 |
Cấp Cứu Ngộ Độc 13
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU CHOLINERGIC
(CHOLINERGIC INSECTICIDES)
1/ THUỐC TRỪ SÂU CHOLINERGIC
LÀ GÌ ? Là những thuốc
trừ sâu thường được sử dụng nhất trên thế giới. Chúng tác dụng bằng cách
ức chế men acetylcholinesterase (AchE). Do được sử dụng rộng rãi và độc
tính cao, các thuốc trừ sâu cholinergic là nguyên nhân của nhiều các trường
hợp ngộ độc nặng nơi người hơn bất cứ thuốc trừ sâu nào khác. Hai lớp thuốc
trừ sâu cholinergic là photpho hữu cơ (organophosphates) và carbamates.
Photpho hữu cơ được chia thành ba nhóm, căn cứ trên độc tính của chúng.
Những hợp chất có độc tính cao gồm có Parathion và Phosdrin và được sử dụng
trong nông nghiệp thương mại. Các tác nhân thần kinh Sarin, Soma, và Tabun
là những dẫn xuất của những hợp chất này. Những hợp chất có độc tính trung
bình được sử dụng như là những thuốc trừ sâu động vật (animal insecticide).
Những tác nhân có độc tính thấp thường được sử dụng trong gia đình và vườn
và gồm có Malathion và Vapona. Carbamate cũng có độc tính biến thiên, với
aldecarb (Temik) là độc nhất và carbaryl (Sevin) là ít độc nhất. Vài carbamate
đã được sử dụng trong y học trong nhiều năm. Physostigmine được sử dụng
cho ngộ độc anticholinergic, và pyridostigmine và edrophonium (Tensilon)
được sử dụng trong myasthenia gravis. 2/
ORGANOPHOSPHATES VA CARBAMATES KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO ?
Chúng khác nhau nơi cấu trúc và cơ chế liên
kết. Organophosphates có thể liên kết một cách không đảo ngược với AchE,
làm bất hoạt thường trực enzyme. Những tác dụng độc cấp tính kéo dài cho
đến khi nhiều AchE hơn được tổng hợp, có thể hơn một tuần. Sự nối kết của
Carbamate có thể đảo ngược được, vì vậy độc tính chỉ kéo dài cho đến khi
độc chất bị thoái biến, thường trong 6-8 giờ. Carbamates không đi vào tốt
hệ thần kinh trung ương và có ít hoặc không có độc tính hệ thần kinh trung
ương.
3/ NHỮNG AI CÓ NGUY CƠ NHẤT BỊ NGỘ
ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU CHOLINERGIC ?
Các công nhân nông trường lưu động (migrant farm worker)
và những công nhân nông nghiệp khác (agricultural worker) khác. Các trẻ
em có nguy cơ gia tăng và thường tiếp xúc với độc chất ở garage hay bị vung
vải trong nhà nơi độc chất được tàng trữ.
4/ NẾU TÔI LÀM VIỆC TRONG MỘT VÙNG
ĐÔ THỊ, TÔI CÓ CẦN BIẾT VỀ NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU CHOLINERGIC KHÔNG ?
Vâng. Mặc dầu ngộ độc thuốc trừ sâu cholinergic thường được
thấy nhất trong khung cảnh nông nghiệp thương mãi, nhưng các sản phẩm này
dễ mua được và thường được sử dụng nơi các nhà tư nhân và vườn. Organophosphates
là những thành phần trong flea collar (collier anti puce), và các bẫy kiến
(ant trap), và giấy bẫy ruồi (flypapaer). Chúng đôi khi được dùng trong
các toan tính tự tử. Có khoảng 16.000 trường hợp ngộ độc organophosphate
ở Hoa Kỳ năm 2001. Ngay cả đối với các bệnh nhận được điều trị, tỷ lệ tử
vong là 10% đối với những người trưởng thành và 50% đối với các trẻ em.
Cũng vậy, một sự hiểu biết về ngộ độc thuốc trừ sâu cholinergic và điều
trị có thể áp dụng một cách trực tiếp vào xử trí ngộ độc tác nhân thần kinh
(nerve agent).
5/ MỘT NGƯỜI CÓ THỂ BỊ NGỘ
ĐỘC BỞI THUỐC TRỪ SÂU NHƯ THẾ NÀO ?
Organophosphate rất là tan trong mỡ và được
hấp thụ tốt bởi các đường, bao gồm đường xuyên qua da. Về mặt thương mãi,
các thuốc trừ sâu được tích trữ dưới dạng bột hay chất lỏng và thường được
sử dụng dưới dạng khí dung. Hầu hết các tiếp xúc nghề nghiệp xảy ra qua
da hay đường hô hấp. Ngộ độc cố ý hay ngộ độc nơi các trẻ em thường xảy
ra bằng đường miệng. Carbamates không được hấp thụ tốt qua da, và những
ngộ độc này chủ yếu do hít hay bằng đường miệng.
6/ GIẢI THÍCH THUỐC TRỪ SÂU CHOLINERGIC
GÂY NHỮNG TÁC DỤNG ĐỘC NHƯ THẾ NÀO ?
Ngộ độc thuốc trừ sâu cholinergic dẫn đến một sự quá thừa
hoạt tính gây nên bởi acetylcholine. Acetylcholine là một chất dẫn truyền
thần kinh nối kết với các thụ thể nicotinic ở các khớp giao cảm và phó giao
cảm tiền hạch và những bản vận động tận cùng (motor end plates), các thụ
thể muscarinic ở những khớp thần kinh hậu hạch, và một vài khớp thần kinh
trong hệ thần kinh trung ương. Bình thường, acetylcholine bị thoái hóa bởi
các enzyme AchE hay pseudocholinesterase. Organophosphates và carbamates
làm bất hoạt cả hai enzymes, dẫn đến một sự quá dồi dào acetylcholine. Điều
này dẫn đến sự quá hoạt hóa, sau đó sự bại liệt của các thụ thể cholinergic,
với kết quả cuối cùng là một sự quá kích thích của hệ thần kinh tự trị,
hệ cơ thân thể, và hệ thần kinh trung ương. Ngộ độc organophosphates nguy
hiểm hơn ngộ độc carbamates. Cả hai tác nhân tức thời nối kết với AchE.
Trong 24 đến 48 giờ, nối kết organophosphates trở nên không đảo ngược được
và đưa đến sự bất hoạt hóa thường trực enzyme. Quá trình này được gọi là
sự lão hóa (aging). Sự trì hoãn giữa lúc tiếp xúc và sự bất hoạt thường
trực tạo nên một cửa sổ cho liệu pháp thuốc giải độc.
7/ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA NGỘ ĐỘC
CHOLINERGIC ?
Các tác dụng lâm sàng là logic nếu ta xét đến các khớp thần
kinh bị tác động bởi acetylcholine thặng dư. Acetylcholine tác dụng lên
các thụ thể muscarinic, nicotinic, và trung ương. Sự kích thích các thụ
thể muscarinic dẫn đến sự gia tăng tiết các tuyến ngoại tiết và sự co thắt
cơ trơn. Điều này dẫn đến đa tiết phế quản (bronchorrhea) và co thắt phế
quản (bronchospasm) trong đường hô hấp, tiết nước bọt, nôn, mửa, ỉa chảy,
đau bụng quặn, và són trong đường tiêu hóa ; ra mồ hôi ở da ; co đồng tử
và chảy nước mắt ở mắt ; và tim nhịp chậm và hạ huyết áp trong hệ tim-mạch.
Sự kích thích các thụ thể nicotinic gây nên sự tiết epinephrine và norepinephrine
bởi tuyến thượng thận và sự hoạt hóa các bản vận động tận cùng . Điều này
dẫn đến tim nhịp nhanh và cao huyết áp trong hệ tim mạch ; sự thoái biến
glycogen thành glucose gan ; và dẫn đến co cứng cơ cục bộ (muscle fasciculations),
chuột rút (cramps), yếu người, và liệt cơ.
Tác dụng cholinergic lên hệ thần kinh trung ương gồm có sự kích động (agitation),
đau đầu, thất điều, loạn vận ngôn (dysarthria), trạng thái tâm thần bị biến
đổi, suy giảm hô hấp, co giật và hôn mê. Bất cứ triệu chứng nào trong những
triệu chứng này có thể bị trì hoãn 6 giờ sau khi tiếp xúc.
8/HAI CÁCH ĐỂ NHỚ NHỮNG
TÁC DỤNG MUSCARINIC VÀ NICOTINIC CỦA PHOTPHO HỮU CƠ
SLUDGE cho những tác dụng muscarinic
và những ngày trong tuần cho những tác dụng nicotinic.
| Muscarinic |
Nicotinic |
| S (Salivation): chảy nước miếng |
M (Muscle cramps): chuột rút |
| L (Lacrimation): chảy nước mắt |
T (Tachycardia): tim nhịp nhanh |
| U (Urination): đi tiểu |
W (weakness): yếu |
| D (Diarrhea): ỉa chảy |
tH (Hypertension): huyết áp cao |
| G (Gastrointestinal upset and pain) |
F (Fasciculations): co cứng cơ cục bộ |
| E (Emesis): mửa |
S (Sugar): tăng đường huyết |
9/ LÀM SAO CHẨN ĐOÁN
NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU CHOLINEGIC ?
Những triệu chứng và dấu hiệu của độc tính cholinergic phải
gợi ý ngay ngộ độc thuốc trừ sâu cholinergic. Về phương diện lâm sàng, tim
nhịp nhanh trội hơn tim nhịp chậm trong ngộ độc cấp tính, và co đồng tử
thường nổi trội hơn giãn đồng tử. Một mùi như tỏi là điển hình của organophosphates
và có thể hiện diện. Việc không có những triệu chứng hệ thần kinh trung
ương có thể gợi ý ngộ độc carbamates. Một bệnh sử tiếp xúc với thuốc trừ
sâu và các triệu chứng nơi một người có nguy cơ tiếp xúc phải nâng cao sự
nghi ngờ. Bởi vì tác dụng độc hại rất cao, nên một sự thiếu đáp ứng kháng
cholin (anticholinergic) đối với những thuốc anticholinergic phải là một
bằng cở mạnh của ngộ độc thuốc trừ sâu cholinergic.
10/ LIỆT KÊ NHỮNG
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
NGỘ ĐỘC
- Opiates
- Phenothiazines
- Nicotine
- Nấm chứa muscarine
- Nọc độc rắn chuông (rattlesnake venom)
- Nọc độc bò cạp (scorpion venom)
NHIỄM TRÙNG
- Viêm màng não
- Viêm não
- Botulism
- Viêm dạ dày-ruột
- Sepsis
- Bệnh uốn ván
BỆNH HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG
- Bệnh động kinh
- Xuất huyết dưới màng nhện hay dưới màng cứng
- Hội chứng cai rượu
- Viêm mạch máu não
CÁC RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA
- Hạ đường huyết
- Diabetic ketoacidosis
- Hôn mê phù niêm
- Hội chứng ác tính neuroleptic
- Thyrotoxicosis
11/ CÓ XÉT NGHIỆM
NÀO CẦN ĐƯỢC THỰC HIỆN KHÔNG ?
- Các xét nghiệm nên bao gồm đếm máu toàn thể, các trắc nghiệm
chức năng gan, các chất điện giải, BUN và creatinine, glucose, khí huyết
động mạch, hoạt tính cholinesterase, và xét nghiệm nước tiểu.
- Chụp phim ngực là quan trọng bởi vì phù phổi hay bằng cớ
hít dịch là một dấu hiệu xấu.
- Điện tâm đồ nên được thực hiện bởi vì loạn nhịp tim như
bloc dẫn truyền và xoắn đỉnh có thể xảy ra.
- Những xét nghiệm khác và thăm dò chụp hình ảnh có thể cần
thiết để loại trừ những chẩn đoán khác.
12/ CÓ XÉT NGHIỆM
NÀO XÁC NHẬN CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC CHOLINERGIC KHÔNG ?
Mặc dầu chẩn đoán chủ yếu là lâm sàng, nhưng một sự giảm
hoạt tính cholinesterase trong hồng cầu hay huyết thanh được nhận thấy trong
hầu hết các trường hợp ngộ độc thuốc trừ sâu cholinergic ; Tuy nhiên, điều
này có thể đòi hỏi hiểu biết về hoạt tính cholinesterase cơ bản của bệnh
nhân, làm cho xét nghiệm ít hữu ích trong giai đoạn cấp tính. Hoạt tính
AchE cũng có thể bị giảm trong bệnh gan, chứng nghiện rượu, suy dinh dưỡng,
và viêm da-cơ (dermatomyositis).Tuy nhiên, mặc dầu nó không ảnh hưởng lên
xử trí ban đầu, hoạt tính cholinesterase trong hồng cầu và huyết thanh nên
được đo bởi vì chúng có thể hữu ích nếu bệnh nhân được nhập viện hay khi
những chẩn đoán khác đang được xét đến.
13/ NHỮNG CẤP CỨU NÀO TRONG
NGỘ ĐỘC CHOLINERGIC ?
Hầu hết các trường hợp tử vong sớm xảy ra khi sự phối hợp
của co thắt phế quản (bronchospasm), đa tiết phế quản (bronchorrhea), yếu
cơ hô hấp, và giảm kích thích hô hấp dẫn đến suy hô hấp. Bloc nhĩ-thất,
tim nhịp chậm, hạ huyết áp, và xoắn đỉnh đôi khi có thể dẫn đến suy tim.
Mửa và ỉa chảy có thể dẫn đến mất nước nặng và các bất thường điện giải.
Co giật và hôn mê có thể xảy ra.
14/ LÀM SAO ĐIỀU TRỊ
NGỘ ĐỘC PHOTPHO HỮU CƠ CẤP TÍNH ?
Có nhiều trường hợp ngộ độc thứ phát nơi nhân viên y tế điều
trị những bệnh nhân như thế. Nhân viên y tế nên đặc biệt thận trọng tránh
tiếp xúc da và đường hô hấp trong khi điều trị một bệnh nhân với ngộ độc
thuốc trừ sâu tăng tiết choline (cholinergic insecticide poisoning). Sự
khử nhiễm nên bắt đầu trong bối cảnh tiền bệnh viện, và nên sử dụng những
thận trọng tiếp xúc và hô hấp. Bắt đầu điều trị bằng ABCD (airway, breathing,
circulation, và decontamination). Hút tich cực thường xuyên đường hô hấp
là cần thiết để loại bỏ các dịch tiết phế quản. Nên cho oxy. Nội thông khí
quản và thông khí cơ học có thể được đòi hỏi đối với tình trạng giảm oxy
mô kéo dài, phù phổi, suy giảm hô hấp, hay yếu người. Monitoring tim là
bắt buộc. Để khử nhiễm, tất cả quần áo nên được lấy đi, và da và tóc nên
được rửa với nước xà phòng ấm để loại bỏ bất cứ thuốc trừ sâu nào còn lại
và để ngăn ngừa sự hấp thụ tiếp tục. Nếu ngộ độc do nuốt vào bằng đường
miệng, rửa dạ dày rồi cho than hoạt hóa được chỉ định. Nếu bệnh nhân đã
bị ỉa chảy, không cần phải cho thuốc tẩy. Succinylcholine, morphine, phenothiazines,
barbiturates, furosemide, và theophylline bị chống chỉ định trong ngộ độc
phopho hữu cơ. Nơi bất cứ bệnh nhân nào có triệu chứng, việc đưa vào ICU
trong ít nhất 24 giờ, được chỉ định. Việc cho nhanh chóng atropine và pralidoxime
là điều chủ yếu.
15/ CÓ MỘT THUỐC GIẢI ĐỘC (ANTIDOTE)
HAY KHÔNG ?
Điều trị đặc hiệu của ngộ độc photpho hữu cơ bao gồm cho
atropine và pralidoxime (Protopam, 2-PAM). Atropine trung hòa một cách đặc
hiệu những tác dụng muscarinic của ngộ độc bằng cách phong bế các thụ thể
muscarinic. Tuy nhiên, không nên cho atropine cho đến khi tình trạng giảm
oxy mô đã được giải quyết, bởi vì nó có thể gây nên tim nhịp nhanh thất
hay rung thất. Một liều khởi đầu 2 đến 4mg tiêm tĩnh mạch nên được cho nơi
những người trưởng thành và 0,015 đến 0,05mg/kg nơi những bệnh nhân nhi
đồng. Các dịch tiết khô dần và giãn đồng tử chỉ rõ sự phong bế thích đáng
của các thụ thể muscarinic, và liều lượng của atropine nên được hướng dẫn
bởi những dấu hiệu này. Hãy chuẩn bị cho điều có vẻ dường như là những lượng
lớn atropine. Những liều lượng hơn 1g trong 24 giờ đã được đòi hỏi và tiêm
truyền atropine đã được sử dụng. Hầu hết các thất bại điều trị xảy ra là
do cho atropine không đủ liều. Điều trị với atropine đơn độc cũng đủ để
xử trí ngộ độc carbamate. Pralidoxime có thể tái hoạt hóa AchE, và phục
hồi hoạt tính bình thường của enzyme này. Nó có hiệu quả nhất khi được cho
trong vòng 24 đến 48 giờ đầu sau khi tiếp xúc nhưng nên được tiếp tục chừng
nào thấy cần thiết. Pralidoxime làm giảm bớt những tác dụng nicotinic và
thần kinh trung ương của độc tính organophosphate. Liều lượng là 1 đến 2g
trong 30 phút nơi những người trưởng hành và 20 đến /kg trong 30 phút nơi
các trẻ em. Sự cải thiện lâm sàng có thể xảy ra trong vòng vài phút sau
khi cho thuốc. Các liều có thể được lập lại nếu cần thiết. Pralidoxime không
cần thiết đối với ngộ độc carbamate.
16/ CÓ NHỮNG TÁC DỤNG TRÌ HOÃN CỦA
NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU TIẾT ACETYLCHOLINE KHÔNG ?
- Sự ngừng cho atropine hay pralidoxime sớm có thể gây nên
những triệu chứng dội ngược.
- Một hội chứng trung gian có thể xảy ra 24 đến 96 giờ sau
khi hồi phục những tác dụng cấp tính cholinergic của ngộ độc photpho hữu
cơ. Hội chứng này được biểu hiện bởi sự yếu đặc hiệu của các cơ hô hấp,
phần gần của các chi, và các cơ gấp cổ. Hội chứng trung gian này không đáp
ứng với atropine hay pralidoxime, và hỗ trợ thông khí có thể cần thiết.
- Độc tính thần kinh gây nên bởi organophosphate có thể xảy
ra 10 đến 21 ngày sau ngộ độc. Độc tính thần kinh (neurotoxicity) này gồm
có bệnh đa thần kinh (polyneuropathy) của phần xa các chi, bắt đầu với nhũn
(flaccidity) và yếu cơ và tiến triển đến co cứng (spasticity),
tăng phản xạ, và tăng trương lực.
- Những thay đổi bệnh lý tẩm thần kinh, về hành vi (behavior),
nhận thức (cognition), và những chức năng thị giác và vận động đã được mô
tả. Những thay đổi này tồn tại nhiều tháng sau ngộ độc triệu chứng bởi organophosphate.
Vẫn còn bàn cãi việc ngộ độc không triệu chứng hay mãn tính
có gây các hậu quả hay không
Reference : Emergency Medicine Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội
Thương và Cấp Cứu
(18/8/2010)
TAGS: Cholinergic, Acetylcholinesterase
(AchE), Organophosphates, Carbamates, Thuốc trừ sâu động vật (animal insecticide),
Malathion, Vapona, Flea collar (collier anti puce), Giấy bẫy ruồi (flypapaer),
Enzyme AchE, Pseudocholinesterase, Thụ thể muscarinic, Đa tiết phế quản
(bronchorrhea), Co thắt phế quản (bronchospasm), Co cứng cơ cục bộ (muscle
fasciculations), Chuột rút (cramps), Yếu người, Liệt cơ, Kích động (agitation),
Đau đầu, Thất điều, Loạn vận ngôn (dysarthria), Tâm thần biến đổi, Suy
giảm hô hấp, Co giật, Hôn mê, Opiates, Phenothiazines, Nicotine, Nấm muscarine,
Nọc độc rắn chuông (rattlesnake venom), Nọc độc bò cạp (scorpion venom),
Viêm màng não, Viêm não, Botulism, Viêm dạ dày-ruột, Sepsis, Bệnh uốn
ván, - Bệnh động kinh, Xuất huyết dưới màng nhện, màng cứng, Hội chứng
cai rượu, Viêm mạch máu não, Hạ đường huyết, Diabetic ketoacidosis, Hôn
mê phù niêm, Hội chứng ác tính neuroleptic, Thyrotoxicosis, Atropine,
Pralidoxime, Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |