VAI TRÒ CỦA BNP VÀ NT-proBNP TRONG SUY TIM NGƯỜI LỚN: BẰNG CHỨNG KHOA HỌC
ThS Đào Duy An, Bác sỹ trưởng, Vietcare Co, Ltd, HCM City

Tóm tắt, từ khóa, từ viết tắt
Abstract, key words, abbreviations
Dẫn nhập
Đặc điểm BNP và NT-pro BNP
Chẩn đoán suy tim.

Điều trị suy tim
Tiên lượng suy tim

Sàng lọc suy tim
Chọn xét nghiệm nào
Thực tế Việt Nam
.
Tài liệu tham khảo

Dẫn nhập
Suy tim (ST, từ trước đây gọi là ST ứ huyết [T3]) là loại bệnh tim mạch đang tăng nhanh trên thế giới [T5, T8] và chiếm ngân sách y tế cao [T40]. Tại Mỹ: (1) tỷ lệ hiện hành ST người lớn là 2% [T1, T5]; (2) ở người trên 65 tuổi, tỷ lệ hiện hành ST là 6%-10% [T3, T5], tỷlệ phát sinh ST khoảng 10/1000 dân [T2, T3] và tỷ lệ nhập viện chiếm 80% bệnh nhân (BN) ST [T3]. Ở các nước châu Âu, tỷ lệ hiện hành ST khoảng 0,4% - 2% [T16]. Suy tim có tiên lượng tương đương ung thư: 40% ST nhẹ còn sống sau 4 năm và 50% ST nặng hơn sống sau một năm [T4]; tỷ lệ tử vong chung 5 năm xấp xỉ 50% [T2, T6, T16]. Vì vậy, cần có phương tiện cận lâm sàng giúp chẩn đoán sớm, phân tầng nguy cơ, điều trị và tiên lượng ST nhằm cải thiện tình trạng mắc và chất lượng sống người ST; BNP (Brain natriuretic peptide, B-type natriuretic peptide) và NT-proBNP (N-terminal pro-BNP) dường như đảm nhận vai trò đó [T7, T10, T14, T16, T23, T26].
Đặc điểm BNP và NT-pro BNP
Hiện nay, có 4 loại peptide thải natri là atrial natriuretic peptide (phát hiện năm 1981 ở tâm nhĩ chuột), BNP, C-type natriuretic peptide và D-type natriuretic peptide [T9, T10, T11, T12, T29] giống nhau về cấu trúc là đều cóvòng 17 acid amin và cầu disulfide nối 2 phân tử cysteine [T7, T16]. BNP do Sudoh phát hiện đầu tiên ở não heo năm 1988 nhưng ngay sau đó được tìm thấy nhiều tại tim, đặc biệt ở tâm thất [T7, T9, T10, T12, T29] người ST cũng như người khỏe mạnh [T14]. Pro-BNP ở người, một polypeptide gồm108 acid amin được phóng thích khi có tăng sức nén (stress) huyết động học tại tim (tức thành tim bị giãn, phì đại hoặc tăng áp lực tác động lên thành tim), thủy phân thành BNP (36 acid amin) có hoạt tính sinh học và NT-proBNP (72 acid amin) không có hoạt tính sinh học [T9, T12, T14, T15, T16, T29]. BNP gây giãn động mạch, tăng thải nước và natri, giảm kích hoạt hệ thống renin–angiotensin–aldosterone và thần kinh giao cảm [T9, T14, T15, T17] đồng thời ức chế tế bào cơ tim tăng trưởng, phì đại và chống lại quá trình phân bào vốn gây ra tái cấu trúc tâm thất [T17]. Ngoài ST, nồng độ BNP và NT-proBNP tăng trong những trường hợp sau: (1) tuổi cao; (2) cơ địa: béo phì;  (3) bệnh lý: sốc, tăng áp phổi, hội chứng suy hô hấp cấp, bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn, suy thận, … [T21, T29, T32]. Giữa BNP và NT-proBNP có những khác biệt cơ bản về cấu trúc cũng như nồng độ ngưỡng để chẩn đoán ST (Bảng 1). Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ công nhận xét nghiệm BNP năm 2000 và NT-proBNP năm 2002 [T16, T19].
Ngưỡng chẩn đoán ST đối với BNP là 100 ng/L và NT-proBNP là 31 pmol/L [T67].
Chẩn đoán suy tim.  
Chẩn đoán xác định. Các hướng dẫn điều trị cũng như thực hành đều dựa vào tiêu chí Framingham hoặc tiêu chí châu Âu để xác định ST [T22, T23, T24] và thường khi ấy thì bệnh trạng đã lộ rõ dẫn đến hiệu quả điều trị cũng như chất lượng sống không cao.
So sánh với siêu âm tim: (1) nồng độ BNP tương quan với sức nén thành cơ tim cuối tâm trương cả trong ST tâm thu và tâm trương [T25]; (2) siêu âm tim là “tiêu chuẩn vàng” đánh giá chức năng thất trái [T14, T28] nhưng ước tính 20%-50% bệnh nhân (BN) ST tâm trương có chức năng thất trái bình thường [T27].
Chẩn đoán loại trừ. Sử dụng BNP và NT- pro BNP để loại trừ nguyên nhân khó thở do tim và ngoài tim [T15, T30], đặc biệt tại phòng cấp cứu bởi có đến 15%-20% khó thở do đợt cấp ST bị chẩn đoán sai [T9]. Ngưỡng NT-proBNP phụ thuộc tuổi 900 ng/L có giá trị tương đương ngưỡng BNP 100 ng/L trong xác định ST cấp có khó thở [T33]. So sánh BNP với các thông số khác trong chẩn đoán nguyên nhân khó thở [T67].
Chẩn đoán phân loại.
Balion et al [T36] phân tích dữ liệu lưu trữ trên MEDLINE, EMBASE, CINAHL, Cochrane Central và AMED t 1989 đến 2/2005 kết luận BNP và NT-proBNP có giá trị loại trừ cũng như tiên lượng ST.
Chẩn đoán ST cấp [T14, T15]
Chẩn đoán ST tâm thu:
RLCN tâm thu (RLTTh), nguyên nhân ST thường gặp ở người cao tuổi, cũng tương quan với nồng độ BNP dù mức tăng không cao như trong RLTTh [T20].
Chẩn đoán ST tâm trương:
Tschöpe et al [T34] xác định nồng độ NT-proBNP huyết tương ở 68 người rối loạn chức năng (RLCN) tâm trương đơn độc và phân suất tống máu thất trái bình thường (>/=50%)  và ở 50 có chức năng thất trái bình thường đồng thời siêu âm tim quy ước, siêu âm Doppler mô và thông tim phải và trái. Nồng độ trung vị NT-proBNP tăng [189,54 ng/L (86,16–308,27) so với  51,89 ng/L (29,94–69,71); P<0,001] và tăng khi RLTTr nặng lên (R=0,67, P<0,001). Độ tin cậy của NT-proBNP tương tự chỉ số siêu âm Doppler mô và cao hơn so với siêu âm tim quy ước. Nồng độ NT-proBNP là yếu tố dự báo âm tính tốt nhất so với siêu âm tim quy ước và siêu âm tim Doppler mô (94%) và tương quan mạnh với các chỉ số áp lực đổ đầy thất trái qua thông tim. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến khẳng định NT-proBNP là yếu tố dự báo độc lập RLTTr với tỷ số chênh là 1,2 (khoảng tin cậy 95% là 1,1–1,4) đối với tăng NT-proBNP mỗi một đơn vị. Các tác giả nhận thấy NT-proBNP có thể phát hiện đáng tin cậy RLTTr đơn độc ở BN không có triệu chứng và là phương tiện hữu ích để loại trừ căn nguyên khó thở không do tim.
Ceyhan et al [T39] năm 2007 khảo sát 40 người THA cũng nhận thấy NT-proBNP phát hiện RLCN tâm trương (RLTTr) thất phải rất tốt.
Chẩn đoán độ nặng
Chẩn đoán ST tại cộng đồng. Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, ST thường bị chẩn đoán sai dẫn đến chậm trễ điều trị và tăng chi phí [T14]. Nồng độ BNP thấp (< 50 ng/L) có thể loại trừ RLCN thất trái; ngược lại khi BNP cao hơn thì cần thực hiện các phương tiện cận lâm sàng khác để xác định tình trạng ST [T14]. Khi nồng độ BNP < 100 ng/L thì trị số dự báo âm tính ST là 98% [T27] và khi NT-proBNP bình thường, có thể loại trừ ST đến 98–99% [T18].
Nồng độ BNP và NT-proBNP tương quan mạnh phân suất tống máu thất trái giảm và có thể sử dụng để phát hiện RLCN thất trái không có triệu chứng [T20].
Fuat  et al [T37] xét nghiệm BNP và NT proBNP ở 297 BN có triệu chứng và dấu hiệu gợi ý ST tại cộng đồng. Có 38% bị RLTTh thất trái trên siêu âm. Tại ngưỡng 100 ng/L do hãng sản xuất đề nghị, BNP có trị số dự báo âm tính ST là 82%, còn tại ngưỡng 40 ng/L thì trị số dự báo âm tính lâ 88%. Với NT proBNP, ở ngưỡng 150 ng/L, trị số dự báo âm tính ST là 92%. Chọn ngưỡng BNP là 40 ng/L và NT pro-BNP là 150 ng/L thì có thể giúp giảm được lần lượt  24% và 25% trường hợp nghi ngờ ST chuyển đến bệnh viện. Tại cộng đồng, so với BNP, NT pro-BNP tỏ ra trội hơn chút ít và dễ sử dụng hơn.
Zaphiriou A et al [T38] nghiên cứu trên cộng đồng 306 người Anh nghi ngờ ST cũng nhận thấy BNP và là NT-proBNP phương tiện chẩn đoán loại trừ ST.
Điều trị suy tim
Hướng dẫn điều trị
STARBRITE [T41], thử nghiệm lâm sàng phân bổ ngẫu nhiên nhiều trung tâm công bố năm 2006, nhằm xác định liệu BN ngoại trú uống thuốc lợi tiểu điều chỉnh theo nồng độ BNP và kết quả lâm sàng có sống thêm hơn và không phải nhập viện sau 90 ngày nhiều hơn kể từ lần khám đầu so với cách thức chỉ dựa vào mỗi đánh giá lâm sàng. Mẫu là 130 BN từ 3 nơi, có PSTM <35% xác định tại lần nhập viện do ST cấp được phân thành nhóm điều trị theo nồng độ BNP và kết quả lâm sàng (BNP) hoặc nhóm chỉ có đánh giá lâm sàng (Congestion Score). Đích của 2 nhóm là hết ứ huyết mà không có giảm HA hoặc suy thận. Ở nhóm BNP, điều chỉnh thuốc để BNP nhỏ hơn 2 lần tại thời điểm xuất viện. Loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu nếu BN có creatinin huyết tương >3,5 mg/dL hoặc bị hội chứng động mạch vành cấp. Sử dụng tét BNP nhanh. Trong nhóm Congestion Score, các thầy thuốc không biết nồng độ BNP. Mẫu có tuổi trung bình là 59,8 tuổi (50,6 – 71,9); 70% nam; HATTh là 108 mm Hg (95 - 122); PSTM là 20% (15 - 25); BUN là 29 mg/dL (21 – 43), creatinin huyết tương là 1,4 mg/dL (1,1 – 1,8); BNP lúc nhập viện là 640 ng/L (245 - 1450) và khi xuất viện là 445,5 ng/L (191 - 1030). Có 3,1% BN chết; 35,4% BN nhập viện lại. Trong nhóm BNP cho thấy xu hướng sống lâu hơn và không nhập viện sau 90 ngày (tỷ số nguy cơ [TSNC] là  0,72; khoảng tin cậy [KTC] 95%:  0,41 – 1,27; P = 0,25); nồng độ BNP thấp hơn (P = 0,02); nồng độ BUN thấp hơn (24 mg/dL so với 29 mg/dL; P = 0,07); và khác biệt không có ý nghĩa về creatinin (1,4 mg/dL so với 1,5 mg/dL; P = 0,47) hoặc về HATTh. Nhóm BNP uống thuốc ức chế men chuyển, chẹn thụ thể giao cảm beta nhiều hơn có ý nghĩa và ít phải tăng liều thuốc lợi tiểu hơn.

Pfisterer M et al [T42] năm 2009 công bố kết quả nghiên cứu trên 499 BN bị ST tâm thu (PSTM <45%) nhằm giải quyết vấn đề liệu điều trị ST tăng cường căn cứ nồng độ NT-proBNP có ưu điểm hơn so với căn cứ triệu chứng. Đây là thử nghiệm đa trung tâm, đối chứng và phân nhóm ngẫu nhiên. Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, bị ST từ độ New York Heart Association (NYHA) II trở lên, đã từng nhập viện do ST trong vòng một năm và có NT-proBNP >/= 2 lần giới hạn trên và được theo dõi 18 tháng. Chỉnh liều thuốc theo các hướng dẫn để giảm triệu chứng ST xuống còn độ </= NYHA II (nhóm điều trị dựa trên triệu chứng) và giảm nồng độ NT-proBNP </= 2 lần giới hạn trên và  giảm triệu chứng ST xuống còn độ </= NYHA II (nhóm điều trị dựa trên BNP). Các tiêu chí đánh giá chính là còn sống tại thời điểm tháng thứ 18 mà không bị nhập viện bất luận nguyên nhân và chất lượng sống đánh giá theo bảng kiểm đã duyệt.
Các tác giả tìm thấy tỷ lệ sống ở nhóm điều trị dựa trên NT-proBNP tương tự nhóm điều trị dựa trên triệu chứng (41% so với 40%; TSNC: 0,91; KTC 95%: 0,72-1,14; P = 0,39). Sau 18 tháng theo dõi, chất lượng sống cải thiện và tương tự ở cả 2 nhóm. Khi so sánh với nhóm điều trị căn cứ triệu chứng, nhóm điều trị căn cứ NT-proBNP có tỷ lệ sống mà không nhập viện do ST (tiêu chí đánh giá phụ) cao hơn (72% so với 62%; TSNC: 0,68; KTC 95%: 0,50-0,92; P = 0,01). Trong nhóm điều trị dựa vào NT-proBNP, chỉ người độ tuổi từ 60-75 tuổi mới có cải thiện các kết cục lâm sàng còn người >/= 75 tuổi thì không (P < 0,02).
Xuất viện khi nào?
Khi BNP < 500 ng/L [T11]
Phân tầng nguy cơ
Tiên lượng suy tim [T15]. Nồng độ NT-proBNP tiên lượng tốt nhất đột tử và các biến cố tim ở ST [T18]. Trong ST cấp, nồng độ BNP và NT-proBNP tăng lúc nhập viện và xuất viện có ý nghĩa tiên lượng quan trọng [T23]. Ước tính BNP tăng mỗi 100 ng/L thì làm nguy cơ tử vong tăng 35% [T16].
Sàng lọc suy tim BNP có vẻ cũng giúp sàng lọc ST chưa có biểu hiện lâm sàng như ở người cao tuổi, THA, đái thường và bệnh động mạch vành không có triệu chứng [T15]. 
Chọn xét nghiệm nào?
Emdin et al năm 2007 [T30] xét nghiệm NT-proBNP và BNP huyết tương của 182 người khỏe mạnh và 820 người ST theo phân loại American Heart Association/American College of Cardiology (86 người ST giai đoạn A, 255 người giai đoạn B, 420 người giai đoạn C và 59 người giai đoạn D). Nồng độ BNP và NT-proBNP tăng từ giai đoạn A đến D lần lượt gấp 57 lần và 107 lần. Cả hai xét nghiệm phân biệt chuẩn xác (P <0,001) ST giai đoạn B so với nhóm chứng hoặc giai đoạn A và ST giai đoạn C so với nhóm chứng hoặc giai đoạn A hoặc giai đoạn B. So với BNP, NT-proBNP phân biệt chuẩn xác hơn (P <0,001) ST giai đoạn C với ST giai đoạn A và B và nhóm chứng và là yếu tố giúp phân loại ST tốt hơn với kiểu thức có cả tuổi, phái và chức năng thận (P <0,001).
Vanderheyden et al [T35] so sánh đối đầu NT-proBNP và BNP nhận thấy NT-proBNP đánh giá RLCN thất trái tốt hơn BNP.
So với BNP, nhờ khoảng nửa đời (half-life) dài hơn nên NT-pro-BNP dự báo sức nén tâm thất tốt hơn và do vậy mà tiên lượng tốt hơn [T15].
Thực tế Việt Nam
Tử vong do ST ở Việt Nam là một trong 10 bệnh gây tử vong cao nhất [T68] (Bảng?)  
Giá các XN này tại Mỹ khoảng 15-25 đô la [T9] còn tại Tp HCM hiện khoảng 300-400 ngàn đồng. Nếu cần gởi mẫu XN đi xa thì nên chọn loại NT-proBNP vì tính ổn định và bền vững [T12]

Tài liệu tham khảo >>> more >>> Đào Duy An_Tài liệu tham khảo.doc

Thạc sĩ Đào Duy An

Theo tôi nghĩ thì vấn đề đo nồng độ BNP có giá trị nhiều nhất là khi đo ở Emergency Room (Phòng Cấp Cứu) khi bệnh nhân vào vì SOB (Shortness of breath, khó thở) để screening for CHF (Chronic Heart Failure, suy tim mãn tính). Còn vấn đề theo dõi nồng dộ BNP trên bệnh nhân bị CHF trong lúc chữa trị tại bệnh viện vẫn là một đề tài còn tranh cãi [controversial!].
Bs Nguyễn Xuân Ngãi
, Chuyên Khoa Bệnh Tim Mạch, San José, California

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
   
 

>>>back>>>

Y Dược Khoa Thực Hành