 |
Cấp Cứu Ngộ Độc 12
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
NGỘ ĐỘC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM
(ANTIDEPRESSANT OVERDOSE)
1/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM
ĐƯỢC XẾP LOẠI NHƯ THẾ NÀO VÀ CƠ CHẾ TÁC DỤNG CHÍNH CỦA CHÚNG ?
Các thuốc chống trầm cảm có thể được chia thành 3 loại lớn, gồm có các thuốc
chống trầm cảm 3 vòng (tricyclic antidepressants = TCAs ), monoamine oxidase
inhibitors (MAOIs) và các thuốc mới hơn được gọi là các thuốc chống trầm
cảm không điển hình (atypicals), dị vòng (heterocyclic) hoặc thế hệ thứ
hai (second-generation).
Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCAs) được xếp loại thành amines đệ nhị
hoac đệ tam và chứa một chuỗi bên với một số thay đổi nhóm methyl. Những
thuốc này cản sự tái thu hồi (reuptake) các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters)
và đối kháng các thụ thể serotonin sau khớp thần kinh (postsynaptic serotonin
receptors).
MAOIs phong bế enzyme monoamine oxidase ở ty lạp thể (mitochondrie) trong
tế bào. Các enzyme này bình thường khử amine (deaminate) các amines như
epinephrine, norepinephrine (NE), serotonin và dopamine (DA).Các thuốc chống
trầm cảm không điển hình (atypicals) đa dạng về cấu trúc nhưng tất cả cùng
chung khả năng cản sự tái thu hồi của serotonin trước khớp thần kinh (presynaptic)
(ngoại trừ bupropion là một chất ức chế sự tái thu hồi NE và DA). Nhiều
chất có thêm các tác dụng, như ức chế sự tái thu hồi của DE và NE và phong
bế serotonin hay alpha-adrenergic.
Cơ chế tác dụng của các thuốc chống trầm cảm
2/ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LIÊN KẾT
VỚI NGỘ ĐỘC THUỐC CHỒNG TRẦM CẢM ?
Căn cứ trên báo cáo thường niên của Hiệp hội Hoa Kỳ của các trung tâm kiểm
tra độc chất (Poison Control enter), các thuốc chống trầm cảm chỉ đứng thứ
hai sau các thuốc giảm đau như là nguyên nhân dẫn đầu của tử vong do ngộ
độc ở Hoa Kỳ. Có hơn 83.000 trường hợp ngộ độc thuốc chống trầm cảm trong
năm 2000, chịu trách nhiệm gần 55.000 thăm khám ở các cơ sở y tế. Mặc dầu
tỷ lệ tử vong toàn bộ do các thuốc chống trầm cảm đã giảm với sự xuất hiện
của các loại thuốc mới hơn, nhưng 123 trường hợp tử vong đã được báo cáo,
với con số lớn nhất vẫn còn do uống TCA (đặc biệt là amitrityline).
3/ SO SÁNH CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA
CÁC THUỐC MỚI VỚI TCAs và MAOIs.
Các thuốc mới (thuốc chống trầm cảm không điển hình) có ít tác dụng phụ
hơn, ít độc tính hơn và có mức an toàn lớn hơn. Các thuốc mới ít có ái tính
với các thụ thể dopamine, gamma-aminobutyric acid, acetylcholine và beta-adrenergic,
và do đó ít có tác dụng phụ hơn. Các thuốc chống trầm cảm không điển hình
(atypical antidepressant) ít có tác dụng lên các kenh sodium, potassium
và calcium của tim và tránh được nhiều độc tính lên tim (cardiotoxicity).
Trái với MAOIs, không có nguy cơ bị phản ứng dạng tyramine và không có chống
chỉ định sử dụng các thuốc giống giao cảm (sympathomimetics).Trừ bupropion
(nguy cơ co giật cao), các thuốc mới an toàn hơn MAOIs và TCAs nhiều. Chỉ
số độc tính gây tử vong (fatal toxicity index) (số tử vong trên 1 triệu
toa thuốc) là 2,7 đến 13,4 đối với SSRIs so sánh với 19,1 đến 231,8 đối
với TCAs. Những điểm tương tự gồm có chuyển hóa gan, sự không có hiệu quả
của điều trị bằng thẩm tách máu (hemodialysis) hay hemoperfusion, và sự
hấp thụ nhanh ở ruột (với ngoại lệ TCA do tác dụng antimuscarinic lên nhu
động ruột)
4/ MÔ TẢ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA
NGỘ ĐỘC DO THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM KHÔNG ĐIỂN HÌNH.
Tử vong do ngộ độc SSRI rất là hiếm.Trong một công trình nghiên cứu lớn,
45% những người trưởng thành và 90% các trẻ em bị ngộ độc fluoxetine (Prozac)
đơn độc không có triệu chứng. Nơi những bệnh nhân có triệu chứng, triệu
chứng và dấu chứng thông thường nhất là nôn, mửa, run, giảm mức độ tri thức,
co giật và tim nhịp nhanh. Tất cả các SSRIs đều có khả năng gây nên hội
chứng serotonin (serotonin syndrome) ở liều lượng độc và điều trị. Chẩn
đoán này thường khó nhận ra và nên dựa vào chẩn đoán phân biệt khi bệnh
nhân uống các thuốc trầm cảm loại mới.
5/ HỘI CHỨNG SEROTONIN LÀ GÌ
?
Hội chứng serotonin (serotonin syndrome) là một chùm những triệu chứng và
dấu chứng thể hiện bởi trạng thái tâm thần bị biến đổi, loạn năng hệ thần
kinh tự trị và tăng hoạt tính thần kinh-cơ.
CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA HỘI CHỨNG SEROTONIN
Trạng thái tâm thần bị biến đổi - Toát mồ hôi
Giật rung cơ (myoclonus) - Sốt
Tăng phản xạ (hyperreflexia) - Run rẩy
Thất điều (ataxia) - Ỉa chảy
CÁC THUỐC GÂY NÊN HỘI CHỨNG KHI ĐƯỢC DÙNG
PHỐI HỢP
MAOIs Meperidine
TCAs Dextromethorphan
SSRIs Tryptophan
6/ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SEROTONIN ?
Điều trị hỗ trợ và nhận diện sớm là rất quan trọng. Benzodiazepines được
khuyến nghị bởi vài tác giả và có thể có một vài trò bảo vệ do tác dụng
ức chế lên sự dẫn truyền serotoninergic của nó. Sốt có thể được điều trị
với acetaminophen và những biện pháp chườm lạnh. Cyproheptadine, một chất
phong bế thụ thể histamine-1 thế hệ thứ nhất với sự đối kháng không đặc
hiệu các thụ thể serotonin, đã được chấp thuận bởi FDA để sử dụng như một
chất kháng histamine và có thể hữu ích trong sự làm giảm các triệu chứng
serotoninergic.
7/ LIỆT KÊ NHỮNG TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU
CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC THUỐC CHỒNG TRẦM CẢM BA VÒNG (TCA).
Những triệu chứng và dầu chứng khởi đầu
Tim nhịp nhanh xoang
Nói lớ (slurred speech)
Khô miệng
Mơ màng (drowsiness)
Những triệu chứng và dấu hiệu muộn
Ngủ lịm (lethargy)
Hư giác (hallucinations)
Hôn mê
Co giật
Hạ huyết áp
Loạn nhịp tim
8/ KỂ 4 CƠ CHẾ CỦA NGỘ ĐỘC TCA
1. Chống tiết cholin (anticholinergic) : Các tác dụng chống tiết cholin
của ngộ độc TCA gồm có tim nhịp nhanh trên thất, hư giác, co giật, và tăng
thân nhiệt (hyperthermia).
2. Quinidine-like : Các tác dụng quinidine-like, được biểu hiện bởi giảm
tính co bóp của tim, hạ huyết áp, và loạn nhịp thất, là đặc trưng của tất
cả các thuốc chống loạn nhịp 1a (quinidine, procainamide, và disopyramide).
3. Phong bế alpha-adrenergic : phong bế thụ thể alpha ngoại biên có thể
dẫn đến hạ huyết áp
4. Antihistamine : vài thuốc chống trầm cảm ba vòng (doxepin) mạnh hơn nhiều
trong số các thuốc đối kháng histamine H1. Những tác nhân này có thể gây
nên an thần và hôn mê.
9/ TÓM TẮT NHỮNG BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
CỦA NGỘ ĐỘC TCA
10/ HỘI CHỨNG CHỐNG TIẾT CHOLIN
(ANTICHOLINEGIC SYNDROME) LÀ GÌ ?
Tăng thân nhiệt, mờ mắt, khô miệng, đỏ da, hư giác, và tim nhịp nhanh. Những
tác dụng này có thể được tóm tắt trong câu “hot as a hare, blind as a bat,
dry as a bone, red as a beet, and mad as a hatter”. Những chất khác có thể
gây nên các triệu chứng chống tăng tiết cholin (anticholinergic symptoms)
là antihistamines, phenothiazines, scopolamine, belladonna.
11/ CÓ NHƯNG CHỈ DẤU SỚM ĐÁNG
TIN CẬY ĐỂ NHẬN DIỆN NGUY CƠ ĐỘC TÍNH SAU KHI NGỘ ĐỘC THUỐC CHỒNG TRẦM CẢM
KHÔNG ?
Ngộ độc thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những cấp cứu đe dọa mạng sống,
như sốc, hạ huyết áp, loạn nhịp tim, co giật, và suy nhiều hệ cơ quan (multiple
organ system failure), trong vòng vài giờ sau khi đến viện. Tuy nhiên hầu
hết các bệnh nhân không bị những biến chứng như thế. Nhiều công trình nghiên
cứu đã sử dụng các tiêu chuẩn của ADORA (Antidepressant Overdose Risk Assessment)
để xác định tiên lượng khả dĩ. Những tiêu chuẩn này gồm có khoảng QRS dài
hơn 0,10 giây, loạn nhịp tim, trạng thái tâm thần bị biến đổi, co giật,
giảm áp hô hấp, và hạ huyết áp. Các bệnh nhân được xếp loại có nguy cơ thấp
(low risk) (không có các tiêu chuẩn) hay nguy cơ cao (high risk) (hiện diện
một hoặc hơn các tiêu chuẩn), căn cứ trên sự phát triển các triệu chứng
và dấu chứng trong vòng 6 giờ. Một công trình nghiên cứu cho thấy độ nhạy
cảm 100% trong việc nhận diện những bệnh nhân đã phát triển những vấn đề
độc tính đáng kể. Nếu không có triệu chứng hay dấu hiệu được quan sát trong
6 giờ, các bệnh nhân có thể được cho xuất viện khỏi phòng cấp cứu để được
đánh giá tâm thần.
12/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ CHUNG CỦA NGỘ
ĐỘC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM NHƯ THẾ NÀO ?
Ổn định bệnh nhân sau khi uống thuốc cấp tính là quan trọng, bao gồm xử
lý ABC (đường khí, airway, thở, breathing, và tuần hoàn, circulation) và
điều trị hỗ trợ. Nên cho bệnh nhân oxy. Sau khi ổn định, nên khử nhiễm đường
tiêu hóa (gastrointestinal decontamination), tiếp theo sau bởi cho than
hoạt hóa cùng với một thuốc tẩy. Những bệnh nhân ngộ độc TCA có nguy cơ
phát triển một liệt ruột (ileus) do tác dụng chống tiết cholin. Việc sử
dụng than hoạt hóa cho nhiều lần (serial-dosed charcoal) còn bị tranh cãi
và có thể đặt bệnh nhân vào tình trạng nguy cơ bị tắc ruột. Điều quan trọng
là phải cẩn trọng suốt trong lúc ổn định bệnh nhân và khử nhiễm đường tiêu
hóa, bởi vì bệnh nhân có thể mất tri giác nhanh chóng, đặt họ trong nguy
cơ hít dịch. Vì lý do này, ipecac bị chống chỉ định, và việc đặt ống thông
nội khí quản nên được xét đến trước khi rửa dạ dày nơi những bệnh nhân bị
giảm tri giác. Bệnh nhân này nên được thiết đặt đường tĩnh mạch và monitoring
thường xuyên. Catheter Foley có thể cần thiết bởi vì nguy cơ bí tiểu. Sự
sử dụng Flumazenil bị cấm chỉ định do nguy cơ co giật gia tăng
13/ NHỮNG XÉT NGHIỆM CHẤN ĐOÁN NÀO
HỮU ÍCH TRONG NGỘ ĐỘC THUỐC TRẦM CẢM ?
Một điện tâm đồ là chủ yếu trong đánh giá một bệnh nhân với ngộ độc TCA.
Bất cứ sự kéo dài nào của các khoảng ECG nên được xem như là một dấu hiệu
của độc tính tim của TCA. Bởi vì khả năng uống nhiều thuốc với bất cứ ngộ
độc nào, nên cần xét những độc chất khác. Xét nghiệm tìm nồng độ acetaminophen
và aspirin (hay anion gap) được khuyến nghị. Một xét nghiệm toàn bộ thăm
dò độc chất trong nước tiểu và huyết thanh thường không được chỉ định bởi
vì hiệu năng thấp và tổn phí. Những kết quả của các xét nghiệm thăm dò độc
chất thường chậm và hiếm khi làm thay đổi sự xử trí.
14/ TÓM TẮT ĐIẾU TRỊ NGỘ ĐỘC HỆ TIM
MẠCH.
Loạn nhịp tim. Sodium bicarbonate là thuốc
được lựa chọn để điều trị loạn nhịp thất. Cơ chế tác dụng của sodium bicarbonate
được cho là do sự gia tăng dẫn truyền của sodium qua các kênh sodium nhanh
(fast sodium channel) trong cơ tim và do sự gia tăng nối kết với protein
huyết thanh của TCA (như vậy làm giảm lượng thuốc tự do lưu thông trong
máu). Dung dịch muối ưu trương (hypertonic saline) có thể có lợi, và sự
tăng thông khí hữu ích như một biện pháp phụ trợ để làm gia tăng pH huyết
tương. Liều lượng của bicarbonate là 1-2 mEq/kg và có thể được lập lại để
duy trì một pH động mạch 7,5. Sự kiềm hóa có thể được duy trì bằng cách
tiêm trực tiếp nhắc lại bicarbonate hay tiêm truyền tĩnh mạch thường xuyên
sodium bicarbonate, thêm vào dịch duy trì. Tiêm truyền tĩnh mạch được thực
hiện bằng cách thêm 3 ống sodium bicarbonate vào 1L D5W, tạo nên 132 mEq
Na/L. Lidocaine hiệu quả đối với tim nhịp nhanh thất nhưng có thể làm giảm
tính co bóp của tim. Phenytoin đã được sử dụng trong bloc nhĩ thất độ một
và rối loạn dẫn truyền trong tâm thất ; tuy nhiên thuốc này được vài tác
giả nhận thấy làm gia tăng tần số và thời gian của tim nhịp nhanh thất.
Các thuốc chống loạn nhịp nhóm Ia (quinidine, procainamide, và disopyramide)
bị chống chỉ định bởi tác dụng hợp lực của chúng lên các màng tế bào, làm
gia tăng độc tính của thuốc chống trầm cảm. Physostigmine bị chống chỉ định
trong điều trị loạn nhịp thất.Tim nhịp nhanh xoang và loạn nhịp trên thất
thường không cần một điều trị đặc biệt nào ngoài điều trị hỗ trợ.
Hạ huyết áp. Hạ huyết áp nên được điều trị
ban đầu với dịch và tư thế Trendelenburg ; bicarbonate có thể hữu ích nếu
hạ huyết áp không đáp ứng. Các chất tăng áp mạch (Vasopressors) nên được
sử dụng thận trọng bởi vì chúng làm gia tăng tính kích thích của tâm thất.
NE và phenylephrine là những thuốc tăng áp mạch được chọn lựa do tác dụng
alpha-adrenergic.
QRS rộng. Bicarbonate hữu ích trong việc làm
hẹp một QRS rộng (>120 msec), có thể mang lại một tác dụng bảo vệ tim.
14/ HÃY TÓM TẮT NHỮNG ĐIỀU TRỊ ĐỐI
VỚI ĐỘC TÍNH THẦN KINH.
Ảo giác (hallucinations). Physostigmine đã
được chứng tỏ là hủy bỏ các ảo giác; tuy nhiên bởi vì chúng có thể gây nên
co giật và vô tâm thu, nên không được khuyến nghị. Các thuốc an thần kinh
(neuroleptics) nên tránh bởi vì chúng có thể làm hạ ngưỡng co giật.
Hôn mê. Imipramine, amitriptyline, doxepin,
và trazodone là những thuốc an thần nhất trong số các thuốc trầm cảm. Điều
trị hỗ trợ với xử lý tích cực đường hô hấp là căn bản. Hôn mê kéo dài hơn
24 giờ là hiếm xảy ra và gợi ý những biến chứng do các chất uống vào đồng
thời hay do sự khử nhiễm đường tiêu hóa không thích đáng. Sự sử dụng flumazenil
bị chống chỉ định.
Co giật. Hoạt tính co giật do ngộ độc TCAs
thường ngắn ngủi. Benzodiazepines và phenobarbital được khuyến nghị để xử
trí co giật. Phenytoin có thể được sử dụng như thuốc ưu tiên ba nhưng có
thể làm gia tăng sự kéo dài của QT.
15/ NHỮNG NGỘ ĐỘC BỞI NHỮNG
THUỐC KHÁC CÓ THỂ CÓ TRIỆU CHỨNG GIỐNG TCAs ?
Cyclobenzaprine, cấu trúc tương tự với amitriptyline, được phát triển năm
1961 như là một thuốc chống trầm cảm và bây giờ được kê toa như là thuốc
giãn cơ (muscle relaxant). Carbamazepine (Tegretol) về cấu trúc tương tự
với imipramine nhưng gây ít độc hại lên tim trong những trường hợp quá liều.
Reference : Emergency
Medicine Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/7/2010)
TAGS: Ngộ độc thuốc chống trầm cảm, thuốc
chống trầm cảm 3 vòng (tricyclic antidepressants = TCAs ), monoamine oxidase
inhibitors (MAOIs), Chỉ số độc tính gây tử vong (fatal toxicity index)
, Hội chứng serotonin (serotonin syndrome), Benzodiazepines, Chống tiết
cholin (anticholinergic), Quinidine-like, Phong bế alpha-adrenergic, Phong
bế alpha-adrenergic, Antihistamine, ADORA (Antidepressant Overdose Risk
Assessment), Loạn nhịp tim, Hạ huyết áp, Ảo giác (hallucinations), Physostigmine,
Hôn mê , Imipramine, amitriptyline, doxepin, trazodone, Co giật, Cyclobenzaprine,
Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |