THUỐC CHỦNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG (Thuốc chủng ngừa HPV)
Tên biệt dược của Merck: Gardasil
Dược sĩ Lê-văn-Nhân phỏng dịch từ tài liệu Viện quốc gia y-tế Hoa-kỳ

HPV là gì?
HPV là từ viết tắt của « Human Papilloma Virus », vi-rút lây truyền nhất qua đường sinh dục tại Hoa-kỳ. Có tất cả khoảng 40 chủng HPV. Khoảng 20 triệu người tại Mỹ nhiễm siêu vi này, và khoảng 6.2 triệu người nhiễm thêm hàng năm. HPV lan truyền qua đường tình dục.
Phần lớn nhiễm HPV không gây triệu chứng, và tự biến mất. Nhưng HPV quan trọng vì có thể gây ung thư cổ tử cung phụ nữ. Mỗi năm, khoảng 10 000 phụ nữ tại Hoa-kỳ mắc bệnh ung thư cổ tử cung và 3700 người chết vì bệnh này. Đây là nguyên nhân thứ hai gây chết vì ung thư cho phụ nữ trên toàn thế giới.
HPV cũng liên quan với nhiều loại ung thư ít phổ thông hơn ở cả 2 phái nam nữ. Siêu vi này có thể gây mụt cóc ở bộ phận sinh dục và đường hô hấp trên. Hơn 50% đàn ông và phụ nữ ở tuổi hoạt động tình dục nhiễm HPV ở giai đoạn nào đó trong cuộc đời.
Hiện nay không có thuốc điều trị nhiễm HPV, nhưng có thể điều trị những bệnh do HPV gây ra.
Tại sao phải chủng ngừa ?
Thuốc chủng HPV là vac-xin đã làm siêu vi mất hoạt tính ( không còn sống nữa) bảo vệ chống 4 chủng chính của HPV, trong đó 2 chủng gây 70% những ca ung thư cổ tử cung và 2 chủng có thể gây 90% mụt cóc ở bộ phận sinh dục và nhiều ca ung thư ở cổ tử cung, âm hộ và âm đạo.
HPV bảo vệ lâu dài. Nhưng phụ nữ được chủng ngừa vẫn cần khám cổ tử cung (làm PAP smear) vì thuốc chủng này không bảo vệ chống lại tất cả những chủng HPV gây ung thư cổ tử cung.
Ai cần chủng ngừa và khi nào ?
Thuốc chủng HPV được khuyên dùng cho bé gái 11-12 tuổi. bác sĩ có thể cho chủng ngừa ở tuổi nhỏ hơn như mới 9 tuổi.
Điều quan trọng là nên chủng ngừa cho các bé gái trước khi giao hợp lần đầu- vì các em chưa phơi nhiễm với HPV. Với những bé gái này, thuốc chủng có thể ngừa 100% bệnh gây ra bởi 4 chủng HPV mục tiêu của thuốc chủng. Tuy nhiên, nếu 1 thiếu nữ hay 1 phụ nữ đã nhiễm 1 loại HPV, thuốc chủng sẽ không ngừa được bệnh do chủng này gây ra. Thuốc chủng cũng được khuyên dùng cho thiếu nữ và phụ nữ từ 13 đến 26 tuổi nếu chưa được tiêm lúc nhỏ.

Thuốc chủng HPV được tiêm làm 3 liều :

- Liều thứ nhất : ngay bây giờ

- Liều thứ hai   : 2 tháng sau liều 1

- Liều thứ ba    : 6 tháng sau liều 1

Liều bổ sung (booster) không được khuyên thực hiện.
Thuốc chủng HPV có thể cho dùng cùng một lần với những thuốc chủng khác.

Ai không nên chủng ngừa hay phải chờ ?

  • Bất cứ người nào bị dị ứng đe dọa tính mệnh với con men (yeast), với bất cứ thành phần nào trong thuốc chủng, hay dị ứng với liều tiêm trước đây, không nên dùng thuốc chủng ngừa. Nếu bạn bị dị ứng nên thông báo cho bác sĩ biết.
  • Phụ nữ có thai không nên tiêm vac-xin. Vac-xin có vẻ an toàn cho cả mẹ lẫn con chưa sinh, nhưng vẫn đang còn nghiên cứu. Nếu lở tiêm sau khi biết có thai, thì đây không phải lý do để phá thai. Phụ nữ đang cho con bú có thể chủng ngừa an toàn.
  • Bất cứ phụ nữ nào biết mình có thai và đã tiêm vac-xin nên yêu cầu bác sĩ thông báo cho bộ y tế hay đại diện nhà sản xuất tại VN biết.
  • Phụ nữ bị bệnh nhẹ khi đến ngày tiêm thuốc chủng có thể tiêm ngừa được. Những người bệnh vừa phải đến trầm trọng nên chờ đến khi bình phục hãy tiêm thuốc ngừa.

Nguy cơ do thuốc chủng HPV gây ra?

Thuốc chủng HPV không có vẻ gây ra những tác dụng nghịch trầm trọng.Tuy nhiên, thuốc chủng cũng như bất cứ thuốc nào khác, cũng có thể gây ra những tác dụng nghịch trầm trọng, như dị ứng trầm trọng. Nguy cơ của bất cứ thuốc chủng nào gây hại trầm trọng hay tử vong rất thấp.

Những tác dụng phụ nhẹ :

  • đau ở chỗ tiêm ( khoảng 8 trên 10 người)
  • đỏ hay viêm ở chỗ tiêm ( khoảng 1 trong 4 người)
  • Sốt nhẹ (37.8o C) (khoảng 1 trong 10 người)
  • Ngứa ở chỗ tiêm ( khoảng 1 trong 30 người)
  • sốt vừa phải (38.9o C) ( khoảng 1 trong 65 người)
  • Buồn nôn, ói mửa và choáng váng
  • Những triệu chứng này kéo dài không lâu và tự biến mất.
Phản ứng dị ứng chết người do vac-xin gây ra rất hiếm. nếu xảy ra, chỉ trong vòng vài phút đến vài giờ sau khi tiêm.

Giống như tất cả thuốc chủng ngừa, Thuốc chủng HPV tiếp tục được theo dõi những vấn đề bất thường hay trầm trọng.

Nếu xảy ra phản ứng trầm trọng thì sao ?

Tôi phải để ý điều gì ?

  • Bất cứ tình trạng nào không bình thường, như sốt cao độ hay thay đổi tâm tính thái độ. Dấu hiệu phản ứng dị ứng trầm trọng gồm khó thở, giọng khàn hay khò khè, mẫn ngứa, da tái, yếu sức, tim đập nhanh hay choáng váng.
  • Ngất xỉu có thể xảy ra, đưa đến té ngã gây thương tích hay đôi khi giống như bị động kinh
Tôi phải làm gì khi đó ?
  • Gọi bác sĩ hay nhờ người nhà chở ngay đến bệnh viện
  • Cho bác sĩ biết điều gì đã xảy ra, ngày giờ xảy ra và thuốc chủng tiêm khi nào.
  • Nhờ bác sĩ điều trị báo cáo tác dụng độc hại cho bộ y tế 

Sau đây là thông báo của FDA về an toàn của thuốc Gardasil. Tại Hoa-kỳ, hai cơ quan theo dõi thuốc chủng ngừa là :

-         FDA : cơ quan kiểm soát hiệu quả và an toàn của thuốc và máy móc y khoa

-         CDC : cơ quan kiểm soát và phòng ngừa bệnh

 

An toàn của thuốc chủng HPV (HPV là siêu vi thường gây ung thư cổ tử cung)
An toàn của thuốc chủng HPV được nghiên cứu trong 5 thử nghiệm lâm sàng trước khi được cấp phép sản xuất. Có tất cả 21 000 bé gái và phụ nữ tuổi từ 9 đến 26 tuổi tham dự vào những thử nghiệm lâm sàng này.
Từ khi thuốc được phép sản xuất và bán ra thị trường, CDC và FDA đã theo dõi sát an toàn của thuốc chủng HPV. Có tất cả 3 hệ thống để theo dõi an toàn của thuốc chủng sau khi thuốc phát hành. Những hệ thống này có thể theo dõi tác dụng đã biết do thuốc chủng gây ra cũng như phát hiện những tác dụng phụ hiếm xảy ra chưa được nhận diện trong những thử nghiệm lâm sàng trước đây.
Báo cáo của hệ thống theo dõi an toàn thuốc chủng HPV
Cho đến ngày 1 tháng 6 năm 2009, hơn 25 triệu liều thuốc Gardasil đã được phân phối khắp Hoa-kỳ. Cho đến ngày này, có 14 072 báo cáo về tác dụng nghịch sau khi tiêm thuốc chủng gardasil tại Mỹ. Trong số những báo cáo này, 93% là báo cáo những sự cố xem như là không trầm trọng và 7% xem như là trầm trọng.
Dựa trên những thông tin mà FDA có cho đến ngày này, CDC tiếp tục khuyên dùng Gardasil để chủng ngừa 4 chủng siêu vi HPV gây ung thư cổ tử cung. Cũng như tất cả thuốc chủng khác, CDC và FDA tiếp tục theo dõi sát an toàn của Gardasil. Bất cứ vấn đề gì phát hiện được từ thuốc chủng này sẽ được báo cáo cho cơ quan y tế, những bác sĩ cung cấp dịch vụ y tế, công chúng và hành động cần thiết để bảo đảm sức khoẻ và an toàn của công chúng.
Báo cáo về những tác dụng phụ không trầm trọng
Những sự cố không trầm trọng được định nghĩa là không phải nhập viện, tử vong, tàn phế vĩnh viển hay bệnh tật đe dọa tính mệnh.
Phần lớn tác dụng phụ báo cáo theo dõi Gardasil là không trầm trọng, gồm ngất xỉu, đau hay viêm chỗ tiêm (trên cánh tay), nhức đầu, buồn nôn và sốt. Ngất xỉu thường xảy ra sau khi tiêm, nhất là với thiếu nữ vị thành niên. Té ngã sau khi tiêm đôi khi có thể gây thương tích, có thể ngừa bằng cách quan sát kỹ 15 phút sau khi tiêm.
Báo cáo sự cố tác dụng nghịch trầm trọng
Sự cố tác dụng nghịch trầm trọng được định nghĩa là bệnh nhân phải vào bệnh viện, tàn phế vỉnh viển, bệnh đe dọa tính mệnh hay tử vong. Những sự cố này có thể gây ra do thuốc chủng hay không liên quan gì đến thuốc chủng.
Những người chuyên môn cứu xét vấn đề này không tìm thấy một đặc điểm nào trong các báo cáo về sự cố tác dụng nghịch sau khi tiêm gợi ý gardasil gây ra:
Hội chứng Guillain Barre được báo cáo sau khi chủng với Gardasil. Hội chứng này là 1 bệnh bệnh hiếm gặp làm cho yếu cơ. Bệnh xảy ra ở 1-2 trong 100 000 người ở tuổi dưới 20. Một số trường hợp nhiễm trùng gây ra hội chứng này. Không có chỉ định nào cho thấy gardasil tăng tỷ lệ hội chứng này ở ác bé gái và phụ nữ , dầu họ được chủng ngừa hay không.
Huyết khối:
Một số báo cáo hiếm huyết khối sau khi tiêm gardasil. Những huyết khối này xảy ra ở tim, phổi và chân. Phần lớn những người này có nguy cơ sinh huyết khối, thí dụ đang dùng thuốc uống ngừa thai.
Tử vong:
Cho đến ngày 1 tháng 6 năm 2009 có tất cả 43 báo cáo tử vong ở phụ nữ chủng ngừa gardasil. 26 báo cáo được xác nhận, 9 đang còn điều tra và 8 chưa được xác nhận vì không kiểm tra thông tin của người bệnh. 26 báo cáo tử vong được xác nhận không tìm được những đặc điểm nào bất thường để có thể gọi ý do thuốc chủng gây ra.

Khác biệt giữa 2 thuốc chủng ngừa ung thư cổ tử cung:

-         thuốc do công ty Merck sản xuất tại Hoa-kỳ là Gardasil

-        thuốc do công ty GlaxosmithKline bán tại Âu châu là Cervarix. Ủy ban cứu xét thuốc chủng và sản phẩm sinh học hôm 11 tháng 9 đã đề nghị FDA chấp thuận cho thuốc này lưu hành tại Hoa-kỳ. 

  • Thuốc chủng Gardasil gồm 4 chủng siêu vi HPV (quadrivalent): type 16 và 18 gây ung thư cổ tử cung, và HPV type 6 và 11 gây bệnh mào gà hay mụt cóc ở cơ quan sinh dục.
  • Thuốc chủng Cervarix chống lại 2 chủng HPV type 16 và 18 giống như Gardasil, nhưng có thể bảo vệ chéo 3 chủng HPV khác type 31, 33 và 45.
  • Cervarix và Gardasil đều công hiệu ngang nhau chống HPV 16 và 18 ở phụ nữ trước đó không tiếp xúc với HPV, nhưng Cervarix đã chứng tỏ có thời gian tác dụng dài hơn Gardasil (6.4 so với 5 năm); hiện nay chưa có dữ liệu sự bảo vệ này kéo dài chính thức bao lâu và có cần tiêm thêm liều nhắc nhở (boosting) không.
  • Cervarix bảo vệ chéo 5 type HPV gây ung thư cổ tử cung, trong khi gardasil chỉ bảo vệ 3 type. Ngoài ra, Cervarix có thể bảo vệ 3 type phổ thông gây adenocarcinoma là loại rất khó tìm khi dùng phiến phết PAP; gardasil chỉ bảo vệ được 2 type HPV.
  • Cervarix tránh được gần gấp đôi số ca điều trị cắt bỏ so với gardasil (70% so với 40%).
  • Độ chuẩn kháng thể do Cervarix tạo ra cao hơn gardasil, và tốt hơn với phụ nữ trên 25 tuổi, nếu sau này có chỉ định cho phụ nữ trên 25 tuổi chủng ngừa. Độ chuẩn kháng thể ở màng nhầy cổ tử cung cũng cao hơn với nhóm dùng Cervarix, một nửa tác dụng xảy ra trên màng nhầy biểu bì.

Cần nói thêm là Cervarix đã sử dụng hơn 100 quốc gia gồm 27 nước thành viên của EU, và đã được chủng ngừa cho toàn nước Anh và Úc từ khi được chấp thuận năm 2007. Cho đến nay khoảng 7 triệu liều đã được phân phối khắp thế giới.

Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Y Dược Khoa Thực Hành