 |
CẤP
CỨU CHẤN THƯƠNG SỐ 6
CHẤN
THƯƠNG LỒNG NGỰC (CHEST TRAUMA)
Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh
1/ BỆNH NHÂN BỊ CHẤN THƯƠNG
NGỰC NÊN ĐƯỢC THĂM KHÁM NHƯ THỂ NÀO ?
Chúng ta phải nhận diện ngay những cấp cứu đe dọa mạng sống, thật sự hay
tiềm tàng, căn cứ trên sự đánh giá lâm sàng. Sự đánh giá này bao gồm thị
chẩn, thính chẩn, và ấn chẩn.
- Thị chẩn. Cởi hoàn toàn quần áo của bệnh
nhân và dùng mắt thị chẩn toàn bộ ngực, cần lăn một bệnh nhân nằm ngửa.
Hãy tìm kiếm một mảng sườn (flail chest) (cử động nghịch lý của thành
ngực) và vết thương ngực hút (sucking chest wounds). Hãy xác định vị trí
chính xác, số lượng, và loại (thí dụ xuyên hay đụng giập) của vết thương.
- Thính chẩn. Lắng nghe tìm tiếng thở (breath
sounds), bị giảm hay biến mất và các tiếng ruột (bowel sounds) trong ngực.
Tiếng thở (breath sounds), bị giảm hay biến mất chỉ cho biết một tràn
khí màng phổi (pneumothorax) nếu khí thủng dưới da (subcutaneous emphysema)
nằm trên các xương sườn hay một tràn khí trung thất (pneumomediastinum)
nếu khí thủng dưới da nằm ở vùng trên xương đòn. Tiếng xương lạo xạo (bony
crepitus) chỉ cho biết một gãy xương sườn hoặc xương ức với khả năng thương
tổn trong ngực.
- Ấn chẩn. Điều quan trọng là ấn chẩn thành
ngực nhẹ nhàng, trước hết để phát hiện khí thủng dưới da và tiếng xương
lạo xạo. Khí thủng dưới da chỉ cho biết một chấn thương quan trọng vào
lồng ngực với gãy các xương sườn và khả năng thương tổn cơ quan bên dưới,
và tiếng xương lạo xạo, tùy thuộc vào vị trí, chỉ cho thấy tràn khí màng
phổi hay tràn khí trung thất.
2/ MẢNG SƯỜN (FLAIL CHEST) NGHĨA
LÀ GÌ ?
Một mảng sườn (flail chest) xảy ra khi một đoạn của thành ngực trở nên
không được gắn với phần còn lại của lồng ngực. Mảng sườn xảy ra trong
một trong 3 bối cảnh : (1) hai hoặc nhiều xương sườn bị gãy ở hai hoặc
nhiều nơi ; (2) hơn một xương sườn bị gãy, liên kết với trật khớp sụn
sườn (costal cartilage disarticulation) ; hoặc (3) các sụn sườn ở hai
bên xương ức bị trật, dẫn đến một mảng ức sườn hay trung tâm (sternal
or central flail segment). Ý nghĩa của một mảng sườn là ở chỗ lực đã gây
ra nó rất mạnh và gần như chắc chắn là có sự hiện diện của những thương
tổn liên kết trong ngực.
3/ ĐIỀU TRỊ MẢNG SƯỜN NHƯ
THẾ NÀO ?
Tình trạng của phổi bên dưới nói chung quyết định cách điều trị. Đụng
dập phổi (pulmonary contusion) bên dưới, với hậu quả giảm oxy-huyết (hypoxemia),
chỉ rõ sự cần thiết phải can thiệp. Nói chung, một mảng sườn nên được
điều trị hỗ trợ ; nếu tình trạng bệnh nhân tốt và chịu đựng được mảng
sườn (thí dụ phân tích khí huyết không cho thấy giảm oxy-huyết hay tăng
thán khí-huyết), thì chỉ cần điều trị hỗ trợ bằng oxy. Nếu bệnh nhân ở
trong tình trạng suy hô hấp (respiratory distress), về mặt lâm sàng hay
như được chứng tỏ bởi phân tích khí huyết hay đo độ bảo hòa oxy, thì thông
nội khí quản hay thông khí áp lực dương (positive-pressive ventilation)
nên được thực hiện. Thông khí áp lực dương mang lại sự nở đồng đều lồng
ngực từ bên trong và làm ổn định mảng sườn.
4/ BỆNH SỬ CÓ Ý NGHĨA NÀO NÊN ĐƯỢC
THỰC HIỆN NƠI CÁC NẠN NHÂN BỊ TAI NẠN XE CỘ?
1. Tính chất cua tai nạn là gì: xe lật (rollover), xe đụng nhau trực diện
(head-on collision) ?
2. Bệnh nhân có mang dây an toàn không ?
3. Túi khí (air bag) có mở ra không ?
4. Tay lái và kính che gió có bị vỡ không ?
5. Xe có bị thiệt hại quan trọng hay không ?
6. Chỗ hành khách ngồi có bị xâm phạm không ?
Khi đó là cơ chế giảm tốc trực diện (frontal deceleration mechanism),
phải xem xét không chỉ các thương tổn thành ngực và đụng dập, mà còn những
thực thể đặc biệt khác, đụng giập cơ tim (myocardial contusion) và vỡ
động mạch chủ (aortic rupture).
5/ ĐỤNG GIẬP CƠ TIM ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN
VÀ ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Không có tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán đụng dập cơ tim (myocardial contusion).
Nhiều phương thức đã được sử dụng để chẩn đoán, gồm điện tâm đồ, radionuclide
scanning, phân tích các men tim, và siêu âm tim. Bởi vì một đụng dập hiếm
khi gây những loạn nhịp nghiêm trọng hay ảnh hưởng lên lưu lượng tim,
nên có một khuynh hướng tránh monitoring tích cực các bệnh nhân chỉ căn
cứ trên cơ chế. Thay vì thế, hầu hết khuyến nghị sử dụng điện tâm đồ và
đánh giá lâm sàng như là công cụ thăm dò. Một điện tâm đồ bình thường
không có bất ổn định huyết động loại trừ sự cần thiết phải monitoring
kéo dài và có thể thực sự loại bỏ một đụng dập cơ tim có ý nghĩa về mặt
lâm sàng. Một điện tâm đồ không bình thường hay hạ huyết áp không giải
thích được có thể cần đánh giá chẩn đoán thêm, như siêu âm tâm ký hay
radionuclide scan. Điều trị triệu chứng, với kềm chế loạn nhịp và những
biện pháp để tối ưu lưu lượng tim.
6/ LÀM SAO MỘT NẠN NHÂN VỠ ĐỘNG
MẠCH CHỦ CÓ THỂ SỐNG CÒN ĐƯỢC ?
Khoảng 85%-90% các bệnh nhân với vỡ động mạch chủ chết, và họ tử vong
trước khi trợ giúp y tế đến. 10-15% sống sót được là bởi vì không phải
tất cả 3 lớp của động mạch chủ bị vỡ ; lớp ngoại mạc (adventia) vẫn nguyên
vẹn và tạm thời ngăn lai sự xuất huyết. Nếu không được điều trị, thương
tổn này thường bị vỡ hoàn toàn và hút kiệt máu, thường trong nhiều giờ
đến nhiều ngày, nhưng điều này có thể bị trì hoãn trong nhiều năm dưới
dạng vỡ phình động mạch giả (pseudoaneurysm rupture).
7/ CƠ CHẾ CỦA RÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ
DO CHẤN THƯƠNG
Động mạch chủ ngực đặc biệt nhạy cảm với các lực cắt xé gia tốc-giảm tốc
(acceleration-deceleration shearing forces) bởi vì cung động mạch chủ
ít di động hơn tim và đoạn động mạch chủ ở dưới dây chằng động mạch (ligamentum
arteriosum). Sự giảm tốc trực diện hay ngang (frontal or transverse deceleration)
gây nên những lực cắt xé ở những điểm cố định, với nơi thông thường nhất
bị vỡ nằm ngay dưới động mạch dưới đòn trái. Những thương tổn do tăng-giảm
tốc thắng đứng như té có thể gây nên một vết rách của động mạch chủ lên
(ascending aorta) với động mạch vành bị thương tổn hay chèn ép tim cấp
tính (acute pericardial tamponade).
8/ MÔ TẢ NHỮNG BƯỚC ĐẦU TIÊN TRONG
CHẨN ĐOÁN VỠ ĐỘNG MẠCH CHỦ ?
Theo truyền thống, thăm dò khởi đầu tìm vỡ động mạch chủ gồm có sự nắm
vững cơ chế gây chấn thương và một phim ngực chụp thẳng đứng. Dấu hiệu
của một bóng trung thất có vẻ bất thường hay rộng ra thường khiến cần
thăm dò thêm đối với những bệnh nhân này. Những dấu hiệu quang tuyến gợi
ý khác gồm lệch ống thông mũi-dạ dày (nasogastric tube) về phía phải,
một mũ đỉnh (apical cap), tràn dịch màng phổi trái, mất cửa sổ động mạch
chủ (loss of the aortic window) hay đường sọc màng phổi trái (left pleural
stripe), cuống phổi trái bi hạ xuống. Một phim ngực chụp nằm ngửa có thể
cho thấy một trung thất rộng ra một cách giả tạo, và vỡ động mạch chủ
có thể hiện diện ngay cả với một phim chụp ngực có vẻ bình thường. Nếu
sự nghi ngờ về mặt lâm sàng đủ mạnh, căn cứ trên cơ chế hay các dấu hiệu
lâm sàng, thì sự đánh giá thăm dò thêm động mạch chủ bằng chụp cắt lớp
vi tính xoắn ốc ngực (helical chest CT) hay chụp động mạch chủ (aortography)
được biện minh.
9/ CHỤP ĐỘNG MẠCH CHỦ HAY CHỤP
CẮT LỚP VI TÍNH XOẮN ỐC (HELICAL CHEST CT) CÓ NÊN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CHẨN
ĐOÁN VỠ ĐỘNG MẠCH CHỦ HAY KHÔNG ?
Theo kinh điển, chụp động mạch chủ (aortography) đã được xem là tiêu chuẩn
vàng để chẩn đoán vỡ động mạch chủ (aortic rupture). Đây là một thủ thuật
tương đối an toàn với độ nhạy cảm cao và tính đặc hiệu cao (cả hai thường
được xem là > 90%). Tuy nhiên, đó cũng là một thủ thuật xâm nhập, tốn
kém, và cần thời gian, có thể không được trang bị bởi tất các các bệnh
viện hay không được dùng trong những ngày nghỉ.
Sự xuất hiện của kỹ thuật cắt lớp vi tính xoắn ốc (helical CT Scanner)
khiến cho CT sanner trở nên một phương pháp chẩn đoán càng ngày càng được
sử dụng. Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (helical CT Sanner) được sử dụng
rộng rãi hơn, thời gian thực hiện nhanh hơn, và thường có thể hoạt động
24 giờ mỗi ngày. Cũng vậy, nhiều bệnh nhân bị chấn thương thường phải
tìm đến CT scanner vì những lý do khác. Các công trình nghiên cứu cho
thấy rằng chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc có độ nhạy cảm 100% và giá trị
tiên đoán âm tính 100% trong chẩn đoán thương tổn động mạch chủ do chấn
thương. Thật vậy những bệnh nhân với scan âm tính không cần phải được
thăm dò thêm. Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc cũng có thể chẩn đoán những
thương tổn nội mạc (intimal injuries) tinh tế, đôi khi bị bỏ sót bởi chụp
động mạch chủ. Bất lợi chính của chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc là tính
đặc hiệu thấp (83% đến 98%) so với chup động mạch chủ. Tuy nhiên, khi
được sử dụng như trắc nghiệm thăm dò, chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc có
thể làm giảm nhiều số trường hợp chụp động mạch chủ được thực hiện một
cách không cần thiết. Một chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc động (dynamic helical
CT scan) của ngực được chấp nhận như là một trắc nghiệm thăm dò ban đầu
để loại bỏ lóc động mạch chủ do chấn thương (traumatic aortic dissection)
bởi vì một CT Scan hoàn toàn bình thường loại bỏ thương tổn động mạch
chủ.
10/ VẾT THƯƠNG NGỰC ĐƯỢC XỬ TRÍ
NHƯ THỂ NÀO ?
Có nhiều phương pháp điều trị và chẩn đoán, tùy theo vị trí của vết thương
ngực và tính chất của tác nhân gây thương tổn.
11/ Ý NGHĨA CỦA VỊ TRÍ CỦA VẾT
THƯƠNG NGỰC LÀ GÌ ?
Vị tri của vết thương ngực quyết định phương pháp lâm sàng căn cứ cơ quan
bị nguy cơ. Trên quan điểm chức năng, các vết thương ngực được xếp loại
thành trung tâm (central), ngoại biên (peripheral), ngực-bụng (thoracoabdominal),
và những vết thương ở những vùng kế cận (bụng và cổ).Về mặt cơ thể học,
các vết thương trung tâm (central wounds) nằm ở phía trước, (được giới
hạn bởi các đường giữa đòn (midclavicular lines), phía trên bởi các xương
đòn, và phía dưới bởi các bờ sụn sườn). Tất cả những vết thương khác được
xem là ngoại biên (peripheral) ; những vết thương này hoặc là ở bên (lateral),
(được giới hạn bởi các đường giữa đòn, các đường nách sau, nách, và các
bờ sụn sườn hay ở sau (posterior), được giới hạn bởi các đường nách sau,
các vai, và các bờ sụn sườn. Các vết thương ngực-bụng (thoracoabdominal
wounds) là những vết thương ở những vị trí dưới của tất cả 3 vùng cơ thể
học. Những phần phía dưới được xác định bởi đường núm vú (nipple line)
ở phía trước, xương sườn thứ sáu ở bên, và đỉnh của xương bả vai ở phía
sau. Bất cứ vết thương nào ở dưới những ranh giới này được xem là ngực
bụng.
12/ NHỮNG VẾT THƯƠNG NGỤC CỦA VÙNG
TRUNG TÂM ĐƯỢC XỬ TRÍ NHƯ THỂ NÀO ?
Những bệnh nhân không ổn định rõ rệt cần mở ngực cấp cứu (emergent thoracotomy)
mà không cần phải thăm dò ở phòng cấp cứu. Những bệnh nhân ổn định nên
được theo dõi sát trong khi thăm dò chẩn đoán được tiến hành (bao gồm
chụp cản quang động mạch chủ, chụp thực quản kèm theo soi thực quản hay
không, và có thể soi khí quản). Nếu thăm dò âm tính, quan sát bệnh nhân
trong 24 đến 48 giờ ; nếu dương tính, cần can thiệp ngoại khoa. Một chụp
cắt lớp vi tính xoắn ốc ngực có thể vô cùng hữu ích để xác định sự hiện
diện và vị trí của xuất huyết trung thất. Nếu thấy xuất huyết quanh động
mạch chủ hay những dấu hiệu trực tiếp của thương tổn động mạch chủ, thì
bệnh nhân nên được thực hiện chụp cản quang động mạch chủ hay đưa thẳng
vào phòng mổ.
13/ NHỮNG CHỈ ĐỊNH MỞ NGỰC CẤP
CỨU (ED THORACOTOMY)
Những nạn nhân với vết thương ngực bị ngừng tim lúc đến bệnh viện hay
ngừng tim tại nơi tai nạn và không đòi hỏi hồi sức tim-hô hấp kéo dài.
Nếu hơn 10 phút hồi sức tim- hô hấp được thực hiện, thì mở ngực cấp cứu
là vô ích. Tương tự như thế, những nạn nhân bị chấn thương đụng dập ngực
bị ngừng tim không nên mở ngực cấp cứu bởi vì tỷ lệ sống còn là 0%. Ngoại
lệ duy nhất có thể là những bệnh nhân nghi vỡ tim, có thể được cứu sống
nhờ mở lồng ngực nhanh chóng.
14/ NHỮNG DẤU HIỆU X-QUANG CỦA
TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI DƯỚI ÁP LỰC (TENSION PNEUMOTHORAX) ?
Chẩn đoán nên được thực hiện trên cơ sở lâm sàng, và điều trị nên được
thực hiện trước khi chụp X quang. Nếu có được một phim chụp ngực, có thể
thấy một nửa lồng ngực tăng sáng (hyperlucent), quá nở (overexpanded)
với một tràn khí màng phổi rõ rệt và một trung thất bị đẩy sang phía đối
diện.
15/ NHỮNG DẤU HIỆU LẮM SÁNG CỦA
TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI DƯỚI ÁP LỰC ?
Suy hô hấp (respiratory distress), một nửa phổi nở quá mức (overexpanded
hemothorax), tăng vang âm (hyperresonance) lúc đả chẩn, tiếng thở giảm
rõ rệt hay biến mất, khí quản bị đẩy lệch bởi tràn khí màng phổi (khí
quản phải được sờ thấy trên hõm xương ức (sternal notch), không đánh giá
được bằng thị chẩn), tim nhịp nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, khí thủng dưới
da, và hạ huyết áp. Ngoài ra, nơi những bệnh nhân được đặt ống thông nội
khí quản và đang được thông khí bằng bóng (bag ventilation), sức đề kháng
gia tăng lúc thông khí (đòi hỏi tăng áp lực bằng bóp bóng để thổi khí
vào phổi) thường là dấu hiệu sớm nhất của tràn khí màng phổi dưới áp lực.
16/TẠI SAO TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI DƯỚI
ÁP LỰC GÂY HẠ HUYẾT ÁP ?
Sự xê dịch trung thất (mediastinal shift) làm trở ngại hồi lưu máu tĩnh
mạch cảnh về tim. Tiền gánh (preload) bị giảm nghiêm trọng làm giảm thể
tích tống máu (stroke volume), giảm lưu lượng tim, và gây hạ huyết áp.
17/ ĐIỀU TRỊ CỦA TRẦN KHÍ MÀNG
PHỔI DƯỚI ÁP LỰC ?
Làm giảm tức thời áp lực trong xoang phế mạc về phía bị thương tổn là
liệu pháp thích hợp. Đối với những bệnh nhân trong tình trạng cực kỳ,
cách hay nhất để thực hiện điều này và cũng là cách nhanh nhất : đặt một
catheter trên kim cỡ 14G qua xương sườn thứ tư hay thứ năm trên đường
giữa nách giữa (midaxillary line), sau đó hút với một ống tiêm 50mL. Sau
khi những dấu hiệu sinh tồn cải thiện, thủ thuật nên được tiếp theo ngay
bởi đặt ông dẫn lưu ngực (tube thoracostomy), là điều trị quyết định.
Đối với những bệnh nhân ổn định, không cần phải hút trước khi đặt ống
dẫn lưu ngực (chest tube).
18/ KHI NÀO THÌ NGHI NGỜ CHÈN ÉP
TIM (PERICARDIAL TAMPONADE) ?
Chèn ép tim cấp tính (acute pericardial tamponade) là một tình trạng xảy
ra do sự tích tụ máu và huyết đông trong khoang màng ngoài tim (pericardial
space). Khi áp lực trong khoang màng ngoài tim vượt quá áp lực làm đầy
tim (cardiac filling pressure), choáng và nhiên hậu tử vong nhanh chóng
sẽ xảy ra. Chèn ép tim nên được nghi ngờ nơi bất cứ bệnh nhân nào với
vết thương ngực (đặc biệt là trong vùng trung tâm), phát triển hạ huyết
áp, tim nhịp nhanh, và áp lực tĩnh mạch trung tâm gia tăng sau khi tràn
khí màng phổi dưới áp lực đã được điều trị và loại bỏ. Phương tiện chẩn
đoán chính xác nhất một tràn dịch màng ngoài tim (pericardial effusion)
là siêu âm cạnh giường (bedside ultrasonography).
19/ CHÈN ÉP TIM CẤP TÍNH ĐƯỢC ĐIỀU
TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Thái độ xử trí thích hợp nơi một bệnh nhân không ổn định là chọc màng
ngoài tim (pericardiocentesis), tiếp theo sau là chuyển ngay đến phòng
mổ để điều trị quyết định. Nếu không có các dấu hiệu sinh tồn ở phòng
cấp cứu, chỉ định thực hiện mở ngực ngay (immediate thoracotomy). Nơi
các bệnh nhân ổn định với chèn ép tim sắp xảy ra, sự hiện diện của máu
trong khoang màng ngoài tim có thể được xác nhận bởi siêu âm cạnh giường.
Nơi các bệnh nhân không ổn định, chẩn đoán được xác nhận bởi sự đáp ứng
với các can thiệp điều trị.
20/ CÓ PHẢI TẤT CẢ BỆNH NHÂN VỚI
MỘT VẾT THƯƠNG NGỰC DO DAO ĐÂM ĐỀU CẦN ĐƯỢC NHẬP VIỆN ?
Những bệnh nhân với những vết thương ngoại biên, không phải trong vùng
ngực-bụng, ổn định và có một phím ngực ban đầu bình thường, thường không
cần nhập viện. Những bệnh nhân này nên được quan sát ở phòng cấp cứu và
cho chụp lại phim và xét nghiệm hematocrit trong 4 -6 giờ. Nếu bình thường,
bệnh nhân có thể được cho ra viện
21/ CÁC VẾT THƯƠNG HỎA KHÍ NGOẠI
BIÊN ĐI XUYÊN QUA TRUNG THẤT ĐƯỢC XỬ TRÍ MỘT CÁCH KHÁC ?
Việc xác định đạn đạo căn cứ trên vết thương vào (entry wound) và vị trí
yên nghỉ sau cùng hay vết thương ra (exit wound), không luôn luôn chính
xác. Tuy nhiên, nếu đạn đạo được ước tính đi xuyên qua trung thất, những
bệnh nhân này cần một đánh giá chẩn đoán sâu hơn trong khi họ được theo
dõi như bệnh nhân nội trú. Những bệnh nhân này nên được thăm dò như những
bệnh nhân bị vết thương ngực vùng trung tâm.
22/ CÁC VẾT THƯƠNG NGỰC- BỤNG ĐƯỢC
XỬ TRÍ NHƯ THẾ NÀO ?
Vì vị trí của vết thương nằm phần dưới của ngực, nên những vết thương
như thế có nguy cơ gây thương tổn các cơ quan dưới cơ hoành, trong phúc
mạc, và sau phúc mạc. Không có sự nhất trí về việc xử trí những bệnh nhân
này ra sao. Vài người chủ trương chỉ cần quan sát theo dõi, căn cứ can
thiệp ngoại khoa trên những dấu hiệu vật lý dương tính. Những người khác
sử dụng rửa màng bụng chẩn đoán (diagnostic pertitoneal lavage) với các
tiêu chuẩn hồng cầu thấp (> 5.000 hay 10.000 hồng cầu trái với 50.000
đến 100.000 như bình thường). Những người khác sử dụng soi ổ bụng (laparoscopy)
như là một phương tiện đánh giá dứt khoát hơn nhưng khó khăn và tốn thời
gian hơn. Các vết thương ngực-bụng sau (posterior thoracoabdominal wounds)
đặc biệt khó đánh giá bởi vì các thương tổn sau phúc mạc là chủ yếu, và
chúng không phát hiện được với rửa phúc mạc. Quan sát theo đối với một
thăm dò chẩn đoán được khuyến nghị. Vài người chỉ quan sát theo dõi, trong
khi những người khác khuyến nghị thêm một chụp bể thận bằng đường tĩnh
mạch (intravenous pyelography), rửa phúc mạc chẩn đoán, chụp cắt lớp vi
tính bụng, chụp cắt lớp vi tính với thụt chất cản quang (contrast-enhanced
CT enema). Thủ thuật sau cùng này cho thêm chất cản quang vào trực tràng,
ngoài các chất cản quang tiêm tĩnh mạch và uống, được cho trong khi chụp
cắt lớp vi tính bụng. Mục đích là chẩn đoán sớm một thương tổn đại tràng
ẩn (occult colon injury).
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (11/8/2009)
References : Emergency Medicine Secrets.
Copyright, 2008.
Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y
Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |