyền.
Cần nên nhớ rằng các tính toán dịch bỏng chỉ cho một ước tính nhu cầu
dịch. Cần cho lượng dịch đầy đủ để duy trì lưu lượng nước tiểu từ 1 đến
1,5 mL/kg/ giờ. Các bệnh nhân bị sốc cần được hồi sức dịch tích cực
9/ CÁC CHỈ ĐỊNH ĐỂ ĐIỀU TRỊ TẠI
TRUNG TÂM BỎNG VÙNG (REGIONAL BURN CENTER) ?
• các bỏng kèm theo thương tổn đường hô hấp hay chấn thương quan trọng
• các bỏng quan trọng do chất hóa học hoặc do điện
• các bỏng độ 2 với diện tích trên 20% diện tích cơ thể
• các bỏng độ 3 với diện tích trên 2%
• các bỏng độ 3 nơi mắt, các bàn tay, bàn chân, hay vùng hội âm.
- các bỏng ở bàn tay, bàn chân, và vùng đáy chậu phải luôn luôn được xem
là nghiêm trọng, và tất cả các bỏng quan trọng ở những vùng này khởi đầu
nên được điều trị ở bệnh viện, tốt hơn là ở một trung tâm chuyên điều
trị bỏng.
10/ MÔ TẢ NHỮNG HÌNH THỨC BỎNG
THƯỜNG LIÊN KẾT VỚI NGƯỢC ĐÃI TRẺ EM ?
Cố ý gây bỏng cho trẻ em là một hình thức thông thường của ngược đãi trẻ
em. Mọi vết thương bỏng nơi trẻ em phải được đánh giá để tìm khả năng
ngược đãi hay bỏ bê trẻ em.
• Donut burn. Thuật ngữ mô tả vùng trung tâm của mông không bị bỏng vì
được giữ tiếp xúc với sàn bồn tắm (mát hơn).Vùng ngoại biên chung quanh
của mông tiếp xúc với nước nóng và bị bỏng nặng hơn.
• Bỏng do nhúng vào nước sôi (immersion burns). Dạng bỏng này xảy ra khi
các chi được nhúng vào trong một chất dịch nóng. Bỏng được phân bố dưới
dạng khăn tay-và-bít tất (glove-and-stocking distribution), có bờ rõ nét,
độ sâu của bỏng đồng đều.
• Bỏng do tiếp xúc ở lòng bàn tay. Khi trẻ với tay để lấy những vật nóng
và nắm chúng trong lòng bàn tay.
• Vết hằn tương ứng với một vật, như thuốc lá hay bàn ủi, được dí vào
da.
Ngoài ra, những bỏng không tương ứng với bệnh sử hay bị gây nên ngoài
khả năng phát triển của đứa bé, đáng được điều tra thêm.
11/ CÁC CHỈ ĐỊNH ĐẶT ỐNG THÔNG
NỘI KHÍ QUẢN CỦA MỘT NẠN NHÂN HỎA HOẠN ?
• Tiếng thở rít (stridor) phát khởi sớm. Sự hiện diện của tiếng thở rít
(stridor) hay giọng nói khàn gợi ý rằng thương tổn đường hô hấp trên đang
tiến triển. Phù thanh quản chỉ đạt cao điểm 12 đến 72 giờ sau khi tiếp
xúc với khói. Đối với nguyên nhân này, thông nội khí quản thường cần một
ống thông với đường kính bên trong nhỏ hơn so với ống thông chuẩn bởi
vì đường hô hấp bị phù nề.
• Bỏng nặng ở mặt hay miệng. Bệnh nhân có nguy cơ đáng kể bị thương tổn
đường hô hấp trên và dưới.
- Suy hô hấp tăng dần lên. Suy hô hấp có thể được chẩn đoán bằng lâm sàng
hay bằng nồng độ PaCO2 tăng cao. Tăng thán huyết (hypercapnia) có thể
là do tình trạng tâm thần bị giảm sút, do đau đớn khi cử động thành ngực,
do hạn chế cử động thành ngực vì bị bỏng, do thương tổn hạn chế (restrictive)
hay tắc nghẽn phổi, hay do phù và tắc nghẽn đường hô hấp trên.
• Không thể bảo vệ đường hô hấp vì hôn mê hoặc do tiết dịch khí phế quản
nhiều.
• Nồng độ carboxyhemoglobin > 50. Thông nội khí quản và thông khí tích
cực (active ventilation) làm gia tăng nồng độ oxy và giúp làm giảm nồng
độ carboxyhemoglobin (HbCO) nhanh hơn.
• Sự hiện diện riêng rẽ của bồ hóng trong các lỗ mũi hoặc đờm có than
(carbonaceous sputum) không phải là một chỉ định đặt ống thông nội khí
quản..
12/ CÁC DẤU CHỨNG CẤP TÍNH NÀO
THƯỜNG THẤY TRÊN HÌNH CHỤP X QUANG NGỰC CỦA MỘT TRẺ BỊ HÍT KHÓI ?
Các hình chụp khởi đầu thường bình thường. Các dấu chứng X quang xuất
hiện trễ hơn so với các triệu chứng vật lý. Do đó các hình chụp X quang
ngực là một phương tiện không nhạy cảm trong việc xác định thương tổn
phổi và hiếm khi ảnh hưởng lên thái độ xử lý ở phòng cấp cứu. Một hình
chụp X quang ngực bình thường không loại bỏ sự hiện diện của các thương
tổn phổi với mức độ đáng kể.
Các dấu chúng xuất hiện sớm gợi ý thương tổn nghiêm trọng. Những thâm
nhiễm kẽ phân tán (diffuse interstitial infiltrates) là phù hợp với sự
hít khói quan trọng. Những thâm nhiễm khu trú trong 24 giờ đầu chỉ rõ
sự xẹp phổi (atelectasia). Viêm phế quản phổi (bronchopneumonia), hậu
quả của hít khói, trong trường hợp điển hình, không xảy ra cho đến 3-5
ngày sau thương tổn. Phù phổi xảy ra sau hồi sức dịch tích cực và không
xuất hiện cho đến 6-72 giờ sau khi hít khói. Tràn khí màng phổi thường
là kết quả của chấn thương do khí (barotrauma) sau thông nội khí quản
và thông khí áp lực dương tính (positive pressure ventilation).
13/ NHỮNG CHẤT HÓA HỌC ĐỘC
NÀO CÓ THỂ ĐƯỢC SINH RA TRONG MỘT HỎA HỌA ĐIỂN HÌNH ?
Chất
hóa học
Nguồn gốc
Độc tính
HCl, khí Chlor
Polyvinylchloride
Kích thích phổi, bỏng niêm mạc
CO
Gỗ, bông
Làm ngạt thở
hóa học
Acrolein
Gỗ, bông Kích
thích phổi
Aldehydes
Gỗ, bông
Tổn hại tế bào
Benzene
Plastics
Gây tê tại chỗ
Phosgene
Plastics
Kích thích phổi
Cyanide
Polyurethane, fabrics, Làm ngạt thở hóa
học
plastics.
14/ TẠI SAO CO LÀ CHẤT ĐỘC CHẾT
NGƯỜI ?
• CO là chất khí không có mùi và không nhìn thấy được và có thể gây ngộ
độc cho bệnh nhân mà không có dấu hiệu báo trước.
• Đó là một sản phẩm đốt cháy không hoàn toàn của hầu như tất cả các chất
đốt, vì thế nó hiện diện khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày (ví dụ : từ
xe hơi đang chạy cho đến sựsưởi ấm nhà, cho đến việc nướng barbecue với
than )
• Ngộ độc CO trong giai đoạn sớm có thể bị chẩn đoán lầm như là bệnh cảm
cúm bởi vì có những triệu chứng chung như đau đầu, chóng mặt, và khó chịu.
• CO phát triển một liên kết hầu như không đảo ngược với hemoglobin (với
ái tính 200-300 lần ái tính của oxy), làm xê dịch đường cong phân ly oxyhemoglobin
về phía trái.
- CO cũng phát triển một liên kết mạnh với những protéine chứa hème khác,
đặc biệt ở trong thể hạt (mitochondrie), do đó dẫn đến nhiễm toan chuyển
hóa và mất chức năng tế bào (đặc biệt là ở mô tim và hệ thần kinh trung
ương).
15/ MÔ TẢ CÁC HIỆU QUẢ SINH BỆNH
LÝ CỦA NGỘ ĐỘC CO ?
CO kết hợp với hemoglobin với ái tính 230 lần lớn hơn ái tính của oxy.
Sự sản sinh carboxyhemoglobin (HbCO) làm giảm đáng kể khả năng vận chuyển
oxy của máu. Sự liên kết của CO với phân tử hemoglobin làm xê dịch đường
cong phân ly oxy về phía trái. Sự xê dịch này làm ức chế sự phóng thích
oxy ở mô. CO cũng có hiệu quả độc tính ở mức tế bào. CO liên kết cytochrome
oxidase và thật sự phong bế chuỗi vận chuyển điện tử. Sự phong bế này
làm dễ sự sản xuất các gốc tự do (free radicals) và làm phá vỡ chức năng
của thể hạt (mitochondrie). Các kết quả cuối cùng là giảm oxy mô (hypoxie)
và nhiễm axit chuyển hóa (metabolic acidosis).
16/ THỜI GIAN BÁN HỦY CỦA CARBOXYHEMOGLOBIN
(HbCO) BỊ ẢNH HƯỞNG NHƯ THỂ NÀO Ở CÁC NỒNG ĐỘ OXY KHÁC NHAU ?
Thời
gian bán hủy
Không khí
trong phòng (21%, 1 atmosphere)
5 giờ
100% oxygen
1 atm
80 phút
Oxy tăng
áp (100% oxygen, 2,5 atm)
20 phút.
17/
CÁC XÉT NGHIỆM NÀO CẦN THỰC HIỆN NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ NGHI NGỘ ĐỘC CO
?
1. Nồng độ carboxyhemoghlobin
(HbCO) trong máu : • 0-1% : bình
thường (những người hút thuốc có thể có nồng độ lên đến 5-10%).
• 10-30% : đau đầu, khó thở do gắng sức, lú
lẫn • 30-50% : đau đầu dữ dội,
nôn, mửa, nhịp tim và nhịp thở nhanh, rối loạn thị giác, mất trí nhớ, thất
điều. • 50-70% : co giật, hôn
mê, rối loạn nặng tim-hô hấp
- > 70% : thường tử vong
2. Nồng độ Hemoglobin : để đánh giá tình trạng thiếu máu
có thể điều chỉnh. 3.
pH động mạch : để phát hiện nhiễm toan. 4.
Phân tích nước tiểu tìm myoglobin : với ngộ độc CO, các bệnh nhân
dễ bị phân rã mô và cơ, với khả năng suy thận cấp tính do ứ đọng myoglobin
trong thận.
18/ NHỮNG ĐIỂM CHÍNH TRONG ĐIỀU TRỊ
NGỘ ĐỘC CO NƠI TRẺ EM ? •
theo dõi rất sát. • cơ sở chủ
yếu của điều trị là cho oxy bổ sung với lưu lượng cao. Cho oxy 100% cho
đến khi nồng độ HbCO giảm xuống 5%. Thời gian bán hủy của HbCO là 4 giờ
nếu bệnh nhân thở khí trong phòng, 1 giờ nếu bệnh nhân thở oxy 100%, và
dưới 1 giờ nếu bệnh nhân ở trong buồng oxy tăng áp (hyperbaric oxygen chamber)
với oxy 100%. • lưu ý điều trị
ngộ độc cyanide, đặc biệt là khi nhiễm axit chuyển hóa tồn tại mặc dầu điều
trị đầy đủ với oxy.
- dùng oxy tăng áp (hyperbaric oxygen) nếu có một trong các tiêu chuẩn sau
đây : • bệnh nhân có một bệnh
sử hôn mê, co giật, hoặc trạng thái tâm thần bất bình thường nơi hiện trường
hoặc nơi phòng cấp cứu. • có nhiễm
axit chuyển hóa dai dẳng. • bệnh
nhân là một trẻ sơ sinh : nên trị liệu tích cực bằng oxy tăng áp nơi các
trẻ sơ sinh và nhũ nhi bởi vì khả năng bị tổn tương bởi ngộ độc CO lớn hơn
và khó đánh giá các triệu chứng ở lứa tuổi này. •
bệnh nhân là một phụ nữ có thai.
- nồng độ HbCO > 25%, mặc dầu bệnh nhân không có triệu chứng thần kinh
19/ CÁC CHỈ ĐỊNH CỦA OXY TĂNG ÁP
TRỊ LIỆU PHÁP ? Việc
sử dụng oxy tăng áp (hyperbaric oxygen) trong khung cảnh hội chứng hít khói
(smoke inhalation) là vấn đề rất được tranh cãi. Mặc dầu không có thử nghiệm
nào trên người chứng tỏ sự giảm tỷ lệ tử vong với oxy tăng áp trị liệu pháp
(hyperbaric oxygen therapy), nhưng những nghiên cứu trên động vật đã cho
thấy tỷ lệ sống sót được cải thiện với điều trị sau hội chứng hít khói.
Khi các chỉ định đối với một bệnh nhân không được rõ ràng, thì nên hội chẩn
thêm với các chuyên gia về tăng áp. Để được xem là một ứng viên của oxy
tăng áp trị liệu pháp, bệnh nhân phải được cho là khá ổn định để có thể
vận chuyển. Những lợi ích mong muốn nên được cân nhắc với các nguy cơ do
vận chuyển bệnh nhân đến phòng trị liệu, nhất là khi khoảng cách vận chuyển
xa.
20/ CÁC TIÊU CHUẨN CỦA OXY TĂNG ÁP
TRỊ LIỆU PHÁP (HYPERBAIC OXYGEN THERAPY)? Các
tiêu chuẩn thường được chấp nhận •
ngất xỉu • các triệu chứng thần
kinh nghiêm trọng (co giật, dấu hiệu thần kinh khu trú, hôn mê ).
• thiếu máu cục bộ cơ tim được chẩn đoán
bởi bệnh sử hay điện tâm đồ. •
rối loạn nhịp tim (tâm thất, đe dọa mạng sống).
- các triệu chứng và dấu chứng thần kinh dai dẳng sau vài giờ điều trị với
Oxy 100% (lú lẫn tâm thần, rối loạn thị giác, thất điều). •
thai nghén (có triệu chứng, nồng độ carboxyhemoglobin > 15%, bằng cớ
thai ngột). Các tiêu chuẩn cần
xét đến • nồng độ carboxyhemoglobin
> 20-25%. • các kết quả bất
thường lúc khám thần kinh tâm lý. •
tuổi < 6 tháng với các triệu chứng (lờ đờ, cáu kỉnh, bỏ ăn)
• các trẻ em có bệnh kèm theo (sickle cell
anemia) mà tình trạng giảm oxy có thể có những tác dụng có hại
21/ LIỆT KÊ NHỮNG TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CHỦ YẾU CỦA OXY
TĂNG ÁP (HYPERBARIC OXYGEN) •
giảm nhanh chóng nồng độ của carboxyhemoglobin (HbCO) nhờ tác dụng ồ ạt
(mass action)
- cản lipid peroxidation, một quá trình được trung gian bởi CO, sản xuất
các chất biến dưỡng độc hại cho não bộ. •
trực tiếp oxy hóa các mô bằng cách nâng PaO2 lên những nồng độ cực kỳ cao.
• làm giảm phù não. •
có thể hiệu quả trong việc huỷ bỏ ngộ độc cyanide. •
làm giảm các di chứng thần kinh tâm lý của ngộ độc CO
22/ CHỨNG CỚ ĐỘC TÍNH CỦA CYANIDE
TRONG TRƯỜNG HỢP HỎA HOẠN CHÁY NHÀ ?
• Một công trình nghiên cứu, được thực hiện
ở Pháp, đã đo những nồng độ của cyanide trong những mẫu nghiệm máu lấy từ
các nạn nhân hỏa hoạn, bởi các thầy thuốc cấp cứu tại chỗ. Các nồng độ cyanide
này được nhận thấy là cao hơn một cách đáng kể, so với các nồng độ được
lấy nơi một nhóm chứng các bệnh nhân không tiếp xúc với lửa và một nhóm
chứng thứ hai gồm các nạn nhân bị ngộ độc CO đơn thuần. Các nồng độ cyanide
nơi các nạn nhân hỏa hoạn, được tuyên bố chết ở hiện trường, là trên 110
micromol/L. Nồng độ cyanide trung bình nơi những người sống sót là 21,6
micromol/L. Nồng độ cyanide gây chết người thường được xem là 40 micromol/L.
- Trong hỏa hoạn, khí hydrogen cyanide (HCN) được tạo thành như là một sản
phẩm đốt cháy của len, tơ lụa, hàng nhân tạo và vật liệu xây dựng. Sự tiếp
xúc với cyanide được tạo ra bằng cách này bây giờ được công nhận là nguyên
nhân gây ngộ độc quan trọng nơi các nạn nhân hỏa hoạn mà trước đây được
cho là trúng độc CO .
23/ NỒNG ĐỘ CYANIDE ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ
ĐỂ ĐIỀU TRỊ NHƯ THỂ NÀO ?
Điều trị ngộ độc cyanide được chỉ định ở các nạn nhân hỏa hoạn với chứng
cớ hít khói quan trọng. Nồng độ lactate tăng cao tương quan với sự hiện
diện của cyanide và xuất hiện sớm hơn so với nồng độ cyanide.
24/ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CYANIDE NHƯ
THẾ NÀO ? • Sodium
thiosulfate có thể được cho bằng đường tĩnh mạch, dưới dạng dung dịch truyền
25% với liều lượng 1,65 ml/kg. •
Amyl nitrate và sodium nitrate biến đổi hemoglobin thành methemoglobin.
Methemoglobin nối kết với cyanide dưới dạng cyanmethomoglobin. Phép trị
liệu này thường không được khuyến nghị đối với hội chứng hít khói bởi vì
nó còn làm giảm thêm nồng độ Hb bình thường nơi các nạn nhân hỏa hoạn vốn
đã có một lượng Hb loạn chức năng đáng kể. •
Hydroxocobalamin (Cyanokit) được sử dụng để điều trị ngộ độc cyanide ở châu
Âu nhưng không có ở Hoa Kỳ.
25/ VAI TRÒ CỦA STEROIDS TRONG
HỘI CHỨNG HÍT KHÓI ? Steroids
có thể có lợi đối với những bệnh nhân với co thắt phế quản cấp tính do hít
khói. Không có chứng cớ chỉ cho thấy rằng steroids có lợi trong điều trị
phù hay viêm đường hô hấp do hít khói. Các thử nghiệm đã chứng tỏ một sự
liên kết giữa sự sử dụng steroids với tiên lượng xấu hơn về mặt nhiễm trùng
và tử vong. 26/
HẦU HẾT TỬ VONG TRẺ EM DO HỎA HOẠN XẢY RA Ở ĐÂU ?
• Hầu hết các trẻ em (82%) chết
tại nơi bị hỏa hoạn. Khoảng 7% chết ở một bệnh viện địa phương, và 11% chết
ở trung tâm bỏng.
27/ NHỮNG BIỆN PHÁP HỮU HIỆU NHẤT
ĐỂ LÀM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG DO BỎNG VÀ THƯƠNG TỔN DO HÍT KHÓI ?
Những hướng dẫn tiên liệu và dự phòng đã có
khả năng cao nhất làm giảm tử vong do bỏng và cháy nhà. Người ta ước tính
rằng trên 50% tử vong do hỏa hoạn có thể tránh được với sự sử dụng thích
đang máy phát hiện khói (smoke detectors). Trên 90% tử vong trong thời kỳ
ấu thơ do hỏa hoạn xảy ra trong nhà không có máy phát hiện khói hoạt động
đúng đắn, và hầu hết các trẻ em nạn nhân của cháy nhà đều chết do hít khói
hơn là do bỏng. Máy phát hiện khói nên được thiết đặt trong nhà và nên được
trắc nghiệm đều đặn. Bộ pin nên được thay thế hai lần mỗi năm. Các gia đình
nên được giáo dục về việc lập kế hoạch đường thoát thân, đánh giá nguy cơ
cháy nhà, và sử dụng và cất giữ máy dập lửa. Nên tránh sự sử dụng bất cẩn
thuốc lá. Hạ mức điều chỉnh nhiệt của máy làm nước nóng để cho nước với
nhiệt độ tối đa 120 độ, sẽ làm gia tăng nhiều thời gian cần tiếp xúc trực
tiếp để gây nên bỏng độ ba. Nước sôi nên được đặt ở các lò sau trên bếp
lửa, như vậy nằm ngoài tầm với của các trẻ em. Các trẻ em nên cho mặc các
bộ đồ ngủ làm chậm lửa (flame-retardant sleepwear).
References :
- Pediatric Emergency Medicine Secrets.
- Pedatric Secrets
- Pediatric Emergency Medicine, just the facts.
- Urgences 2006 BS
NGUYỄN VĂN THỊNH (12/1/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |