 |
Ung
thư thực quản
Bác sĩ Trần Lý Lê
Thực quản nằm trong lồng ngực, dài khoảng 10 phân Anh hay 25 cm. Bộ
phận này là một phận của hệ thống tiêu hóa. Thực phẩm di chuyển từ miệng
qua thực quản xuống dạ dày (bao tử).
Thực quản là một cấu trúc hình ống, bao bọc bởi cơ trơn. Thành thực
quản có nhiều lớp:
• Lớp trong cùng hay màng lót (mucosa): Màng lót thực quản trơn ướt
nên thực phẩm đi qua dễ dàng
• Submucosa: Những tuyến tạo ra chất nhày. Chất nhày giúp thực quản
ẩm ướt.
• Lớp cơ trơn: Cơ co thắt đẩy thực phẩm xuống dạ dày.
• Lớp ngoài cùng: bao bọc thực quản.
Hiểu biết căn bản về ung thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô,
mô tạo thành bộ phận.
Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những tế
bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại,
chúng chết, và các tế bào mới thay thế.
Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất
hiện trong khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không
chết như đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối
gọi là "khối u“, bướu hay "tumor“. Khối u (bướu) có thể "lành“
(benign) hoặc "độc“ (malignant). Bướu lành thường không độc hại
như bướu độc.
Bướu lành:
• Ít khi gây tử vong
• Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
• Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
• Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu độc:
• Có thể gây tử vong
• Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
• Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
• Lan ra các bộ phận khác
Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên hay khối
ung thư nguyên phát (primary tumor). Các tế bào này theo mạch máu (blood
vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel) đến mọi bộ phận trong cơ
thể. Tế bào ung thư có thể “bám“ vào các bộ phận và sinh sản, tạo nên
một khối u mới hay khối ung thư thứ phát (secondary tumor) có thể gây
hư hoại các bộ phận này. Sự lan tràn của tế bào ung thư gọi là “metastasis”.
Ung thư thực quản khởi đầu từ những tế bào tại màng lót (lớp trong cùng)
của thực quản. Với thời gian, ung thư có thể ăn lậm đến các lớp mô khác
tại thực quản hay lan đến các mô lân cận.
Các loại ung thư thực quản
Có hai loại ung thư thực quản chính, cả hai loại ung
thư đều được chẩn đoán và chữa trị như nhau. Ung thư thực quản được
đặt tên theo thể loại tế bào ung thư khảo sát qua kính hiển vi. Cả hai
đều bắt đầu từ tế bào tại màng lót thực quản:
• Adenocarcinoma: Loại
ung thư này thường xuất hiện tại phần dưới của thực quản, gần dạ dày.
Tại Hoa Kỳ, đây là loại ung thư thực quản thường thấy nhất. Tỷ lệ ung
thư thực quản gia tăng từ những năm 70.
• Squamous cell carcinoma: Loại ung thư
này thường xuất hiện tại phần trên của thực quản, tỷ lệ ung thư này
giảm dần trong những người Hoa Kỳ. Tuy nhiên trên thế giới, loại ung
thư này trở nên phổ thông hơn.
Các yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư
thực quản:
Khi ung thư được chẩn đoán, người bệnh thường đặt câu hỏi về nguyên
nhân. Y học chưa biết rõ nguyên nhân của ung thư thực quản và cũng không
thể giải thích tại sao người này bị ung thư mà người khác không bị ung
thư. Tuy nhiên Y học đã dùng thống kê để nhận định một số yếu tố gia
tăng nguy cơ bị ung thư thực quản. Các yếu tố này bao gồm:
• Tuổi 65 trở lên: Tuổi tác là yếu tố nguy
hại chính, tuổi càng cao tỷ lệ ung thư thực quản càng gia tăng. Tại
Hoa Kỳ, bệnh nhân bị ung thư thực quản thường là những người tuổi 65
trở lên.
• Nam giới: Tại Hoa Kỳ, nam phái có tỷ
lệ ung thư thực quản cao gấp ba lần nữ phái.
• Hút thuốc lá thuốc lào: Người hút thuốc
có nguy cơ bị ung thư cao hơn người không hút.
• Uống nhiều rượu: Người uống nhiều hơn
ba ly rượu mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư thực quản loại squamous. Người
uống rượu và hút thuốc có tỷ lệ ung thư cao hơn nữa. Nghĩa là các yếu
tố hợp chung gây nguy cơ ung thư cao hơn nữa.
• Cách ăn uống: Cách ăn uống có ít rau
trái có thể gia tăng nguy cơ bị ung thư.
• Bệnh mập phì: Bị mập phì gia tăng nguy
cơ bị ung thư thực quản loại adenocarcinoma.
• Acid dội ngược (reflux): Acid dội ngược
từ dạ dày lên thực quản thường xảy ra, triệu chứng bao gồm đau rát lồng
ngực. Acid có thể gây hư hoại các mô tại thực quản. Sau nhiều năm, sự
hoại này có thể dẫn đến ung thư thực quản loại adenocarcinoma trong
một số người.
• Barrett esophagus: Acid dội ngược có
thể gây hư hoại thực quản và tạo thành chứng Barrett esophagus. Những
tế bào tại phần dưới thực quản trở nên bất thường. Những người bị Barrett
esophagus thường không hay biết. Barrett esophagus gia tăng nguy cơ
bị ung thư thực quản loại adenocarcinoma.
Các chuyên gia tiếp tục tìm kiếm các yếu tố gây nguy cơ bị ung thư thực
quản khác.
Có một hoặc nhiều các yếu tố kể trên không có nghĩa là sẽ bị ung thư
thực quản.
Triệu chứng
Khi mới phát, ung thư thực quản thường không gây triệu
chứng. Khi khối ung thư lớn đủ, có thể gây các triệu chứng sau:
• Thức phẩm kẹt trong thực quản, và thức ăn dội ngược lên miệng
• Khi nuốt thường đau đớn
• Đau tại vùng ngực
• Xuống ký
• Ợ chua
• Khan tiếng không thuyên giảm sau 2 tuần lễ.
Những triệu chứng này có thể gây ra bởi ung thư thực quản hoặc do những
chứng bệnh khác. Khi triệu chứng xuất hiện, cần đi khám bệnh để bác
sĩ có thể chẩn bệnh và chữa trị chính xác và nhanh chóng.
Chẩn bệnh
Nếu có triệu chứng kể trên, bác sĩ cần tìm kiếm nguyên
nhân. Bác sĩ có thể khám bệnh, hỏi về bệnh sử của người bệnh và cả thân
nhân. Ngoài thử nghiệm máu, bác sĩ cũng có thể dùng các loại thử nghiệm
khác như:
• Nuốt Barium: Bệnh nhân uống một dung
dịch có tên là barium, rồi chụp quang tuyến (X-ray) của thực quản và
dạ dày. Barium giúp hình ảnh của các cấu trúc này rõ ràng hơn. Loại
thử nghiệm này cũng có tên là upper GI series.
• Endoscopy: Bác sĩ dùng một ống nhỏ, mềm,
dễ uốn, đầu ống có đèn và kính hiển vi đưa vào miệng, xuống thực quản
để quan sát. Trước khi chuyển ống, bác sĩ làm tê cổ họng bệnh nhân hoặc
bệnh nhân được ngủ. Việc quan sát này cũng có tên là upper endoscopy,
EGD, hoặc esophagoscopy.
• Trích mô (Biopsy): Bác sĩ dùng đầu ống
endoscope để lấy một mảnh mô từ thực quản. Bác sĩ bệnh lý sẽ xem xét
các tế bào để tìm kiếm dấu vết ung thư. Loại thử nghiệm này sẽ cho biết
kết quả chính xác.
Trước khi làm sinh thiết (trích mô, biopsy), quý vị nên hỏi
bác sĩ các câu hỏi sau:
• Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
• Tôi có phải ở lại bệnh viện không? Nếu có, thì bao nhiêu lâu?
• Tôi có phải làm gì để sửa soạn không?
• Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh
thiết? Có đau đớn lắm không?
• Làm sinh thiết có rủi ro không? Tôi có bị xuất huyết không? Nhiễm
trùng?
• Bao nhiêu lâu thì tôi sẽ hồi phục? Bao giờ thì tôi có thể ăn uống
như thường?
• Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả
cho tôi hiểu?
• Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước
sắp tới? Và bao giờ?
Định kỳ ung thư
Nếu kết quả sinh thiết xác nhận ung thư, bác sĩ sẽ cần tìm kiếm xem
ung thư đang ở giai đoạn nào hay thời kỳ nào để có thể định bệnh và
giúp bệnh nhân chọn cách trị liệu thích hợp:
• Ung thư đã ăn sâu đến đâu trên thành thực quản
• Ung thư đã lan đến các cấu trúc lân cận chưa
• Ung thư đã lan xa chưa, nếu có, đã lan đến bộ phận nào
Khi ung thư thực quản lan tràn, dấu vết ung thư thường xuất hiện tại
các hạch bạch huyết lân cận. Khi ung thư lan đến các hạch này, thì cũng
có thể lan đến các hạch huyết xa hơn, xương hoặc các cấu trúc khác.
ung thư cũng có thể lan đến gan và phổi.
Bác sĩ có thể dùng những loại thử nghiệm sau đây để định kỳ ung thư:
• Siêu âm qua nội soi (Endoscopic ultrasound):
Tại đầu ống nội soi có gắn dụng cụ dò siêu âm. Âm thanh dội lại từ các
mô thực quản và các cấu trúc lân cận. Hình ảnh được cấu tạo từ những
song âm thanh và trình bày trên màn ảnh. Hình ảnh này cho thấy độ sâu
của khối ung thư; bác sĩ có thể cần làm sinh thiết trong khi nội soi.
• CT scan: Hình ảnh của thực quản và khoang
bụng được chụp bằng CT scan. Bs có thể tìm thấy hạch bạch huyết sưng
trướng và cũng có thể dùng “contrast”, hóa chất giúp hình ảnh rõ ràng
hơn.
• MRI: Hình ảnh của thực quản và khoang
bụng được chụp bằng MRI. Bác sĩ có thể tìm thấy hạch bạch huyết sưng
trướng và cũng có thể dùng “contrast”, hóa chất giúp hình ảnh rõ ràng
hơn.
• PET scan: bệnh nhân có thể được thử nghiệm
bằng PET scan, dung dịch chứa đường phóng xạ (radioactive sugar) được
chích vào mạch máu. Các tế bào ung thư thu nhận đường, do đó, khôi ung
thư chứa các tế bào thu nhận đường phóng xạ được chiếu rõ trên màn ảnh.
• Bone scan: bệnh nhân được chích một dung
dịch phóng xạ,chất phóng xạ theo máu luân lưu khắp cơ thể và tích tụ
trong xương. Hình ảnh cho thấy những phần xương bị ung thư.
• Tiểu phẫu nội soi (Laparoscopy): bệnh
nhân được đánh thuốc mê, bác sĩ cắt một vệt nhỏ trên bụng chuyển ống
nội soi quan sát khoang bụng và trích mô hạch bạch huyết để thử nghiệm
tìm dấu vết ung thư.
Đôi khi việc định kỳ chỉ hoàn tất sau khi mổ cắt bỏ khối u và các hạch
bạch huyết lân cận. Khi ung thư lan từ khối u nguyên thủy đến những
bộ phận khác, khi đến các bộ phận kể trên, khối u mới cũng bao gồm các
tế bào ung thư thực quản. Thí dụ như khi ung thư thực quản lan đến gan
vẫn được gọi là ung thư thực quản và chữa trị như ung thư thực quản
(không phải ung thư gan), và còn được gọi là “metastatic disease”.
Ung thư thực quản có ba giai đoạn:
• Thời kỳ 0: Tế
bào bất thường được tìm thấy tại lớp màng lót của thực quản. Giai đoạn
này có tên “carcinoma in situ”.
• Thời kỳ I:
Tế bào ung thư ăn lậm qua màng lót, đến lớp submucosa. (Xem hình vẽ).
• Thời kỳ II: Một trong những tình trạng
sau:
-Tế bào ung thư ăn lậm qua màng lót, qua lớp submucosa và đã lan đến
hạch bạch huyết.
-Hoặc, ung thư lậm sâu đến lớp cơ trơn, lan đến hạch bạch huyết.
-Hoặc, ung thư ăn lậm qua thành thực quản, lớp ngoài cùng.
• Thời kỳ III: Một
trong những tình trạng sau:
-Ung thư ăn lậm qua thành thực quản, lớp ngoài cùng, và lan đến hạch
bạch huyết.
-Hoặc, ung thư đã lan đến các bộ phận lân cận như khí quản. ung thư
có thể lan đến hạch bạch huyết.
• Thời kỳ IV: Ung
thư đã lan đến các bộ phận xa hơn như gan.
Chữa trị: Giải phẫu, Xạ Trị và Hóa Chất
Có nhiều cách chữa trị chứng ung thư thực quản: giải
phẫu, xạ trị và / hoặc hóa chất. Bác sĩ có thể dùng một, hai, hoặc cả
ba cách chữa trị kể trên. Thí dụ: Xạ trị dùng chung với hóa chất sau
khi giải phẫu. Cách chữa trị được xem là thích hợp cho bệnh nhân tùy
thuộc những yếu tố sau:
• Vị trí của khối u tại thực quản
• Mức lan tràn của khối u
• Khối u đã lan đến hạch bạch huyết hoặc đến các bộ phận khác
• Triệu chứng
• Tình trạng sức khỏe toàn diện của bệnh nhân
Ung thư thực quản còn là một chứng nan y, khó chữa trị. Do đó, bác sĩ
có thể khuyến khích bệnh nhân tham dự một cuộc thử nghiệm lâm sàng,
tìm kiếm và thí nghiệm những cách trị liệu mới. Thử nghiệm lâm sàng
quan trọng cho bệnh nhân trong mọi giai đoạn của ung thư thực quản.
Xin xem thêm tiết mục Tham Gia Thử Nghiệm Lâm Sàng
Quý vị có thể nhờ bác sĩ giới thiệu một chuyên viên trong ngành trị
liệu này như bác sĩ chuyên môn về bệnh tiêu hóa (gastroenterologist),
bác sĩ chuyên môn chữa trị ung thư thực quản như bác sĩ giải phẫu lồng
ngực (thoracic (chest) surgeons), bác sĩ giải phẫu ung thư (thoracic
surgical oncologists), bác sĩ chữa trị ung thư (medical oncologists)
hoặc bác sĩ chuyên về xạ trị (radiation oncologists). Những chuyên viên
khác có thể bao gồm điều dưỡng chuyên về ung thư hoặc cả chuyên viên
về dinh dưỡng. Nếu bộ phận hô hấp bị nghẽn vì khối ung thư, bệnh nhân
có thể cần chuyên viên về hô hấp (respiratory therapist). Nếu thực quản
bị nghẽn gây khó khăn khi nuốt thức ăn hoặc nước miếng, bệnh nhân sẽ
cần chuyên viên về phát âm (speech pathologist).
Nhóm chuyên viên trị liệu có thể bàn thảo cách chữa trị thích hợp, kết
quả mong đợi, và biến chứng nếu có. Cách trị liệu ung thư thường gây
hư hoại những tế bào và mô bình thường nên bệnh nhân thường chịu phản
ứng phụ. Trước khi bắt đầu cuộc trị liệu, bệnh nhân nên thảo luận với
bác sĩ về phản ứng phụ và cách trị liệu ảnh hưởng đến đời sống hằng
ngày ra sao. Bác sĩ và bệnh nhân có thể thẩm định và lựa chọn cách chữa
trị thích hợp nhất.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc
trị liệu:
• Tôi bị ung thư ở thời kỳ nào? Ung thư đã lan chưa? Có lan đến hạch
bạch huyết chưa?
• Có những cách chữa trị nào cho căn bệnh của tôi? Bác sĩ nghĩ rằng
cách trị liệu nào thích hợp nhất? Lý do?
• Tôi có được chữa trị bằng nhiều phương cách hay không?
• Lợi ích của mỗi cách chữa trị này là những gì?
• Phản ứng phụ và những rủi ro của mỗi cách chữa trị này bao gồm những
gì? Ta có thể giảm thiểu phản ứng phụ hay không?
• Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
• Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
• Việc chữa trị có tốn kém lắm không? Bảo hiểm của tôi có trang trải
những phí tổn này không?
• Bác sĩ có thể giới thiệu một bác sĩ chuyên môn khác cho tôi xin ý
kiến thứ nhì không? Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho
tôi không?
• Sau khi trị liệu, tôi có phải khám bệnh đình kỳ thường xuyên không?
Giải phẫu
Có nhiều loại giải phẫu để chữa trị ung thư thực quản.
Phương pháp giải phẫu tùy thuộc về trí của khối ung thư. Bác sĩ có thể
cắt bộ một phận hoặc toàn thể thực quản. Thông thường, bác sĩ cắt bộ
phận ung thư tại thực quản, hạch bạch huyết và những mô lân cận. Một
phần dạ dày hoặc cả dạ dày cũng có thể bị cắt bỏ. Bệnh nhân và bác sĩ
có thể thảo luận và quyết định cách chữa trị thích hợp nhất.
Bác sĩ mở lồng ngực và khoang bụng để cắt bỏ khối ung thư. Trong hầu
hết mọi trường hợp, bác sĩ nối dạ dày với phần còn lại của thực quản
hoặc dùng một đoạn ruột non (hoặc ruột già) có thể được dùng để nối
dạ dày và phần còn lại của thực quản. Bác sĩ cũng có thể nối ruột non
với phần còn lại của thực quản nếu dạ dày bị cắt bỏ.
Trong khi mổ, bác sĩ có thể đặt một ống truyền thức ăn vào ruột non;
ống này giúp chuyển chất nuôi cơ thể trong khi vết cắt lành lặn. Đọc
thêm ở phần Dinh Dưỡng về cách ăn uống hậu giải phẫu.
Bệnh nhân có thể đau đớn vài ngày hậu giải phẫu và có thể dùng thuốc
giảm đau. Trước khi giải phẫu, bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về
cách giảm đau. Hậu giải phẫu, bác sĩ có thể gia giảm thuốc giảm đau
để giúp bệnh nhân dễ chịu hơn.
Các chuyên viên chăm sóc sức khỏe sẽ tìm kiếm dấu vết của việc thức
ăn thoát ra từ đường tiêu hóa, nơi vừa được cắt vá; dấu vết của viêm
phổi hoặc nhiễm trùng, khó thở, xuất huyết hoặc những biến chứng khác
cần được chữa trị kịp thời.
Thời gian cần thiết để phục hồi tùy thuộc vào cá nhân và tùy theo loại
giải phẫu. Bệnh nhân có thể nằm bệnh viện khoảng 1 tuần lễ.
Quý vị có thể hỏi bác sĩ của mình về cuộc giải phẫu:
• Bác sĩ sẽ thực hiện cách giải phẫu nào cho tôi?
• Bác sĩ có cắt bỏ hạch bạch huyết không? Cắt bỏ những mô khác? Cắt
bỏ dạ dày? Lý do tại sao?
• Tôi sẽ ra sao sau khi mổ?
• Tôi có cần ăn uống kiêng khem gì không?
• Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
• Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
• Tôi có gặp trở ngại trong việc ăn uống không? Có cần ăn uống qua ống
dẫn không? Nếu cần thì phải dùng ống dẫn bao nhiêu lâu? Làm thế nào
để chăm sóc ống dẫn thức ăn? Ai sẽ là người giúp đỡ khi tôi gặp trở
ngại?
• Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không?
• Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
Xạ Trị
Xạ trị (Radiation therapy hoặc radiotherapy) là việc
dùng quang tuyến cao năng lượng để diệt tế bào ung thư và chỉ ảnh hưởng
đến tế bào tại nơi chữa trị.
Xạ trị có thể được dùng trước hoặc sau khi giải phẫu, hoặc thay cho
giải phẫu. Xạ trị thường được dùng chung với hoá chất trị liệu để chữa
ung thư thực quản.
Bác sĩ dùng 2 loại xạ trị, một số bệnh nhân cần cả hai loại xạ trị:
• Ngoại xạ trị (External radiation
therapy): Tia phóng xạ xuất phát từ máy phát xạ
bên ngoài cơ thể, nhắm đến khối ung thư. bệnh nhân có thể đến bệnh viện
hoặc trung tâm Y khoa để chữa trị. Việc ccữa trị thường kéo dài 5 ngày
mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.
• Nội xạ trị (Internal radiation
therapy hoặc brachytherapy): Bác sĩ gây tê tại
cuống họng ben và dùng thuốc an thần để giúp bệnh nhân dễ chịu; sau
đó chuyển một ống vào thực quản. Phóng xạ đến từ ống này. Khi bác sĩ
lấy ống phóng xạ ra khỏi cơ thể, việc chữa trị hoàn tất. Phản ứng phụ
tùy thuộc vào lượng và loại xạ trị. Ngoại xạ trị đến ngực và bụng thường
gây rát cổ, khó nuốt hoặc đau đớn tại vùng bụng, bệnh nhân có thể buồn
nôn và ói mửa. Bác sĩ có thể dùng thuốc men để làm giảm các triệu chứng
kể trên. Vùng da nơi chiếu xạ trị sẽ đỏ rát, khó chịu. Hiếm khi xạ trị
tại ngực gây hư hoại phổi, tim hoặc cột sống.
Bệnh nhân thường rất mệt mỏi trong khi xạ trị, nhất là những tuần lễ
sau chót của cuộc chữa trị. Sự mệt mỏi mất sức sẽ kéo dài nhiều tuần
lễ sau đó. Nghỉ ngơi, dưỡng sức là việc quan trọng nhưng bác sĩ thường
cổ võ việc vận động cơ thể càng nhiều càng tốt.
Xạ trị có thể dẫn đến việc khó nuốt. Thí dụ, đôi khi xạ trị có thể hủy
hoại thực quản và gây khó nuốt, hoạt xạ trị có thể làm thu nhỏ thực
quản. Trước khi chữa trị, bác sĩ có thể đặt một ống plastic vào thực
quản để ngăn sự thu hẹp thực quản. Nếu xạ trị gây khó nuốt, sẽ ảnh hưởng
đến sự dinh dưỡng. Bệnh nhân nên thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng
và xem thêm phần Dinh Dưỡng.
Quý vị có thể tìm đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Radiation Therapy
and You của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc
xạ trị:
• Tại sao tôi cần loại chữa trị này?
• Bác sĩ chọn loại xạ trị nào cho tôi? Cả hai loại xạ trị có cần thiết
không?
• Khi nào thì việc chữa trị bắt đầu? Khi nào thì xong? Chữa trị bao
nhiêu lần?
• Tôi sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Tôi có cần vào bệnh viện không? Tôi cần
làm gì để tự chăm sóc trong khi và sau khi chữa trị?
• Tôi có thể tự đến nơi chữa trị hay không?
• Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả hay không?
• Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Hóa chất trị liệu
Hầu như mọi bệnh nhân bị ung thư thực quản đều dùng
hóa chất trị liệu. Đây là cách chữa dùng hóa chất để diệt tế bào ung
thư. Loại hóa chất trị liệu dùng để chữa ung thư thực quản thường được
chuyển vào tĩnh mạch (intravenous). Bệnh nhân có thể được chữa trị tại
bệnh viện, trung tâm y khoa, phòng mạch bác sĩ hoặc tại nhà. Một vài
bệnh nhân cần được chữa trị tại bệnh viện.
Hóa chất trị liệu được dùng theo chu kỳ, mỗi chu kỳ là một thời gian
chữa trị theo sau là thời gian nghỉ ngơi. Phản ứng phụ tùy thuộc vào
loại thuốc và lượng thuốc. Hóa chất trị liệu diệt các tế bào tăng trưởng
nhanh nhưng cũng có thể gây hư hoại những tế bào khỏe mạnh có chu kỳ
tăng trưởng nhanh:
• Tế bào máu:
Khi hóa chất trị liệu hạ thấp lượng tế bào khỏe mạnh, cơ thể dễ bị nhiễm
trùng, bầm tím hoặc xuất huyết dễ dàng, mệt mỏi và mất sức. Bác sĩ cần
theo dõi số lượng tế bào máu, khi lượng tế bào máu xuống qúa thấp, bác
sĩ có thể ngưng hóa chất trị liệu một thời gian hoạt giảm lượng thuốc.
Đôi khi bác sĩ dùng các loại thuốc gia tăng lượng tế bào máu.
• Tế bào tại chân tóc:
Hóa chất trị liệu có thể gây rụng tóc. Nếu tóc rụng, sẽ mọc trở lại
nhưng tóc mới có thể khác màu và khác thể chất so với tóc cũ.
• Tế bào lót bộ phận tiêu hóa:
Hóa chất trị liệu gây biếng ăn, buồn nôn và ói mửa, tiêu chảy, lở miệng
môi. Bác sĩ có thể dùng thuốc men hoặc những phương cách giúp bệnh nhân
dễ chịu hơn.
Những phản ứng phụ khác có thể bao gồm nổi mề đay trên da, đau khớp
xương, cảm giác kim châm hoặc tê dại tại chân tay, giảm thính giác,
sưng phù chân cẳng. Bác sĩ có thể dùng vài phương cách giúp bệnh nhân
dễ chịu hơn. Hầu hết những tc này sẽ chấm dứt khi việc chữa trị hoàn
tất.
Quý vị có thể đọc thêm chi tiết về hóa chất trị liệu trong tập tài liệu
Chemotherapy and You do Viện Ung Thư Quốc Gia ấn hành.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi
bắt đầu hóa chất trị liệu:
• Tôi sẽ được chữa trị bằng những thứ thuốc nào?
• Khi nào thì bắt đầu? Khi nào thì xong? Bao nhiều lần chữa trị?
• Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
• Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không? Triệu chứng nào thì tôi cần
báo tin với bác sĩ? Tôi có thể phòng ngừa những phản ứng phụ này không?
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tìm một
trung tâm y khoa dày kinh nghiệm chữa trị ung thư thực quản; tham khảo
một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo
hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu.
Quý vị nên tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về các cách chữa trị
khác nhau, phản ứng phụ và kết quả. Nhiều người cho rằng việc tham khảo
ý kiến thứ nhì làm phật lòng bác sĩ của mình, sự e ngại này không thực
tế.
Khi thu nhận ý kiến thứ nhì, có thể cũng tương tự như ý kiến thứ nhất
hoặc khác biệt với ý kiến thứ nhất; bất kể trường hợp nào, bệnh nhân
cũng thu góp nhiều dữ kiện hơn, chọn lựa và tự quyết định việc chữa
trị.
Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử
nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường
không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị
có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình,
hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y
khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa
Kỳ qua dịch vụ NCI's Cancer Information Service (số điện thoại miễn
phí 1-800-4-CANCER) có thể cung cấp tin tức, dữ kiện về một trung tâm
Y Khoa gần nơi quý vị cư ngụ.
Supportive Care
Supportive Care (tạm dịch là “chữa trị phụ” nhằm giúp
bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản ứng phụ, biến chứng
từ việc chữa trị chính).
Ung thư thực quản và việc chữa trị có thể dẫn đến nhiều biến chứng ảnh
hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Bác sĩ có thể
dùng “suportive care” hay “chữa trị phụ” trước khi, trong khi hoặc cả
sau khi chữa trị ung thư (việc chính).
Chữa trị phụ bao gồm việc ngăn ngừa hoặc chữa trị nhiễm trùng, giảm
đau đớn và những phản ứng phụ khác. Cách chữa trị này giúp bệnh nhân
dễ chịu hơn.
Khi khối ung thư làm nghẽn thực quản bệnh nhân khó nuốt thức ăn khi
khối ung thư làm nghẽn thực quản và do đó khiến việc ăn uống trở nên
khó khăn. Ngoài ra, thức ăn có thể trôi xuống khí quản dẫn đến nhiễm
trùng đường hô hấp như sưng phổi. Khi khó nuốt, nước miếng có thể chảy
nhễu xuống cằm khiến bệnh nhân khó chịu và xấu hổ khi phải giao tiếp
với người chung quanh.
Chuyên viên trị liệu có thể đề nghị một trong những cách chữa trị sau:
• Stent: Bác
sĩ đặt ống ống rỗng bằng plastic hoặc bằng sắt mỏng vào thực quản. Thức
ăn được chuyển qua ống này. Tuy nhiên, thức ăn cần được nhai kỹ trước
khi nuốt. Nuốt một khối thức ăn lớn có thể gây nghẽn ống dẫn.
• Laser therapy: Laser
là một nguồn ánh sáng rất mạnh tạo nhiệt để diệt tế bào. Bác sĩ dùng
tia laser để hủy những tế bào ung thư làm nghẽn thực quản. Cách chữa
trị này có thể giúp bệnh nhân nuốt thức ăn dễ dàng hơn trong một thời
gian ngắn, và cần trị liệu nhiều lần.
• Photodynamic therapy:
bệnh nhân được chích thuốc và thuốc tích tụ tại khối u. Hai ngày sau
khi chích, bác sĩ dùng dụng cụ nội soi chiếu một loại ánh sáng đặc biệt
(như laser) vào khối u. Ánh sáng tác động thuốc hoạt động. Hai hoặc
ba ngày sau, bác sĩ có thể thử nghiệm xem tế bào ung thư đã bị hủy diệt
hay chưa. bệnh nhân cần tránh ánh sáng mặt trời trong ít nhất 1-2 tháng.
Loại trị liệu này cần được tiếp tục.
Bệnh nhân có thể tìm đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Photodynamic
Therapy for Cancer: Questions and Answers của Viện Ung Thư Quốc Gia
Hoa Kỳ.
• Xạ trị (Radiation therapy):
Xạ trị giúp thu nhỏ khối u. Khi khối u làm nghẽn thực quản, nội xạ trị
hoặc đôi khi ngoại xạ trị có thể được sử dụng để giúp bệnh nhân nuốt
dễ dàng hơn.
• Nong rộng thực quản bằng bóng
(Balloon dilation): Bác sĩ chuyển một ống qua
nơi nghẽn tại thực quản, trái bóng giúp nong rộng phần thực quản bị
tắc nghẽn. Cách chữa trị này giúp bệnh nhân nuốt dễ dàng hơn trong vài
ngày.
• Những phương cách duy trì sự
dinh dưỡng: Xin đọc thêm phần Dinh Dưỡng khi ăn
uống trở nên khó khăn.
Sự đau đớn ung thư và cách chữa trị thường gây đau đớn, đau đớn khi
nuốt, đau tại ngực do khối u hoặc do ống dẫn (stent). Chuyên viên trị
liệu hoặc một chuyên viên trị đau đớn có thể đề nghị một số phương cách
để giảm đau. Quý vị có thể đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Pain
Control của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.
Buồn rầu hoặc bất an
Khi bị bệnh nan y, điều dễ hiểu là bệnh
nhân sẽ buồn rầu, lo lắng bất an... Một số bệnh nhân cảm thấy dễ chịu
hơn khi có thể diễn tả cảm giác của mình. Xin đọc thêm phần Sources
of Support.
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước
khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng
đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi
bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên, khi ung
thư thực quản, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều
nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất
trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng
thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. bệnh nhân cũng có thể
chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo
luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách
dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, vitamins, và minerals:
• Chuyên viên dinh dưỡng có thể đề nghị thay đổi loại thực phẩm. Đôi
khi thay đổi loại thực phẩm, thể chất hoặc lượng mỡ có thể khiến bệnh
nhân dễ chịu hơn. Đôi khi sự thay đổi về số lượng thực phẩm hoặc giờ
ăn uống có thể giảm sự khó chịu.
• Chuyên viên dinh dưỡng cũng có thể đề nghị ăn thức ăn lỏng như những
thức uống đóng hộp, sữa trái cây, sinh tố...
• Khi việc nuốt trở nên quá khó khăn, chuyên viên dinh dưỡng và bác
sĩ cũng có thể dùng ống dẫn đưa thức ăn xuống dạ dày hoặc ruột non.
• Đôi khi, chất dinh dưỡng đuọc truyền qua tĩnh mạch.
Quý vị có thể đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Eating Hints for
Cancer Patients của Viện Ung Thư Quốc Gia.
Dinh dưỡng hậu giải phẫu
Một chuyên viên dinh duõng có thể giúp quý vị chọn lựa cách
ăn uống đủ chất bồi bổ cơ thể, một chương trình chi tiết cụ thể bao
gồm loại và lượng thức phẩm cần thiết cho mỗi bữa để ngăn ngừa việc
xuống ký hoặc khó ăn uống.
Khi dạ dày bị cắt bỏ, bệnh nhân có thể chứng "dumping syndrome",
thức ăn chưa tiêu hóa đổ vào ruột non quá nhanh gây đau bụng, trướng
bụng, tiêu chảy và chóng mặt. Bệnh nhân có thể giảm triệu chứng bằng
cách:
Ăn từng bữa nhỏ
Uống trước và sau khi ăn thức ăn đặc.
Giảm bớt các món ngọt như bánh kẹo nước đường, nước trái cây.
Hậu giải phẫu, bệnh nhân có thể cần dùng sinh tố và khoáng chất như
calcium và chích sinh tố B12
Quý vị có thể đặt câu hỏi với
chuyên viên dinh dưỡng:
Làm thế nào để duy trì trọng lượng cơ thể
Cần ăn những món gì trong bữa để bồi bổ cơ thể?
Tôi có thể ăn những món ưa thích mà không bị khó tiêu?
Tôi cần tránh những thức gì?
Tôi cần sinh tố hoặc khoáng chất gì thêm?
Thăm bệnh định kỳ
Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định
kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm
bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể. Khám bệnh định
kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng, các loại
thử nghiệm như thử máu, chụp hình phổi, CT scan, nội soi hoặc những
loại thử nghiệm khác. Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi
khám bệnh định kỳ.
Những
nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư thực quản có thể
thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này
khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như
những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân
vân, bất an, buồn rầu. Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc
làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với
việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những
phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ
hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm
hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân
nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm:
• Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời
hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.
• Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn
giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu
hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
• Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác
và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc
chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại,
hoặc qua internet.
• Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ
Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ
và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.
Quý vị có thể tìm đọc thêm chi tiết qua tập tài liệu Taking Time: Support
for People With Cancer của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.
Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm
lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các
câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất. Những tìm hiểu khoa
học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa
học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp chữa
trị ung thư thực quản như hóa chất, xạ trị và dùng chung các cách trị
liệu này với nhau xem cách trị liệu nào hiệu quả hơn.
Thử nghiệm lâm sàng là cách tìm kiếm câu trả lời về cách chữa trị hữu
hiệu và an toàn hơn. Bệnh nhân tham dự có thể là những người đầu tiên
được chữa trị với một phương pháp mới. Các bác sĩ đang tìm cách chữa
trị ung thư thức quản một cách hiệu quả hơn:
• Giải phẫu: Bác sĩ đang tìm hiểu việc sử dụng vết cắt nhỏ thay cho
cho những vết cắt lớn. Bác sĩ cắt những vết nhỏ tại cổ, ngực, và bụng
để quan sát lồng ngực qua dụng cụ nội soi và cắt bỏ phần ung thư tại
thực quản.
• Hóa chất trị liệu và sinh hóa tố trị liệu: Viện Ung Thư Quốc Gia tài
trợ cuộc thử nghiệm dùng sinh hóa tố (một loại kháng thể monoclonal
antibody) chung với hóa chất.
• Trị liệu phụ: Bác sĩ cũng thử nghiệm những cách tiết giảm biến chứng
từ việc trị liệu và từ căn bệnh ung thư.
Nếu quý vị muốn tham gia cuộc thử nghiệm lâm sàng, hãy nói chuyện với
bác sĩ của mình. Những người tình nguyện tham dự các cuộc khảo cứu này
đã đóng góp rất nhiều cho nhân loại trong việc tìm hiểu chứng ung thư
thực quản và cách chữa trị hiệu quả hơn. Thử nghiệm lâm sàng có thể
mang lại ít nhiều rủi ro, chuyên gia khảo cứu tận lực để bảo vệ bệnh
nhân trong các cuộc khảo cứu này.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần thử nghiệm lâm sàng:
http://www.cancer.gov/clinicaltrials.
Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các
cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư thực quản.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ
Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của
mình
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách
ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm
lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu,
chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: http://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online
contact form” tại: http://www.cancer.gov/contact
hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.gov
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu
(ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây
Ban Nha.
Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang
mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản
cho mình.
Thư từ:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
Hóa chất trị liệu và bạn (Chemotherapy and You)
Xạ trị và bạn (Radiation Therapy and You)
Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu bạn bị ung thư (How
To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies:
Questions and Answers)
Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic
Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating
Hints for Cancer Patients)
Giảm đau đớn (Pain Control)
Thích nghi với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping
With Advanced Cancer)
Những ngày sắp tới: Cuộc sống sau khi chữa trị
ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)
Những ngày sắp tới: Những điều bạn có thể làm
để đóng góp (Facing Forward Series: Ways You Can Make a Difference in
Cancer)
Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking
Time: Support for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
Những tổ chức hỗ trợ người bệnh và thân nhân (National
Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer
Treatment Research Studies)
* Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (NCI),
NIH Publication No. 08-1557), ấn bản tháng Mười Một, 2008
Bác sĩ Trần Lý Lê
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép
tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>> |
|
 |