 |
CẤP
CỨU CHẤN THƯƠNG SỐ 16
- Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh
CHẤN THƯƠNG
CƠ-XƯƠNG VÀ CÁC TÌNH TRẠNG CỦA CHI
(MUSCULOSKELETAL TRAUMA AND CONDITIONS OF THE EXTREMITY)
NGUYÊN TẮC CHUNG
1/ NHỮNG ƯU TIÊN ĐIỀU TRỊ
TỨC THỜI TRONG GÃY XƯƠNG HỞ ?
Như trong bất cứ bệnh nhân bị chấn thương nào, những ưu
tiên tức thời là ABC. Bất cứ vết nứt nào trên da gần nơi gãy xương nên
được giả định là thông thương với ổ gãy cho đến khi được chứng minh ngược
lại. Sau khi đã thăm khám cẩn thận với đánh giá thần kinh và mạch máu,
vết thương nên được làm sạch các ô nhiễm thấy rõ, và nên đặt băng vô trùng
với một dung dịch 1% povidone-iodine (Betadine). Có thể đè ép trực tiếp
để cầm máu. Sắp thẳng hàng theo trục và đặt nẹp làm bất động xương, như
vậy làm giảm mất máu và bảo vệ mô mềm khỏi bị thương tổn thêm nữa.Thăm
dò vết thương, cấy vết thương, rửa vết thương, và thăm khám nhiều lần
vết thương cần nên tránh, do sự gia tăng khả năng ô nhiễm thứ phát và
thương tổn mô mềm.Thường cho phòng ngừa uốn ván và kháng sinh bằng đường
tĩnh mạch. Cephalosporin thế hệ thứ nhất, kết hợp với (hoặc không) aminoglycoside,
được sử dụng thông thường nhất trong điều trị dự phòng bằng kháng sinh.
2/ TY LỆ NHỮNG BỆNH NHÂN ĐA CHẤN
THƯƠNG CÓ GÃY XƯƠNG KHÔNG ĐƯỢC NHẬN BIẾT VÀO LÚC NHẬP VIỆN ?
Trong số những bệnh nhân đa chấn thương,
20% có những gãy xương không được nhận biết vào lúc đánh giá khởi đầu.
Nói chung, những gãy xương này không xảy ra nơi bộ xương trục (axial skeleton)
hay những xương dài. Những gãy xương không được nhận biết này thường nhất
định vị ở các bàn tay và bàn chân. Sự kiện quan trọng này cho thấy sự
cần thiết thăm khám nhiều lần bệnh nhân bị đa chấn thương.
3/ HỘI CHỨNG NGĂN
(COMPARTMENT SYNDROME) LÀ GÌ ?
Một tình trạng phát triển khi áp
suất trong một khoang kín của ngăn cơ (muscle compartment) vượt quá áp
suất làm đầy (filling pressure) của các tiểu tĩnh mạch và động mạch cung
cấp máu cho cơ, đưa đến tình trạng thiếu máu cục bộ và hoại tử cơ và mô
thần kinh. Những tình trạng hay tình huống làm gia tăng các thành phần
trong ngăn hay làm giảm khả năng giãn ra của ngăn, có thể đưa đến hội
chứng ngăn. Những nguyên nhân thông thường gồm có gãy xương, chấn thương
do đè ép (crush injuries), xuất huyết, sưng phù sau khi sửa chữa thương
tổn huyết quản, bó bột hay băng chặt, MAST (Military Anti-Shock Trousers),
và các vết bỏng.
4/ CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU CHỨNG CỦA HỘI
CHỨNG NGĂN ?
Chẩn đoán cổ điển của hội chứng ngăn được chỉ rõ bởi 5
P : pain (đau đớn), pallor (tái nhợt), paresthesia (dị cảm), pulselessness
(không có mạch), và paralysis (liệt). Đau đớn là triệu chứng sớm nhất
và thông thường nhất liên kết với hội chứng ngăn. Trong trường hợp điển
hình đau đớn là nghiêm trọng hơn so với dự đoán, căn cứ trên nguyên nhân
được liên kết. Đau đớn được làm tăng thêm khi các cơ của khoang bị liên
hệ được kéo căng ra. Đau đớn có tính chất do thiếu máu cục bộ và thường
không được làm giảm bởi các thuốc nha phiến. Dị cảm (paresthesia) là một
dấu hiệu thông thường khác chỉ rõ một thời kỳ tăng áp suất trong khoang
kéo dài. Tái nhợt, không có mạch và bại liệt là những dấu hiệu muộn, và
tình trạng không thể đảo nghịch được ở giai đoạn này. Có nhiều phương
pháp đo áp lực trong khoang (intracompartmental pressure) để có bằng cớ
khách quan của hội chứng khoang. Tiêu chuẩn vàng của chẩn đoán hội chứng
ngăn là một thăm khám lâm sàng dương tính kết hợp với một bệnh sử có vẻ
hợp lý. Bỏ sót chẩn đoán hay chẩn đoán muộn hội chứng ngăn đều gây tai
họa, biện minh cho một thái độ nghi ngờ cao và hội chẩn chuyên khoa sớm.
5/ NHỮNG VỊ TRÍ THÔNG THƯỜNG NHẤT CỦA HỘI
CHỨNG NGĂN ?
Ngăn sau (volar compartment) của cẳng tay và ngăn trước
(anterior compartment) của cẳng chân. Ngăn sau và sâu của cẳng chân là
nơi thường bỏ sót nhất đối với hội chứng này. Gãy trên lồi cầu ở trẻ em
và các gãy hai xương cẳng tay là những thương tổn thường được liên kết
nhất với quá trình này ở chi trên. Gãy phần trên xương chày là nguyên
nhân thông thường nhất của hội chứng ngăn ở cẳng chân. Hội chứng ngăn
cũng được biết là xảy ra ở bàn chân, đùi chân, và cánh tay trên. Có thể
có sự hiện diện của gãy xương hay không.
6/ ĐIỀU TRỊ CỦA HỘI CHỨNG NGĂN LÀ
GÌ ?
Surgical release lớp cân bọc ngăn là điều
trị hữu hiệu duy nhất đối với tình trạng này. Những biện pháp tạm thời
có thể được sử dụng để ngăn ngừa hội chứng ngăn (compartment syndrome)
bao gồm đưa cao chi lên ngang mức tim và duy trì một áp suất làm đầy tiểu
động mạch bình thường bằng cách duy trì áp suất bình thường.
7/ MÔ TẢ BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG CÓ THỂ CÓ
CỘT SỐNG CỐ ĐƯỢC THANH LỌC VỀ LÂM SÀNG ?
Clinical clearance bệnh nhân chấn thương mà không cần
chụp X quang đòi hỏi một bệnh nhân tỉnh táo (awake), lanh lợi, và không
dùng các chất làm biến đổi trạng thái tâm thần. Bệnh nhân không được có
một thương tổn làm không chú ý (distracting injury), như các gãy xương
dài quan trọng ; vỡ chậu ; hay những gãy xương ở phần gần xương cánh tay,
xương đòn, hay xương bả vai. Nếu bệnh nhân không kêu đau, không có nhạy
cảm đau lúc thăm khám, và có thể cử động không bị hạn chế không đau đớn,
thì sự bất độ cột sống cổ có thể đình chỉ. Nếu những đòi hỏi này không
được thỏa mãn, cần phải chụp phim để bổ sung việc đánh giá.
8/ MÔ TẢ PHÂN TÍCH DỊCH KHỚP PHÙ
HỢP VỚI VIÊM KHỚP NHIỄM KHUẨN (SEPTIC ARTHITIS)
Lúc thị chẩn, chất dịch đục. Nhuộm gram chất dịch
thường cho thấy sự hiện diện của những tế bào đa nhân và có thể chứng
tỏ hay không sự hiện diện của vi khuẩn. Đếm tế bào có lẽ là khía cạnh
quan trọng nhất của phân tích dịch khớp. Đếm bạch cầu toàn thể thường
hơn 75.000 tế bào với hơn 80% là những tế bào đã nhân. Nồng độ glucose
trong dịch khớp là thấp khi so sánh với nồng độ huyết tương.
9/ MÔ TẢ CÁC DẤU HIỆU HIỀN VI PHÙ HỢP VỚI
BỆNH THỐNG PHONG TRONG PHÂN TÍCH DỊCH KHỚP.
Để chẩn đoán bệnh thống phong, đòi hỏi rút dịch khớp.
Các tinh thể monosodium urate là dài và mảnh hay hình chiếc kim (needle-shaped)
và cho thấy luong chiet (birefringence) am tinh mạnh khi được nhìn dưới
ánh sáng phân cực (polarized light).
10/ KHỚP NÀO THƯỜNG BỊ NHẤT TRONG
BỆNH THỐNG PHONG ?
Khớp đốt bàn chân-ngón chân (metatarsophalangeal
joint) của ngón cái (75%). Loại bệnh thống phong này được gọi tên là thống
phong bàn chân (podagra). Những khớp thường bị viêm khác là các khớp cổ
chân (tarsal joints), mắc cá, và đầu gối. Gout đa khớp trong 40% các bệnh
nhân.
11/ SỰ KHÁC NHAU
GIỮA BỆNH THỐNG PHONG VÀ BỆNH THỐNG PHONG GIẢ ?
Bệnh thống phong (gout) phát triển khi
các tinh thể sodium urate kết tụ trong một khớp và phát khởi một phản
ứng viêm. Bệnh thống phòng giả (pseucogout) được gây nên do sự lắng đọng
của các tinh thể calcium pyrophosphate. Khi được nhìn dưới kinh hiển vi
ánh sáng phân cực, các tinh thể của gout xuất hiện dưới dạng hình cây
kim (needle-shaped) và lưỡng chiết âm tính (negatively birefringent),
trong khi các tinh thể của gout giả có hình bình hành (rhomboid) và lưỡng
chiết dương tính (positively birefringent)
12/ KẾ CÁC DẤU HIỆU X QUANG PHÙ HỢP VỚI
BỆNH THỐNG PHONG GIẢ (PSEUDOGOUT) HAY CHỨNG Ứ ĐỌNG CALCIUM PYROPHOSPHATE
TRONG KHỚP GỐI
Sự vôi hóa của meniscus.
13/ BỆNH THỐNG PHONG VÀ VIÊM KHỚP
NHIỄM KHUẨN CÓ THỂ HIỆN DIỆN ĐỒNG THỜI KHÔNG?
Có.
14/ VI KHUẨN THÔNG THƯỜNG
NHẤT LIÊN KẾT VỚI VIÊM KHỚP NHIỄM KHUẨN ?
Tụ cầu khuẩn vàng
15/ VI KHUẨN NÀO PHẢI ĐƯỢC XÉT ĐẾN
NƠI BỆNH NHÂN VỚI VIÊM KHỚP NHIỄM KHUẨN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỐI VỚI
BỆNH ĐƯỢC LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC ?
Neisseria gonorrhea.
16/ LÀM SAO CHẤN ĐOÁN VẾT THƯƠNG
KHỚP DO CHẤN THƯƠNG ?
Việc thăm dò một vết thương nằm kế cận một khớp
là không đủ, có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng, và nói chung nên
tránh. Phim X quang của khớp bị thương tổn có thể phát hiện sự hiện diện
của khí trong khớp, chỉ cho biết khớp bị xâm phạm. Chẩn đoán xác định
được thực hiện bởi hình chụp khớp (arthrogram). Nước muối vô trùng kết
hợp với một lượng nhỏ bleu de méthylène nên được tiêm vào trong khớp.
Một lượng đáng kể chất dịch cần được tiêm vào để làm căng phồng khớp.
Vết thương do chấn thương được xem xét tìm sự thoát ra của chất dịch được
tiêm vào. Dịch nên được rút ra khỏi khớp.
17/ KHI NÀO NÊN CHO CHỤP X QUANG
? VÀ BAO NHIỀU HÌNH ?
Nên cho chụp X quang, căn cứ trên những dấu hiệu
thăm khám vật lý. Các phim chụp nên bao gồm các khớp trên và dưới vùng
thương tổn. Luôn luôn cần hai tư thế. Việc chụp X quang không được làm
cản trở quá trình hồi sức nơi bệnh nhân đa chấn thương. Trong những tình
huống biến dạng chi làm tổn thương huyết quản hay làm mất sinh khí da
nằm phía trên, nên hoãn lại chụp X quang, trong lúc nắn cấp cứu và bất
động chi bị thương tổn.
BÀN TAY VÀ CHI
TRÊN (HAND
AND UPPER EXTREMITY)
1/ PHUƠNG PHÁP TỐT NHẤT ĐỂ CẦM MÁU NƠI MỘT VẾT THƯƠNG RÁCH Ở
BÀN TAY VÀ CẲNG TAY ?
Đè ép trực tiếp. Hiếm khi cần đến garrot. Thói quen
đặt kềm một cách mò mẫm vào trong vết thương là nguy hiểm và thường có
thể gây tổn hại những cấu trúc kế cận với huyết quản gây xuất huyết, như
dây thần kinh giữa và trụ.
2/ KHỚP ĐỐT BÀN
TAY-NGÓN TAY (METACARPOPHALANGEAL JOINT) NÀO THƯỜNG BỊ RÁCH NHẤT KHI MỘT
NGƯỜI CHO MỘT QUẢ ĐẤM ?
Khớp đốt bàn tay-ngón tay thứ ba bởi vì đó là khớp
đốt ngón tay (knuckle) lồi lên nhất khi nắm chặt bàn tay lại.
3/ BIẾN DẠNG BAO
NHIÊU CÓ THỂ CHẤP NHẬN NƠI MỘT GÃY XƯƠNG ĐỐT BÀN TAY (METACARPAL FRACTURE)
?
Biến dạng xoay (rotational deformity) không chịu
được tốt và nên cần được điều chỉnh. Biến dạng xoay trong một gãy của
cổ và thân xương đốt bàn tay (metacarpal neck or shaft fracture) làm cho
các ngón tay bắt chéo nhau khi nạn nhân nắm chặt tay lại. Biến dạng gấp
(flexion deformity) của gãy xương là thông thường nhất và chịu đựng được
tốt. Có thể chấp nhận biến dạng gấp 10 độ, 20 độ, 30 độ, và 40 độ, từ
ngón trỏ cho đến ngón út. Một mức độ biến dạng lớn hơn được chấp nhận
nơi ngón út, do tính cử động gia tăng của khớp cổ-đốt bàn tay (carpometacarpal
joint). Điều này cũng đúng đối với gãy xương đốt bàn tay của ngón cái,
trong đó biến dạng gấp 40 độ (angular deformity) có thể được chấp nhận.
4/ VI KHUẨN NÀO
THƯỜNG ĐƯỢC LIÊN KẾT VỚI MÈO CẮN, VÀ TRỊ LIỆU KHÁNG SINH ?
Pasteurella multocida, Penicillin G.
5/ CẦN PHẢI LÀM
GÌ VỚI PHẦN BỊ CẮT CỤT CÓ THỂ ĐƯỢC GHÉP LẠI ?
1. Loại bỏ ô nhiễm bằng cách tiên với nước muối
sinh lý.
2. Bọc phần bị cắt cụt trong một miếng gạc vô trùng, làm ướt (không phải
là nhúng) bởi muối sinh lý.
3. Đặt phần bị cắt cụt và được bọc lại trong một bao plastic được niêm
kín hay trong một đồ chứa.
4. Đặt bọc hay vật chứa trong nước đá lạnh.
6/ LIỆT KÊ NHỮNG
CẮT CỤT DO CHẤN THƯƠNG NÊN XÉT XÉT ĐẾN ĐỂ GHÉP LẠI.
1. Trẻ em
2. Cắt cụt nhiều ngón tay.
3. Ngón cái.
4. Bàn tay
5. Cánh tay
Quyết định cuối cùng luôn luôn là của chuyên khoa phẫu thuật bàn tay.Thường
thường tốt nhất là việc thảo luận chi tiết về ghép lại (replantation)
với bệnh nhân và gia đình nên dành cho chuyên khoa vi huyết quản..
7/ ĐIỀU TRỊ THÍCH
HỢP ĐỐI MỘT BỆNH NHÂN VỚI ĐAU Ở HỘP THUỐC LÁ (SNUFFBOX) CỦA CỔ TAY VÀ
CHỤP X QUANG BÌNH THƯỜNG SAU MỘT CHẤN THƯƠNG Ở CỔ TAY ?
Xương thuyền (scaphoid) dễ ấn chẩn nơi hộp thuốc
lá cơ thể học (anatomic snuffbox) của cổ tay. Hộp thuốc lá (snuffbox)
là khoảng giữa cơ duỗi dài ngón cái (extensor pollicis longus) và cơ duỗi
ngắn ngón cái (extensor pollicis brevis). Nhạy cảm đau ở vùng này gợi
ý gãy xương thuyền (scaphoid fracture). Sự vắng mặt dấu hiệu gãy xương
trên phim chụp ban đầu không phải là không thường xảy ra. Khi xương bị
hoại tử nơi chỗ gãy xương bị tiêu đi, đường gãy thường trở nên rõ rệt
trên phim X quang khoảng 14 ngày sau chấn thương. Những bệnh nhân với
tình trạng này nên được bất động trong một thumb spica splint hay cast
ngón cái và được gởi đến một thầy thuốc chỉnh hình để được đánh giá. Vì
lý do này, cả scan và MRI xương không được chỉ định trong đánh giá cấp
tính.
8/ TỶ LỆ MẮC PHẢI
VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG CỦA SAI KHỚP VAI SAU ?
Tỷ lệ là 5% của tất cả những trật khớp vai. Các
cơn động kinh co cứng- co giật (tonic-clonic seizures), sốc điện, chấn
thương vai trước trực tiếp là những nguyên nhân thông thường nhất của
trật khớp vai sau.
9/ TỶ LỆ PHẦN TRĂM
NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI SAI KHỚP VAI TRƯỚC LẦN ĐẦU BỊ MỘT SAI KHỚP TÁI PHÁT
?
Trong số những bệnh nhân 30 tuổi hoặc dưới, 90%
bị sai khớp tái phát. Đối với những bệnh nhân lớn tuổi hơn, tỷ lệ là thấp
hơn và thay đổi, tùy thuộc vào cơ chế của chấn thương.
10/ NHỮNG BIẾN
CHỨNG CÓ THỂ XẢY RA CỦA SAI KHỚP VAI TRƯỚC ?
Dây thần kinh nách (axillary nerve) có nguy cơ bị
thương tổn vào lúc bị sai khớp. Nên thực hiện thăm khám cẩn thận cơ delta
để đánh giá chức năng vận động. Dây thần kinh nách cũng phân bố cảm giác
cho mặt ngoài của vai, và cảm giác nên được kiểm tra ở vùng này. Ngoài
tổn thương dây thần kinh nách, rách rotator cuff có thể xảy ra vào lúc
sai khớp.
11/ ROTATOR CUFF
TEAR ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO ?
Bệnh nhân thường kêu đau với những hoạt động của
chi lên qua đầu, đau vào ban đêm, và đau lúc dạng cánh tay. Bệnh nhân
khó khăn lúc dạng cánh tay và thường không thể đưa cánh tay lên trên mức
vai. Với vai dạng ở 90 độ, gập ra trước 30 độ, và quay vào trong tối đa,
bệnh nhân không thể chống lại sự đè xuống trên chi (supraspinatus strength
test).
12/ SAI KHỚP ỨC-ĐÒN
SAU (POSTERIOR STERNOCLAVICULAR DISLOCATION) ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO
?
Phim X quang thường không thành công. CT scan là
phương cách chẩn đoán có hiệu quả nhất.
13/ MÔ TẢ Ý NGHĨA
CỦA SAI KHỚP ỨC-ĐÒN TRƯỚC VÀ SAU ?
Sai khớp ức-đòn trước (anterior sternoclavicular)
không bị liên kết với các biến chứng quan trọng và được điều trị dễ dàng
với một băng đeo (sling).
Trong số các sai khớp ức-đòn sau, 25% bị liên kết với những biến chứng,
gồm có vỡ hoặc đè ép khí quản ; tắc hoặc vỡ thực quản, đụng dập phổi và
rách hoặc tắc tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch hay động mạch dưới đòn. Nắn
sai khớp ức-đòn sau chỉ nên được thực hiện trong phòng mổ, với sự hiện
diện của thầy thuốc ngoại tim-lồng ngực.
14/ NGUYÊN NHÂN
LIỆT THẦN KINH THÔNG THƯỜNG NHẤT TRONG GÃY THÂN XƯƠNG CÁNH TAY ?
Dây thần kinh quay (radial nerve) có thể bị kéo
căng (neurapraxia) hoặc đôi khi bị xé rách (neurotmesis). Tình trạng này
điển hình xảy ra với những gãy xương ở 1/3 dưới xương cánh tay. Sự mất
chức năng gồm có không thể duỗi cổ tay hay các ngón tay ở các khớp đốt
bàn tay-ngón tay (metacarpophalangeal joint) và tê ở mu bàn tay về phía
quay. Sự duỗi gian đốt ngón (interphalangeal extension), biểu thị chức
năng của dây thần kinh trụ và quay được bảo toàn.
15/ SỰ KHÁC NHAU
GIỮA GÃY DO BỊ GẬY ĐÁNH (NIGHTSTICK FRACTURE) VÀ GÃY MONTEGGIA ?
Một gãy xương trụ (điển hình là 1/3 gần) với sai
khớp đầu xương quay (radial head dislocation) là một gãy Monteggia. Gãy
xương này xảy ra là do té ngã trên một bàn tay duỗi, liên kết với lực
vẹo ngoài (valgus force) lên chi. Điều trị đòi hỏi cố định trong (internal
fixation) của gãy xương trụ. Một gãy xương do gậy đánh (nightstick fracture)
là một gãy xương trụ do một cú đánh trực tiếp lên thân xương trụ. Không
có thương tổn liên kết của khớp trụ-quay gần (proximal radial ulnar joint)
của cánh tay. Trong tất cả các trường hợp, những thương tổn này có thể
được điều trị bằng những biện pháp kín. Những gãy xương do gậy đánh với
vỡ vụn (comminution) đáng kể, gập góc 10 đến 15 độ, hoặc xê dịch hơn 50%
có thể xét đến cố định bằng phẫu thuật (operative fixation).
16/ DÂY THẦN KINH
NÀO THƯỜNG BỊ THƯƠNG TÔN TRONG GÃY MONTEGGIA ?
Dây thần kinh liên cốt sau (posterior interosseous
nerve) nằm sát với cổ của xương quay. Khi đầu xương quay bị sai khớp,
dây thần kinh này thường bị căng ra, đưa đến bị kéo căng (neupraxia) và
không thể duỗi ngón cái hay cổ tay.
17/ PHÂN BIỆT GIỮA
MỘT LIỆT DÂY THẦN KINH QUAY VÀ MỘT LIỆT DÂY THẦN KINH LIÊN CỐT SAU ?
Trong liệt dây thần kinh quay (radial nerve palsy),
chức năng của tất cả các cơ được phân bố bởi dây thần kinh này bị mất,
bao gồm các cơ duỗi cổ tay (wrist extensors) và nhánh cảm giác, cung cấp
cảm giác cho khoảng kẽ mu (dorsal web space) thứ nhất của bàn tay. Dây
thần kinh liên cốt sau (posterior interosseous nerve) là nhánh vận động
đi ra sau cơ ngửa cẳng tay, và do đó các cơ duỗi cổ tay vẫn hoạt động,
cũng như cảm giác của khoảng kẽ thứ nhất. Trong liệt dây thần kinh liên
cốt sau, chỉ có các cơ duỗi của các khớp đốt bàn tay-ngón tay là bị ảnh
hưởng mà thôi.
CHI DƯỚI VÀ GÃY
XƯƠNG CHẬU (LOWER EXTREMITY AND PELVIC FRACTURES)
1/ KỂ NHỮNG BIẾN
CHỨNG LIÊN QUAN TRỰC TIẾP VỚI VỠ XƯƠNG CHẬU ?.
Xuất huyết và và thương tổn niệu- sinh dục, gồm có vỡ bàng quang và rách
niệu đạo (urethral tear).
2/ TỶ LỆ TỬ VONG NƠI NHỮNG BỆNH
NHÂN VỚI VỠ XƯƠNG CHẬU HỞ ?
- 50%
3/ NHỮNG ĐIỀU CÂN NHẮC CHÍNH TRONG
XỬ TRÍ XUẤT HUYẾT NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI VỠ XƯƠNG CHẬU ?
Phải thực hiện một đánh giá đầy đủ để tìm những
thương tổn đe dọa đến tính mạng khác. Những bệnh nhân với những gãy xương
chậu quan trọng thường có những tổn thương liên kết. Những chấn thương
đầu kín hay xuất huyết nội tạng là những nguyên nhân thông thường của
tử vong nơi những bệnh nhân với gãy xương chậu quan trọng. Nên hội chẩn
ngoại khoa tức thời. Một gãy xương chậu tự bản thân nó có thể đưa đến
xuất huyết quan trọng, ngay cả chết người, đặc biệt là những gãy xương
không vững về phương diện sinh vật lý. Cần tiêm truyền tích cực crystalloid,
máu, các tiểu cầu, và huyết thanh tươi đông lạnh (fresh frozen plasma).
4/ TỶ LỆ MẮC PHẢI VÀ CƠ CHẾ CHẤN
THƯƠNG TRONG SAI KHỚP HÁNG SAU ?
Hơn 80% là sai khớp háng sau và do một lực hướng
ra sau lên đầu gối gập lại, như xảy ra khi đầu gối đánh vào bảng đồng
hồ (dashboard) trong một tai nạn ô tô.
5/ NHỮNG BIẾN CHỨNG CỦA SAI KHỚP
HÁNG SAU ?
Liệt dây thần kinh tọa (sciatic nerve deficit) được
nhận thấy trong khoảng 10% các bệnh nhân, đưa đến yếu hay mất chức năng
cơ hamstring ở đùi và tất cả các cơ của cẳng chân. Một hoại tử vô huyết
quản (avascular necrosis) xảy ra nơi 10% đến 15% các bệnh nhân, nhưng
gia tăng lên 50% nếu nắn xương bị trì hoãn trên 12 giờ. Nếu nắn được thực
hiện nhanh chóng, 20% các bệnh nhân phát triển hư khớp (osteorathritis).
6/ LÀM SAO PHÂN BIỆT TRÊN LÂM SÀNG
SAI KHỚP HÁNG SAU VỚI GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI HAY GÃY GIAN MẤU CHUYỂN (INTERTROCHANTERIC)
XƯƠNG ĐÙI ?
Cả hai đều đưa đến ngắn chi dưới. Trong sai khớp
háng sau (posterior hip dislocation), háng bị gập (flexed), khép lại (adducted),
và xoay vào trong. Tư thế này thường được gọi là tư thế khiêm tốn (position
of modesty). Với gãy cổ xương đùi hay gãy liên mấu chuyển (intertrochanteric
fracture), chi dưới không gập nhưng ngắn lại, dạng ra (abducted) và xoay
ra ngoài.
7/ TRONG GÃY THÂN XƯƠNG ĐÙI MÁU
BỊ MẤT KHOẢNG BAO NHIÊU ?
500 đến 1500 mL.
8/ NHỮNG GÃY THÂN XƯƠNG ĐÙI ĐƯỢC
CỐ ĐỊNH TỐT NHẤT TRONG PHÒNG CẤP CỨU NHƯ THẾ NÀO ?
Hare longitudinal traction. Hầu hết các thầy thuốc
phòng cấp cứu mang những thiết bị kéo này và đặt chúng nơi hiện trường
hay xe cứu thương. Hare traction không nên đặt tại chỗ trong hơn 2 giờ
mà không thường xuyên kiểm tra thần kinh mạch vì khả năng hội chứng ngăn
và thương tổn mạch máu. Một phương pháp thứ hai là đặt một đinh để kéo
(traction pin) ở đầu dưới xương đùi và được kéo nối với giường hay gurney.
Đặt nẹp không có hiệu quả.
9/ TẠI SAO BỆNH NHÂN VỚI BỆNH LÝ
Ở VÙNG HÁNG LẠI ĐAU Ở ĐẦU GỐI ?
Một bệnh nhân với một vấn đề ở vùng háng có thể
kêu đau ở mặt trước phần dưới của đùi và mặt trong của đầu gối. Đầu gối
và háng cùng chia sẻ chung một phân bố thần kinh qua dây thần kinh bịt
(obturator nerve). Hãy luôn luôn nghi ngờ một vấn đề ở vùng háng nơi một
bệnh nhân kêu đau ở đầu gối mà không có những dấu hiệu tương ứng lúc thăm
khám vật lý. Thăm khám cẩn thận đầu gối và khớp háng, với những phim chụp
thích ứng vùng háng, là cần thiết để hoàn chỉnh việc đánh giá.
10/ KỂ TÊN THƯƠNG TỔN THÔNG THƯỜNG
NHẤT LIÊN KẾT VỚI TRÀN MÁU KHỚP DO CHẤN THƯƠNG CỦA KHỚP GỐI.
Vỡ dây chằng chéo trước (anterior cruciate ligament
rupture). Nếu những giọt mỡ được ghi nhận trong dịch hút của khớp, thì
khả năng một gãy xương trong khớp được kết hợp nên được tìm kiếm.
11/ KỂ TÊN DÂY CHẰNG THƯỜNG LIÊN
KẾT VỚI MỘT BONG GÂN MẮC CÁ CHÂN DO INVERSION
Dây chằng mác sên trước (anterior talofibular ligament).
Dây chằng mác gót (calcaneofibular ligament) cũng có thể bị thương tổn
trong những bong gân nặng hơn.
12/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ BONG GÂN.
Bong gân mắc cá chân được điều trị bởi RICE protocol
:
R : Rest (nghỉ ngơi)
I : Ice : chườm lạnh (nước đá)
C : Compression (đè ép)
E : Elevation (đưa chân lên)
13/ BÀN VỀ CÁC QUY TẮC OTTAWA VỀ
CÁC PHIM X QUANG CỦA MẮT CÁ CHÂN.
Các quy tắc Ottawa được phát triển từ một công trình
rộng lớn được thực hiện ở Ottawa, Canada, xem xét sự cần thiết chụp X
quang thường quy mắc cá chân trong sự đánh giá những bệnh nhân với chấn
thương mắc cá chân. Người ta đã xác định rằng các phim X quuang không
bị đòi hỏi khi những điều kiện sau đây hội đủ :
1. Người thăm khám có kinh nghiệm.
2. Bệnh nhân không có biến dạng đáng kể của mắt cá chân.
3. Sự thăm khám phù hợp với một bong gân.
4. Không có nhạy cảm đau khi khám trên mắt cá trong và ngoài.
14/ MỘT ĐẦU GỐI BỊ KHÓA LÀ GÌ ?
NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG NHẤT ?
Bệnh nhân không thể duỗi đầu gối một cách chủ động
hay thụ động trên 10 đến 45 độ gấp. Khóa và mở khóa thật sự xảy ra đột
ngột. Những nguyên nhân thông thường nhất là rách một sụn chêm trong (medial
meniscus), một vật lạ (loose body) hay một con chuột khớp (joint mouse)
(mảnh xương-sụn) trong khớp gối, hay một xương đầu gối bị trật.
15/ NHỮNG CHẤN THƯƠNG NÀO LIÊN KẾT
VỚI GÃY XƯƠNG GÓT CHÂN ?
Tùy thuộc vào cơ chế chính xác của chấn thương và
loại gãy xương gót chân, 10 đến 50% các bệnh nhân được liên kết với một
gãy ép (compression fracture) của cột sống thắt lưng và ngực dưới. Trong
số các gãy xương gót chân, 10% xảy ra cả hai bên, và khoảng 25% được liên
kết với những thương tổn chi dưới khác ; 10% có thể đưa đến hội chứng
ngăn của bàn chân, đòi hỏi mở cân mạc (fasciotomy).
16/ THƯƠNG TỔN HUYẾT QUẢN NÀO PHẢI
ĐƯỢC XÉT ĐẾN TRONG TRẬT KHỚP CHÀY-ĐÙI CỦA ĐẦU GỐI ?
Thương tổn hay đè ép của động mạch kheo. Những công
trình nghiên cứu trên xác chết cho thấy rằng các trật trước có khuynh
hướng gây nên các flaps nội mạc và tắc, trong khi các trật sau có khả
năng gây vỡ động mạch kheo hơn. Các thương tổn cũng xảy ra ở chĩa ba ngay
phía dưới hố kheo. Chụp mạch máu sau khi nắn nên được xét đến đối với
tất cả các bệnh nhân với thăm khám mạch hay chỉ số cẳng tay (antebrachial
index) bất thường.
References :
- Emergency Medicine Secrets
- Pediatric Emergency Medicine Secrets
- Trauma Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội
Thương và Cấp Cứu
(10/8/2010)
TAGS: Chấn thương cơ xương, Gẫy xương
hở, Gẫy xương không biết khi nhập viện, Biến dạng xoay (rotational deformity),
Hội chứng ngăn (Compartment syndrome), Chấn thương do đè ép (crush injuries),
Xuất huyết, Sưng phù, Tổn huyết quản, Bó bột, Băng chặt, MAST (Military
Anti-Shock Trousers), Vết bỏng, Pain (đau đớn), Pallor (tái nhợt), Paresthesia
(dị cảm), Pulselessness (không có mạch), Paralysis (liệt), Surgical release,
Thương tổn làm không chú ý (distracting injury), Gãy xương dài quan trọng,
Vỡ chậu, Gãy xương xương cánh tay, Xương đòn, Xương bả vai, Septic Athritis,Thống
phong (Gout), Thống phòng giả (pseucogout), Vôi hóa của meniscus, Tụ cầu
khuẩn vàng, Neisseria gonorrhea, Hình chụp khớp (arthrogram), Biến dạng
xoay (rotational deformity), Biến dạng gấp (flexion deformity), Pasteurella
multocida, Penicillin G, Xương thuyền (scaphoid), Hộp thuốc lá cơ thể
học (Anatomic snuffbox), Cơn động kinh co cứng-co giật (tonic-clonic seizures),
Sốc điện, Chấn thương vai trước, Sai khớp vai trước, Sai khớp vai sau,
Rotary cuff tear, Sai khớp ức đòn sau (Posterior sternoclavicular dislocation),
Sai khớp ức-đòn trước (anterior sternoclavicular), Dây thần kinh quay
(radial nerve), Kéo căng (neurapraxia), Xé rách (neurotmesis), Xương gãy
Nightstick fracture, Gãy Monteggia, Dây thần kinh liên cốt sau (posterior
interosseous nerve), Gãy xương chậu, Gãy xương đùi, Vỡ dây chằng chéo
trước (anterior cruciate ligament rupture), Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |