 |
Trụ-sinh,
kháng-sinh và phương pháp trị liệu bằng Bacteriophage
Lâm-Kim-Cương, Ph.D
Gần đây trên DDDK có nêu lên vấn đề vi-trùng kháng sinh
và đặc biệt là trường hợp em sinh-viên DK bị lao phổi rất nặng vì loại
vi-trùng lao kháng với nhiều loai trụ-sinh, cần có sự giúp đở của nhiều
mạnh thường quân và phải dùng đến loại thuốc đặc biệt hiếm có (Capreomycin)
mới qua cơn hiễm nghèo.
Để góp ý về vấn đề kháng thuốc, tôi xin gửi đến DD bài viết ngắn tổng
quát về nguồn gốc trụ-sinh, lợi và hại, vi-trùng kháng-sinh và tìm hiểu
về một phương pháp rẻ tiền để điều-trị các loại vi-trùng kháng-sinh: trị-liệu
bằng phage (Phage therapy).
Trụ-sinh
Tru-sinh (antibiotic) từ tiếng Hy Lap Anti =
chống, Biotikos = sự sống, được Selman Waksman đề ra
năm 1942 để chỉ định những chất do vi sinh vật (micro-organism) xuất ra
để chống lại các vi sinh vật khác. Nếu giữ theo đúng định nghĩa này thì
những thuốc tổng hợp (synthetic) như sulphonamide (cũng có tính chống
vi-trùng) sẽ không được xếp vào nhóm trụ-sinh. Tuy vậy ngày nay, với sự
tiến triển của hóa học dược phẩm (medicinal chemistry) danh từ trụ-sinh
đã được áp dụng cho tất cả những chất trích từ các vi-sinh vật hay từ
hoá chất tổng hợp có tác dụng giết chết hay làm giảm sự tăng trưởng của
vi-trùng.
Năm 1927 Alexander Fleming, một nhà vi-trùng học người Tô-cách-Lan (Scotland)
là người đầu tiên đã may mắn bất ngờ tìm thấy loại nắm (fungus) Penicillium
có khả năng giết chết vi trùng Staphylococcus aureus. Nhưng ông đã thất
bại trong những loạt thí nghiệm kế tiếp để chứng minh nắm Penicillium
thật sự có chứa chất diệt vi-trùng Staphylococcus. Cộng sự viên của ông
Fleming là Ronald Hare sau đó đã thành công khi ông làm giảm nhiệt độ
cấy (culture temperature) xuống thấp và cho thấy chất trích từ P. chrysogenum
(hay P. notatum) thật sự có tính diệt trùng. Những thí-nghiệm cùa ông
Fleming và cộng sự viên cũng chứng minh là chất trích từ nắm cũng có thể
giết chết nhiều loại vi-trùng khác thuộc nhóm gram dương (gram-positive
bacteria) như Staphylococcus pyogenes, S. viridans, Pneumococcus, Micrococcus,
nhưng không công hiệu với loại vi-trùng gram âm (gram-negative bacteria).
Kết quả nghiên cứu của Fleming dù vậy cũng không được chú trọng và chìm
váo quên lãng.
Đến khi đệ nhị thế chiến bùng nổ, số thương binh bị chết vì các vết thương
nhiễm trùng quá cao. Việc tìm kiếm những thuốc có khả năng chống vi-trùng
trở nên vô cùng khẩn cấp quan trọng. Khi đó Penicillin đã được nhắc đến
và đã trở thành vai chánh trong việc chữa trị này.
Cũng trong chiều hướng đó, Chủ tịch (chairman) Viện Thử nghiệm Canh Nông
New Jersey (New Jersey Agricultural Experimental Station) thuộc Đại Học
Rutgers, Ông Selman Waksman, người đã nghiên cứu rất nhiều về loại khuẩn
ty thể (mycelial bacteria) Actinomycetes sống trong đất (soil), đã tách
riêng được nhiều loại (species) khuẩn ty thể có khả năng sản xuất chất
chống lại các vi-trùng khác. Albert Schatz, một sinh viên học trò của
Waksman, trích đươc chất Streptomycin trong nhóm Actinomyces griseus.
Chất này, sau khi thử nghiệm trên gia súc, đã thành công để thử trị bệnh
lao phổi cho bà Patricia T. (vào tháng 11 năm 1944 cho đến tháng 2 năm
1945). Đây là lần đầu tiên chất Streptomycin được dùng để trị bệnh lao
.
Penicillin cũng như nhiều chất đồng loại ngăn chận khả năng của enzyme
transpeptidase của vi-trùng trong công tác thành lập màng bọc peptidoglycan.
Kết quả là màng này không được kết thành trọn vẹn, hư hỏng. Nước bên ngoài
sẽ dồn vào trong tế bào thật nhiều làm vi-trùng to phồng lên và cuối cùng
bị vở tan (cell lysis)
Streptomycin có khả năng giết các loại vi-trùng gram âm, vi-trùng kháng
acid (Acid-fast bacteria) như vi-trùng lao (Mycobacterium) và vài loại
gram dương kháng-sinh thuốc Penicillin. Steptomycin bám chặt vào chất
16S rRNA ribosome của vi-trùng làm ngăn cản sự sản xuất các protein của
vi-trùng làm chúng không tăng trưởng được.
Phải công nhận là Penicillin đã làm thay đổi cách thức bác-sĩ điều trị
các bệnh do nhiễm trùng (bacterial infection). Nhờ có trụ-sinh mà nhiều
bệnh đã được hoàn toàn chữa trị.
Kháng-sinh
Tác dụng của Penicillin (hay nhiều loại trụ sinh khác)
cũng có thể bị vô hiệu quả bởi những vi-trùng có cơ cấu đặc biệt chống
lại tác dụng của thuốc (Vi-trùng kháng-sinh). Khả năng kháng thuốc này
có thể do bẩm sinh (natural) như trường hợp vi-trùng gram âm (gram negative)
có một màng bọc đặc biệt phía ngoài màng peptidoglycan làm thuốc khó thấm
vào, hoặc màng bọc không có hệ thống tiếp/chuyển vận (receptor/transport
system) làm thuốc không có chổ để bám vào vi-trùng để được đưa vào trong
tế bào. Cũng có thể do sư biến dạng (mutation) trong gene của vi-trùng
hoặc do hấp thụ plasmid DNA (*) kháng thuốc từ bên ngoài. Tỷ lệ biến dạng
gene ở vi-trùng vào khoãng 10-8., có nghĩa là khi số vi-trùng tăng từ
108 con (100 triêu) lên gấp 2 lần (200 triệu con) thi sẽ có 1 biến dạng
trên 1 gene nào đó của vi-trùng. Trung bình cứ mỗi 30 phút là vi-trung
sinh sản tăng gắp đôi. Nếu bắt đầu từ 1 con vi-trùng thì sau 14 tiếng
đồng hồ sẽ có 100 triệu vi trùng rồi cứ 30 phút tiếp theo sau đó sẽ có
200 triệu con, 400 triệu... Như vậy số lượng biến dạng trong gene sẽ rất
lớn. Các vi-trùng cũng có thể giao hợp với nhau (conjugate) qua “sợi dây
tình”(sex pilus) để trao đổi với nhau plasmid có mang tính chống thuốc.Trong
thí nghiệm đổi giống (Transformation) ta cũng có thể đưa Plasmid có gene
kháng thuốc vào vi-trùng nhạy cảm (sensitive) để làm chúng trở thành kháng
với một loại thuốc mình muốn.
Hiện nay kháng–sinh là vấn đề nan giải trên thế giới. Gần như loại vi-trùng
nào cũng có trở nên kháng thuốc và không những chỉ đề khàng 1 chất thuốc
mà có thể đề khàng nhiều thứ thuốc (multiresistant hay còn gọi là superbug)
Vi-trùng kháng thuốc sinh sản rất nhanh và lây qua những người chung quanh
trong cùng gia đình, bạn bè ở trường học, nơi công cộng. Việc diều trị
trở nên phức tạp vì những thuốc đang có đều mất hiệu quả. Tuy nhiên sự
hiện diện của vi-trùng kháng sinh ở một địa phương nào đó chưa hẳn là
ở một địa phương khác cũng có loại vi-trùng kháng-sinh này hay nói một
cách khác là nếu một loại thuốc không công hiệu với 1 loại vi-trùng nào
đó ở một vùng, loại thuốc này có thể rất công hiệu cho vi-trùng cùng loại
ở một vùng khác.
Mỗi lần bệnh nhân dùng trụ–sinh, những vi trùng nhạy cảm (sensitive) sẻ
bị tiêu diệt, nhưng có thể còn lại một vài vi-trùng có khả năng kháng
với thuốc đang dùng. Khi trụ–sinh không được dùng đúng, hay liều thuốc
không đủ thì thiểu số vi-trùng kháng sinh còn lại vẩn tiếp tục tăng trưởng,
sinh sản và dần dà sẽ trở thành đa số và kết quả là chỉ toàn những vi
–trùng có khả năng chống lại thuốc đang dùng, không những nguy hiễm cho
nạn nhân mà còn có thể lây sang những nguời chung quanh.
Việc xử dụng trụ-sinh một cách bừa bãi, lạm dụng trụ-sinh rất khó kiểm
soát được. Trụ-sinh không những được dùng trên lảnh vực y-tế cho người
mà còn dùng trong nông nghiệp, chăn nuôi. Hơn 70% số lượng trụ-sinh sản
xuất tại Mỹ được dùng ở nông trại để ngừa bệnh gia súc, để giúp chúng
mau lớn (Đây cũng là trường hợp nuôi tôm ở VN). Trụ sinh cũng được dùng
để xịt lên cả ngàn mẩu vườn cây ăn trái để chống và phòng ngừa nhiểm trùng.
Nồng lượng của thuốc xịt cũng khá cao, đủ để diệt tất cả vi-trùng ở nơi
đang được xịt thuốc nhưng gió cũng đưa đẩy những hạt mịn thuốc bay khấp
nơi xung quanh và ra xa, làm giảm dần nồng độ thuốc. Dù nồng độ thuốc
giảm nhưng cũng đủ để tiêu diệt các vi-trùng nhạy cảm nhưng không đủ khả
năng tiêu diệt các vi-trùng kháng sinh. Số ít kháng-sinh này sẽ tiếp tục
tăng trưởng và trở nên đại đa số.Từ đó có thề lây qua người (người làm
vườn, người hái quả hay người dùng thực phẩm). Ông Denis E. Corpet thuộc
Viện Quốc Gia Nghiên Cứu Canh Nông Toulouse, Pháp đả chứng minh điều này
bằng cách so sánh 2 nhóm người tình nguyện. Trong nhóm người chỉ dùng
thức ăn đã khử trùng hoặc nấu chín, số lượng vi-trùng kháng sinh tím thấy
trong phân của họ 1000 lần it hơn so với những người ăn thức ăn sống không
tẩy trùng.
Vì nhiều loại vi-trùng đã càng ngày càng trở nên kháng với nhiều loại
thuốc hiện có, các thuốc mới cần phải được sản xuất. Việc tìm kiếm, nghiên
cứu đòi hỏi nhiều thời gian và sản xuất thuốc mới để dùng cho người củng
phải qua nhiều thủ tục khó khăn, tốn kém trước khi có thể bán ra thị trường.
Điều đáng để ý là, trong khi các chất trụ sinh có thể giết chết vi-trùng,
loại thuốc này không công hiệu trong việc chống siêu vi-trùng (virus).
Siêu vi-trùng (Virus)
Nói đến virus là nhiều người chúng ta đã ghê sợ khi nghĩ
đến những bệnh nan giải do virus gây ra. Thật vậy, virus là nguyên nhân
của nhiều bệnh từ nhẹ như bệnh ho gà (Whooping cough), bệnh thủy đậu (
chicken pox), cho đến những bệnh nguy hiểm, nan giải như: cúm (Flu), AIDS,
Hepatitis A, Hepatits B v.v. Vậy virus khác với vi-trùng ra sao?
Trưóc hết phải nói Virus là một vật thể rất nhỏ, nhỏ hơn vi-trùng rất
nhiều nên không thể thấy bằng kính hiển-vi thường mà phải cần đến kính
hiển-vi điện tử. Thân mình nó gồm có bộ gen bằng DNA hoặc RNA (gene của
vi-trùng chỉ có DNA mà thôi). Virus bắt buộc phải sống chung với 1 tế
bào chủ (host cell) và phải nhờ đến guồn máy sinh sản cùng những vật liệu
của tế bào chủ để sinh sản (như vậy nếu tế bào chủ chết thì virus cũng
không sinh sản được ). Có thể xem như virus không có sự sống vì nó không
thở, không cử động, không tăng trưởng và chỉ có thể sinh sản nếu nó vào
được một tế bào chủ còn sống để dùng bộ máy sinh sản của tế bào chủ.
Virus có nhiều hình dạng khác nhau nhưng đại khái gồm có đầu (Head) là
một áo bọc ngoài (outer coat) hình nhị thập diện (icosahedral) bằng protein
kết thành bởi vật liệu lấy từ tế bào chủ. Bên trong bọc là một khối gen
DNA hoặc RNA (inner core) bao gồm tất cả các gen cần thiết để điểu khiển
bộ máy sinh-sản của tế bào chủ cho việc sản xuất virus mới. Virus cũng
có nhiều sợi đuôi (tail fiber) dùng để bám vào tế bào chủ và đuôi nhọn
để bắn bộ gen DNA vào tế bào chủ. Bọc ngoài protein rất chuyên biệt cho
mổi loại virus và rất quan trọng để giúp cho virus nhận định được loại
tế bào chủ nào để bám vào


Hình Virus
Nhiều virus bám vào vi trùng
Bacteriophage (gọi tắt là
Phage)
Bacteriophage cũng là virus nhưng đặc biệt là loại này chỉ xâm nhập vào
vi-trùng, sanh sản nhờ bộ máy sinh sản của vi-trùng và giết vi-trùng.
Phage là kẻ thù của vi-trùng chớ không có ảnh hưởng đến con người. Một
nhà khảo cứu có nói “Kẻ thù của kẻ thù tôi là bạn tôi”. Vậy phage có thể
gíúp chúng ta như thế nào để chống lai vi-trùng?
Bacteriophage rất chuyên biệt và mổi loại chỉ xâm nhập vào1 hoặc vài loại
vi-trùng nhất định, thí dụ: mổi loại vi-trùng E.coli, Pseudomonas, Mycobacterium
v.v đều có 1 phage đặc biệt riêng cho loại vi-trùng đó. Phage của Escherichia
coli sẽ không xâm nhập vào Pseudomonas hay Mycobacterium hay ngược lại.
Sự sinh sản của Phage.
Bacteriophage cũng như các loại virus khác không có sự sống riêng. Chúng
là những vật thể chết và chỉ sinh sản khi vào được một tế bào chủ (còn
sống) để dùng bộ máy sinh sản của chủ nhà. Phage dùng các sợi đuôi (fiber
tail) của nó để bám vào vi-trùng và tiêm (inject) toàn bộ DNA gen của
nó vào trong vi-trùng. Khi vào được bên trong, bộ gen DNA này sẽ điều
khiển bộ máy sản xuất của vi-trùng và dùng các chất trong vi-trùng để
tạo nên các phage mới. Tùy theo hoàn cảnh thuận lợi, có 2 chu trình sinh
sản của Phage gọi là “Chu kỳ bùng nổ” (Lytic cycle) và chu kỳ tiềm ẩn
(Lysogenic cycle).
Chu kỳ bùng nổ (lytic cycle):
Phage bám vào vi-trung bằng những sợi đuôi rồi soi thủng màn bọc vi-trùng
và bắn toàn bộ gen của nó vào vi-trùng. Bộ gen này có đầy đủ thông tin
để có thể điều khiển bộ máy sản xuất của vi-trùng cùng những chất của
vi-trùng để sản xuất thật nhiều Phage mới và 1 enzym làm hư hại vách bọc
của vi-trùng. Kết quả là vi-trùng bi phồng to lên vì số lượng phage mới
và bùng nổ để phóng thích các phage . Phage mới này sẽ tiếp tục xâm nhập
các vi-trùng khác còn lại và chu trình tiếp tục cho đến khi tất cả vi-trùng
đều bi giết sạch. Trường hop này cũng giống như tác dụng của Penicillin
làm hư hỏng màng peptidoglycan của vi-trùng gram dưong làm vi-trùng to
phồng lên và vở tan vì nưóc vào bên trong quá nhiều. Trong phóng thi-nghiệm,
chu kỳ náy được thể hiện rất rỏ rệt khi môi trường cấy (culture media)
đang đuc (cloudy) vì số lượng lớn vi-trùng bổng trở nên trong (clear)
vì môi trường đã bi nhiểm phage và tất cả vi-trùng trong môi trường đều
bị vở tan.
Chu kỳ tiềm ẩn (lysogenic cycle):
Củng như trường hợp trên, phage bám vào vi-trùng và bắn chất DNA vào trong.
Khi vào được bên trong, gen DNA sẽ không giết hại vi-trùng và không điều
khiển vi-trùng sản xuất phage mới.nhưng toàn bộ gen DNA cùa phage sẽ xen
vào giữa nhiểm sắc thể (chromosome) DNA của vi-trùng (gọi là prophage).
Như vậy khi vi-trùng sinh sản, nhiểm sắc thể của vi-trùng con đều có mang
prophage (giống trường hợp của HIV trong thời kỳ tìm ẩn). Chu kỳ này cứ
tiếp tục cho đến khi có 1 sự thay đổi thuận lợi nào đó (môi trường, ảnh
hưởng ánh sáng cực tím ultra violet v.v ) thì prophage tách khỏi nhiểm
sắc thể của vi-trùng rồi bắt đầu chu kỳ “bùng nổ”. để sinh sản thêm nhiều
phage mới và giết chét vi-trùng.
Trị-liệu bằng Phage (phage therapy)
Trị liệu bằng Phage là phương pháp dùng siêu-vi-trùng Bacteriophage để
trị các bệnh do vi-trùng gây ra. Vì sự bành trướng của loại vi-trùng kháng
sinh củng như những khó khăn, giới hạn trong việc tìm kiếm, nghiên cứu,
sản xuất những loại trụ-sinh mới, phương pháp tri liệu bằng phage chứng
tỏ có rất hiệu quả và nhiều triển vọng trong việc điều trị bệnh do vi-trùng
gây ra, kể cả loại vi-trùng kháng-sinh. Đây là phương pháp rất thích hợp
cho các quốc gia nghèo và phưong tiện sản xuất thuốc còn thiếu sót
Nguồn gốc cho việc tìm ra Bacteriophage không rõ ràng lắm. Có tài liệu
cho rằng vào năm 1896 Ernest Hankin, một vi-trùng học người Anh đã quan
sát thấy nước lấy từ sông Ganges và sông Jumma ở Ấn độ có khả năng làm
giảm số lượng vi-trùng dịch tả Vibrio cholera một cách rõ rệt. Ông cho
thấy là nước từ các con sông này dù đã được lọc qua màng lọc bằng sành
(porcelaine filter), vẫn còn chứa một “ẩn chất” nào đó có khả năng diệt
trùng do đó giúp làm giảm sự lan tràn của dich tả. Vi-trùng học người
Nga (Gamaleya) với nhiều nghiên cứu gia khác củng tìm thấy kết quả tương
tự với loại Bacillus subtilis. Hai mươi năm sau đó Frederic Twort mới
đem đề tài này trở lại để nghiên cứu và có đưa ra giả thuyết là có thể
có một siêu vi-trùng (virus) nào đó trong nước. Nhưng rồi công cuộc nghiên
cứu của ông Twort cũng không tiến bao nhiêu rồi lại ngừng ở đó. 2 năm
sau, ông Felix d’Herelle, nhà vi-trùng học người Pháp-Canada thuộc viện
Pasteur Paris, trong lúc được bổ nhiệm nghiên cứu về dich thương hàn xuất
huyết (hemorrhagic dysentery) đang hoành hành trong quân đội Pháp trú
đóng tại Mexico, đã tìm và chứng minh sự hiện diện của một siêu vi-trùng
sống ký sinh (parasite) trong vi-trùng. Do đó ông đề nghị đặt tên loại
siêu vi-trùng này là loại “Ăn vi trùng” Bacteriophage (từ chữ bacteria
= vi-trùng và phagein = ăn hay nuốt). Ông nghĩ rằng ông là người đã tìm
ra Bacteriophage. Nhưng vì ông Twort cũng là người đã đưa ra giả thuyết
về sư hiện diện của siêu vi-trùng trong vi-trùng nên có sự đồng ý chung
là cả 2 ông đều có công trong việc tìm ra Bacteriophage do đó thường gọi
đó là "hiện tượng Twort-d’Herelle".
Chẳng bao lâu sau (1919) ông Herelle bắt đầu dùng Bacteriophage để trị
bệnh cho một em bé 12 tuổi đang bị thương hàn (dysentery) rất nặng tai
bệnh viện nhi đồng Paris (Hopital des Enfants-Malades, Paris). Chính ông
Herelle cùng với giáo sư Victor-Henry Hutinel và một số nội trú (intern)
đã uống liều “phage” để chứng tỏ sự an toàn của nó trước khi trị bệnh
cho em bé. Chỉ 24 giờ sau khi được uống Phage, triệu chứng bệnh của em
bé đã thuyên giảm lẹ làng và vài ngày sau đả hoàn toàn lành bệnh. Công
hiệu của trị liệu bằng “phage” đả được chứng minh rỏ rệt qua nhiều lần
thành công chửa trị các bệnh nhận bị thương hàn. Tất cả đều lành bệnh
24 giò sau khi uống “Phage”. Dù vậy những kết quả này không được phổ biến
trên báo chí cho đến năm 1921 khi hai ông Bruynoghe và Joseph Maisin đưa
lên báo cho biết sự thành công của 2 ông trong việc dùng “phage” để chích
vào da bệnh nhân, nơi bi nhiễm trùng Staphylococcus và đã trị vết thương
hoàn toàn lành lặng sau 24-48 giờ điều trị.
Nhờ những kết quả tốt đẹp trong việc dùng Phage để tri bệnh, ông Herelle
rất phấn khởi và tiếp tục nổ lực tìm thêm nhiều loại “phage” mới để trị
cho cả ngàn người mắc bệnh dịch tả (cholera), dịch hạch (bubonic plague)
ở Ấn độ. Các nhá sản xuất cũng bắt đầu thương mại các loại “phage” để
trị nhiều bệnh do vi-trùng gây ra. Tại Mỹ, hãng Eli Lilly năm 1940 có
sản xuất 7 loại “phage” để trị các bệnh do Staphylococcus, Streptococcus,
Escherichia coli và vài loại vi-trùng khác. Nhưng ví sự bành trướng rất
mạnh của trụ-sinh trong thời gian này nên phương pháp trị liệu bằng phage
không được phát triển ở các nước Tây Phương mà chỉ thông dụng tại các
quốc gia Đông Âu và những chư hầu củ của khối Liên Bang Sô Viết (Poland,
Georgia).
Phage đã được sản xuất để trị các vi-trùng nhóm: Brucellae, Enterococci,
Escherichia coli gây bệnh (0157:H7), Klebsiella, Mycobacterium tuberculosis,
Protei, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella spp, Shigella spp, Staphylococci,
Streptococci, Vibrio cholera, Yersinia spp.
Chúng ta có thể tìm thấy Phage gần như ở khắp nơi, ở dưới đất, ở dưới
biển, trong miệng, bộ phân tiêu hóa, ở tất cả nơi nào có vi-trùng sống.
Phage sẽ bành trướng mạnh nhờ có vi-trùng sống và sẽ chết nếu không có
vi-trùng
Vì phage rất chuyên biệt cho mổi loại vi-trùng nên cũng có điều lợi và
bất lợi:
Phải chọn lựa cho đúng 1 loại phage để tri bệnh gây bởi 1 loại vi-trùng.
Nhờ có tính chuyên biệt mà khi trị bệnh, phage chỉ giềt chết vi-trùng
gây bệnh mà không ảnh hưởng đến các vi-trùng khác như nhóm vi-trùng thuộc
bộ tiêu hóa (flora of the intestines), đường tiểu (urogenital tract).
Phage không gây dị ứng (allergies) hay ảnh hưởng đến hệ thống miễn nhiễm
(immune system)
Phage không bị (hay rất hạn chế) tác dụng của các hóa chất trị liệu (chemotherapeutic)
Có thể dùng Phage để phòng bệnh hay trị bệnh
Chỉ cần một liều nhỏ phage, trong vòng một thời gian ngắn
Phage giết vi-trùng gây bệnh rất nhanh và hữu hiệu hơn trụ sinh
Sản xuất phage rất rẻ tiền, không dòi hỏi những trang bị đặc biệt, tốn
kém.
Có thể cất giữ phage trong khoảng 2 năm
Tri liệu bằng Phage tuy vậy vẩn luôn bị trở ngại vì nhiều lý do:
Thói quen của các bệnh viện, không muốn thay đổi và tiếp tục dùng các
loại thuốc hóa chất quen thuộc.
Sự chống đối mảnh liệt của các nhà sản xuất thuốc vì họ đả bỏ vốn rất
nhiều để đầu tư cho việc điều chế các loại trụ-sinh hóa chất.
Các bác-sĩ không muốn bỏ việc dùng các loại trụ-sinh có tác dụng rộng
(wide-spectrum antibiotic) để trở qua dùng phage có tác dụng quá chuyên
biệt. Vì tính chuyên biệt của phage nên việc trị liệu cũng phải được phối
hợp kỹ lưỡng và theo thứ tự: định bệnh - sản xuất phage – cho uống phage.
Chưa có một điều lệ tiêu chuẩn căn bản nào cho việc dùng phage.
Plasmid: Trong vi-trùng, ngoài
chất DNA của nhiểm-sắc-thể, có thể có sự hiện diện của những sợi đôi vòng
DNA (circular double-stranded DNA) gọi là Plasmid (kích thước 1 -10 Kb).
Mổi plasmid có khoãng10 genes trong đó có gene giúp vi-trùng kháng thuốc.
Plasmid không cần thiết cho sự sống của vi-trùng. Plasmid có thể tự sinh
sản (replicate) và truyền sang vi-trùng con. Chúng ta có thể ví plasmid
như là một vi-trùng nhỏ trong vi-trùng. Các vi-trùng nhạy cảm (vì không
có plasmid chống thuốc) có thể trở thành kháng-sinh khi tiếp nhận plasmid
chống thuốc từ các vi-trùng khác qua sự giao hợp.
Ts Lâm-Kim-Cương
Copyright, 2008. Muốn phổ biến
bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay,
www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |