![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Xét
nghiệm nhanh để xác định bệnh Cúm Sau những đợt Cúm Gà, Cúm Ngựa, và Cúm Heo trong thời
gian qua, người ta không còn mơ hồ giữa hai tên gọi Cảm và Cúm. Nhưng
muốn phân biệt giữa Cảm, Cúm và các loại Cúm như A, B, C (Cúm mùa), H5N1
(Cúm gà), H1N1 (Cúm Heo), việc chẩn đoán qua lâm sàng thường không đủ
xác định. Sớm
xác định bệnh Cúm là việc cần, vì có mục đích
cụ thể như sau: ·
Giúp việc điều trị Cúm tăng
hữu hiệu; điều trị hữu hiệu nhiều hơn nếu được bắt đầu ngay trong 48 giờ
đầu của bệnh; ·
Giảm việc làm một
số xét nghiệm không cần thiết khác, và việc dùng những thuốc kháng sinh
(trụ sinh) không cần thiết; ·
Giúp chẩn đoán sớm
các bộc phát Cúm ở những nơi nhiều nguy cơ lây Cúm như trường học và nhà
dưỡng lão; ·
Giúp kế hoạch việc
phòng dịch và chủng ngừa Cúm. Khó
định bệnh bằng triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng, vì một số lý
do như: ·
Cúm thường bắt đầu
đột ngột bằng những triệu chứng hoặc dấu hiệu “chung chung” như sốt, run,
nhức đầu, đau bắp thịt, mệt mỏi, biếng ăn, ho, đau họng và sổ mũi... –
“lung tung”, không đặc thù riêng cho Cúm; ·
Có nhiều nguyên nhân
của những bệnh ‘tựa như cúm’ (flu-like illness) – “tưởng chừng như Cúm”
nhưng không phải Cúm, mà chỉ là Cảm. Xét
nghiệm nhanh để xác định bệnh Cúm sẽ có lợi ·
Cho cá nhân trong quyết định
sớm dùng thuốc chống Siêu khuẩn Cúm: – sớm điều trị cho
cá nhân ngay lúc họ dễ truyền bệnh nhất; – sớm phòng ngừa
biến chứng cho những người đã lỡ bị Cúm. ·
Cho cộng đồng: – trong việc chống
sự lây lan của Cúm; – trong việc ngừa
các bộc phát của Cúm. Các Xét nghiệm nhanh để xác định bệnh Cúm A hoặc B có thể·
Căn cứ vào phát hiện
kháng nguyên của siêu vi: – “xét nghiệm tại
chỗ” (‘point-of-care’ “POC” tests như Meso Scale Diagnostics, Binax Now,
BD Directigen EZ, QuickVue influenza); và · Căn cứ vào nucleic acid trong mẫu nghiệm từ đường hô hấp; ·
Dùng phương pháp
xét nghiệm khác như: – cấy và tìm
Siêu vi Cúm (thời gian chờ kết quả lên đến cả tuần) – tìm kháng
thể với Siêu vi Cúm bằng huyết thanh học (chờ kết quả trong nhiều
tuần). Chọn
lựa Xét nghiệm nhanh để định bệnh Cúm A và B Chọn lựa tùy: ·
Quá trình của triệu
chứng; ·
Tổng số các 'ca'
Cúm vừa cũ vừa mới (prevalence) trong cộng đồng; ·
Bối cảnh lâm sàng
và phương tiện xét nghiệm (xa hoặc gần; thô sơ hay hiện đại). Cần làm khi: ·
Bệnh nhân ho, sốt,
và có nguy cơ biến chứng; ·
Chẩn đoán lâm sàng
không rõ; ·
Nêu vấn đề dùng thuốc
chống siêu vi; ·
Nghi ngờ có đại dịch. Các loại mẫu để làm
xét nghiệm nhanh: ·
Hút (aspirate)
nuớc mũi và họng ở trẻ con và dùng miếng gạc đặc biệt (swab)
để lấy mẫu từ mũi và họng của người lớn; ·
Rửa (wash)
mũi lấy nước và lấy mẫu (swab) từ mũi và họng. Thời gian lấy mẫu
xét nghiệm: ·
Tốt nhất là trong
48–72 giờ đầu của bệnh; lúc này độ nhạy cao vì có nhiều
siêu vi thoát ra trên mẫu; ·
Sau khi lấy mẫu từ
đường hô hấp, cần giữ mẫu ở nhiệt độ 4°C và chuyển ngay
đến phòng thí nghiệm. Ưu
và khuyết điểm của “Xét nghiệm tại chỗ” (‘point-of-care’ tests – POC tests) ·
Thời gian hoàn tất:
15–30 phút; ·
Độ nhạy (Sensitivity):
59–93%; ·
Mức đặc thù (Specificity):
76–100%; ·
Ưu điểm: nhanh, dễ
làm tại chỗ, không cần phòng thí nghiệm; ·
Khuyết điểm: – dụng cụ (test kit)
chóng quá hạn (chỉ dùng được trong vòng 2 năm), – một số trường hợp
báo động nhầm (false positive), – độ nhạy thấp (không
báo động khi có bệnh–false negative), nếu kết quả âm tính chưa chắc không
bệnh và cần xét nghiệm khác; – không tách được
Siêu vi để nghiên cứu thuốc chủng ngừa; không phân biệt được các nhóm
phụ (subtype như H5N1 hoặc H1N1) của Siêu vi. Ưu
và khuyết điểm của Phương pháp Immunofluorescence ·
Thời gian hoàn tất:
2–4 giờ; ·
Độ nhạy (Sensitivity):
70–90%; ·
Mức đặc thù (Specificity):
trên 90%; ·
Ưu điểm: nhanh, tách
được Siêu vi, phân biệt được các nhóm phụ (subtype) của Siêu vi; ·
Khuyết điểm: nặng
công, tốn của, kém nhạy so với phương pháp dùng Nucleic Acid. Ưu
và khuyết điểm của Xét nghiệm căn cứ vào Nucleic Acid ·
Thời gian hoàn tất:
24–48 giờ; ·
Độ nhạy (Sensitivity):
99%; ·
Mức đặc thù (Specificity):
99%; ·
Ưu điểm: độ nhạy
cao, tách được Siêu vi, phân biệt được các nhóm phụ (subtype) của Siêu
vi; phẩm chất của mẫu không quan trọng; ·
Khuyết điểm: nặng
công, tốn của, đòi nhiều dụng cụ kỹ thuật, kém chính xác nếu Siêu vi chuyển
'gen' (viral genetic drift - chuyển đổi di thể). Ưu và khuyết điểm
của các phương pháp xét nghiệm khác ·
Cấy Siêu vi đòi thời
gian từ 48 giờ đến 1 tuần, có thể phân biệt được các nhóm phụ (subtype)
của Siêu vi, và giúp kế hoạch bào chế thuốc chủng ngừa; ·
Phuơng pháp dùng
kháng thể để phát hiện kháng nguyên của Siêu vi Cúm cũng đòi thời gian
từ 24–48 giờ, nặng công, tốn của; ·
Phương pháp Huyết
thanh học thường nặng công, tốn của, và chỉ giúp tái xác định bệnh Cúm
qua phát hiện sự gia tăng của kháng thể trong mẫu máu lấy ra trong các
giai đoạn cấp tính (trong tuần đầu) và giai đoạn hồi lực (4 tuần sau)
của bệnh Cúm. Kết
luận ·
Sớm xác định bệnh
Cúm là việc cần làm những khi có dịch Cúm; ·
Định bệnh bằng triệu
chứng và dấu hiệu lâm sàng không đủ; ·
Cần làm một số xét nghiệm
nhanh để xác định bệnh Cúm; ·
Cần chọn xét nghiệm
đúng cách, đúng lúc, đúng tình hình bệnh lý, đúng tình hình dịch bệnh,
và tùy phương tiện hiện có. Bác sĩ Nguyễn Nguyên |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||