 |
Những
điều cần biết về ung thư thận
Bác sĩ Trần Lý Lê
Tài liệu của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer
Institute)
Thận
là một cấu trúc đôi, hai quả thận, nằm hai bên cột tủy sống trong phần
bụng dưới. Mỗi quả thận lớn bằng nắm tay người lớn. Nằm trên đầu thận
là tuyến thượng thận(adrenal gland). Bao bọc bên ngoài quả thận và tuyến
thượng thận là một lớp mỡ (fatty layer) và một lớp mô sợi (fibrous tissue)
có tên Gerota's fascia.
Xem hình sau: hình 1
Thận là một phần của bộ phận bài tiết, hệ tiết niệu.
Thận lọc máu, thải ra chất thừa và nước trong cơ thể tạo ra nước tiểu,
nước tiểu đọng tại một khoang trống giữa thận gọi là renal pelvis. Ống
dẫn nước tiểu nối renal pelvis với bàng quang (bọng đái); từ bàng quang,
nước tiểu được dẫn ra ngoài cơ thể qua urethra (ống tiểu). Thận tạo
ra những chất kiểm soát áp huyết và tạo ra erythropietin, một loại growth
factor, kích thích tủy tạo ra hồng huyết cầu (hồng cầu).
Xem hình sau: 
Hiểu biết căn bản về ung
thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô,
mô tạo thành bộ phận.
Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những tế
bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại,
chúng chết, và các tế bào mới thay thế.
Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất
hiện trong khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không
chết như đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối
gọi là "khối u“, bướu hay "tumor“.
Khối u (bướu) có thể "lành“ (benign) hoặc "độc“ (malignant).
Bướu lành thường không độc hại như bướu độc.
Bướu lành:
Ít khi gây tử vong
Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu độc:
Có thể gây tử vong
Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
Lan ra các bộ khác
Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên hay khối
ung thư nguyên phát (primary tumor). Các tế bào này theo mạch máu (blood
vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel) đến mọi bộ phận trong cơ
thể. Tế bào ung thư có thể “bám" vào các bộ phận và sinh sản, tạo
nên một khối u mới hay khối ung thư thứ phát (secondary tumor), có thể
gây hư hoại các bộ phận này. Sư lan tràn của tế bào ung thư gọi là “metastasis“.
Có nhiều loại ung thư thận, bài này nói về ung thư tế bào thận (renal
cell cancer), loại ung thư thận thường thấy trong người lớn, còn gọi
là renal adenocarcinoma hay hypernephroma. Một loại ung thư khác, transitional
cell carcinoma, từ renal pelvis, cách chữa trị tương đương với ung thư
bàng quang. Wilm's tumor là một loại ung thư thận tìm thấy ở trẻ em,
khác hẳn với ung thận ở người lớn và cách chữa trị, do đó khác với cách
chữa ung thư thận.
Khi ung thư lan ra ngoài thận, thường tìm thấy ở hạch bạch huyết lân
cận và có nghĩa là ung thư đã lan đến thận bên kia, phổi, xương hoặc
gan.
Khi ung thư lan từ bộ phận gốc đến một bộ phận khác trong cơ thể, khối
u mới có cùng đặc tình, tế bào như khôi u gốc. Thí dụ, nếu ung thư thận
lan đến phổi, khối ung thư tại phổi chứa các tb ung thư thận và được
chữa trị như ung thư thận. Đôi khi bác sĩ gọi khối ung thư mới là ung
thư di căn.
Những yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư
thận
Ung thư thận thường tìm thấy ở người tuổi 40 trở lên, tuy Y học chưa
hiểu rõ nguyên do, nhưng đã tìm ra một số yếu tố gia tăng nguy cơ bị
ung thư thận (risk factors):
• Hút thuốc lá, thuốc lào là một yếu tố chính, tỷ lệ ung thư thận cao
gấp đôi với những người hút thuốc.
• Bệnh béo phì gia tăng tỷ lệ ung thư thận
• Cao áp huyết gia tăng tỷ lệ ung thư thận
• Lọc máu kinh niên (Long-term dialysis): Lọc máu bằng máy móc là phương
cách đào thải chất thừa và nước trong cơ thể khi thận không còn công
dụng, những người cần lọc máu kinh niên có tỷ lệ ung thư thận cao hơn
những người khác.
• Von Hippel-Lindau syndrome (VHL) là một căn bệnh hiếm thấy, gây ra
bởi di thể VHL, một di thể bất bình thường. Di thể VHL gia tăng tỷ lệ
ung thư thận và những chứng bệnh khác như cysts (bướu nang) hoặc bướu
tại mắt, não bộ và những bộ phận khác. Những người có di thể VHL cần
được khám bệnh thường xuyên để truy tìm ung thư trước khi có triệu chứng.
• Nghề nghiệp: Những người làm việc trong kỹ nghệ sắt, thép hoặc sử
dụng asbestos và cadmium có tỷ lệ ung thư thận cao.
• Giới tính: Phái nam bị ung thư thận nhiều hơn phái nữ. Mỗi năm 20,000
người nam và 12,000 người nữ bị ung thư thận tại Hoa Kỳ.
Đa số những người có các yếu tố rủi ro trên không bị ung thư thận, ngược
lại đa số người bị ung thư thận không có yếu tố rủi ro nào. Khi nghi
ngại rằng mình có thể bị ung thư thận, hãy đến bác sĩ để khám bệnh.
Bác sĩ có thể truy tìm bệnh định kỳ hoặc chỉ dẫn các phương thức tiết
giảm yếu tố rủi ro.
Triệu chứng thường thấy với ung
thư thận:
• Máu trong nước tiểu. nước tiểu có màu đỏ hoặc nâu
• Đau ngang lưng mãi không hết
• Khối u sờ thấy trong bụng
• Xuống ký lô
• Nóng sốt
• Mệt mỏi, khó chịu
Những triệu chứng này có thể do nhiều chứng bệnh, nhiễm trùng hay u
nang tạo ra những triệu chứng tương tự, cần đi khám bệnh để tìm nguyên
nhân.
Chẩn bệnh
Ngoài việc khám tổng quát, bác sĩ còn dùng những cách thử nghiệm khác
như:
- Thử nước tiểu: tìm dấu vết của máu hoặc các chứng bệnh khác trong
nước tiểu
- Thử máu: tìm hiểu mức hoạt động của thận qua lượng creatinine. Lượng
creatinine cao có nghĩa là thận không hoạt động bình thường.
- Thử Intravenous Pyelogram (IVP), một loại hình quang tuyến của thận:
Bác sĩ chích một loại hóa chất (phẩm) vào tĩnh mạch, phẩm theo máu luân
lưu trong cơ thể rồi đọng tại thận. Những hình quang tuyến sẽ cho thấy
hình dạng của thận, ống dẫn nước tiểu, bàng quang, và những khối u tại
những bộ phận này, nếu có.
- CT scan, MRI để tìm khối u
- Siêu âm: dụng cụ "chụp" hình thể thận qua làn sóng âm thanh
để tìm khối u.
- Sinh thiết: Bác sĩ dùng một kim nhỏ đâm xuyên qua lưng để lấy một
mảnh thận đem thử nghiệm. Đôi khi, bác sĩ cần dùng siêu âm hoặc CT scan
để định vị trí của thận cho thêm chính xác. Bác sĩ bệnh lý xem xét mảnh
mô thận để tìm dấu hiệu của ung thư.
- Giải phẫu: Khi mổ để cắt bỏ một phần hay cả quả thận, bác sĩ có thể
làm sinh thiết. Bác sĩ bệnh lý xem xét mảnh mô thận để tìm dấu hiệu
của ung thư.
Định kỳ ung thư
Trước khi hoạch định cách chữa trị, bác sĩ cần định kỳ ung thư, ung
thư ở thời kỳ nào, đã lan ra chưa, nếu có, lan đến những bộ phận nào.
Bác sĩ có thể dùng CT scan, MRI, hoặc siêu âm để định kỳ ung thư.
• Thời kỳ I: Thời
kỳ đầu tiên, khối u có thể lớn đến 7cm (cỡ một trái banh tennis), và
ung thư chỉ hiện diện tại thận
• Thời kỳ II:
Khối u lớn hơn 7cm, và ung thư chỉ hiện diện tại thận.
• Thời kỳ III:
Một trong những tình trạng sau:
- Ung thư chỉ hiện diện tại thận và tại hạch bạch huyết lân cận
- Ung thư ăn lậm đến tuyến thượng thận hoặc lớp mỡ (fatty layer) hay
lớp mô sợi (Gerota's fascia) bao quanh thận nhưng chưa lan ra ngoài
những lớp mô này, ung thư có thể tìm thấy ở hạch bạch huyết lân cận.
- Ung thư có thể đã lan ra những mạch máu lân cận hoặc những hạch bạch
huyết lân cận
• Thời kỳ IV: Một
trong những tình trạng sau:
- Ung thư đã lan ra bên ngoài lớp mô sợi
- Ung thư đã lan ra hạch bạch huyết của thận đối diện
- Ung thư đã lan ra những bộ phận khác như phổi, xương...
• Ung thư tái phát: Ung
thư phát trở lại sau lần chữa trị đầu tiên, có thể tìm thấy ở thận hoặc
những bộ phận khác.
Chữa trị
Bệnh nhân thường muốn tham dự các quyết định trị liệu
nên muốn biết chi tiết về căn bệnh của mình. Tuy nhiên, sự hốt hoảng,
sợ hãi khi nghe tin báo về ung thư khiến bệnh nhân mất bình tĩnh, khó
có thể nhớ hết những chi tiết đã thảo luận với bác sĩ. Quý vị có thể:
- Tạo một danh sách các câu hỏi
- Ghi chép chi tiết mỗi lần thăm bệnh
- xin phép bác sĩ để dùng máy thu âm
- Đi thăm bệnh với quý vị hoặc thân nhân
Bác sĩ cũng có thể giới thiệu bệnh nhân đến các chuyên viên khác hoặc
tự bệnh nhân muốn được chuyển bệnh. Chuyên gia chữa trị ung thư thận
bao gồm bác sĩ giải phẫu, bác sĩ chuyên trị ung thư (medical oncologist),
và bác sĩ chuyên về xạ trị (radiation therapist).
Các chuyên viên giải thich về các cách chữa trị, mức hiệu quả và phản
ứng phụ có thể xảy ra. Chữa trị ung thư thường ảnh hưởng đến cả những
mô, những tế bào bình thường nên phản ứng phụ cũng thường xuất hiện.
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, hãy thảo luận với bác sĩ về phản ứng
phụ có thể xảy ra và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày
như thế nào. Bác sĩ và bệnh nhân cùng quyết định về việc chọn một cách
chữa trị thích hợp.
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham
khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng
bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu. Quý vị nên
tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về các cách chữa trị khác nhau,
bác sĩ giải phẫu, bác sĩ chuyên về xạ trị, bác sĩ chuyên về ung thư.
Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử
nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường
không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị
có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình,
hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y
khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Chuẩn bị việc chữa trị
Bác sĩ sẽ mô tả chi tiết việc chữa trị, các biến chứng
hoặc phản ứng phụ có thể xảy ra. Ngoài ra, quý vị có thể đặt câu hỏi
những câu hỏi về sự thay đổi ngoại hình sau khi chữa trị.
Quý vị có thể thảo luận với bác sĩ về thử nghiệm lâm sàng, tìm kiếm
cách chữa trị mới. Thử nghiệm lâm sàng là một lựa chọn quan trọng. Bệnh
nhân tham dự được thử nghiệm với cách trị liệu mới. Mời quý vị đọc thêm
phần "Sự hứa hẹn của Ngành Khảo Cứu Ung Thư".
Trước khi chữa trị, quý vị có
thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
• Tôi ở trong thời kỳ nào? Ung thư đã lan xa chưa?
Nếu có, đã lan đến đâu?
• Có bao nhiêu cách chữa trị? Bác sĩ đề nghị cách nào? Tôi có được chữa
trị bằng nhiều cách không?
• Tôi có phải vào bệnh viện không? Sau khi rời bệnh viện, tôi sẽ được
chăm sóc ra sao?
• Biến chứng và phản ứng phụ là những gì? Ta sẽ phòng ngừa hoặc chữa
trị ra sao?
• Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
• Tôi có hồi phục hoàn toàn không? Bao nhiêu lâu thì hồi phục?
• Tôi cần đi khám bệnh định kỳ không?
• Việc chữa trị có tốn kém nhiều không? Bảo hiểm của tôi có trả không?
• Tôi có nên tham dự thử nghiệm lâm sàng không?
Quý vị không nhất thiết phải đặt tất cả mọi câu hỏi cùng lúc, quý vị
sẽ có nhiều cơ hội để thảo luận những chi tiết chưa rõ ràng với bác
sĩ hoặc các chuyên viên trong suốt thời gian trị liệu.
Các phương thức trị liệu
Ung thư thận có thể được chữa trị bằng giải phẫu, arterial
emboilization (diệt khối u bằng cách làm nghẽn mạch máu nuôi khối u),
quang tuyến, sinh hóa hoặc hóa chất, bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều
cách chữa trị trên.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư thận, bệnh nhân cũng cần được chữa
trị để giảm đau đớn hoặc các triệu chứng khác kể cả phần tâm thần. Loại
chữa trị này được gọi là "chữa trị phụ thuộc" hay supportive
care, symptom mangement hoặc palliative care.
Giải phẫu
Giải phẫu là cách chữa trị thông thường nhất cho ung thư thận. Đây là
một loại chữa trị tại chỗ, chữa ung thư tại thận và vùng lân cận.
Cuộc giải phẫu cắt bỏ quả thận được gọi là nephrectomy và có nhiều phương
cách. Tùy theo thời kỳ của ung thư, bác sĩ có thể dùng một trong những
cách sau:
• Radical nephrectomy: Ung thư thận thường được chữa theo cách giải
phẫu này. Bác sĩ cắt bỏ quả thận, tuyến thượng thận và những mô chung
quanh thận kể cả hạch bạch huyết.
• Simple nephrectomy: Bác sĩ chỉ cắt bỏ quả thận. Một số bệnh nhân ở
thời kỳ I có thể được chữa trị theo cách này.
• Partial nephrectomy: Bác sĩ cắt bỏ một phần quả thận nơi có khối u,
cách giải phẫu này sử dụng khi bệnh nhân chỉ còn 1 quả thận hoặc khi
bệnh nhân bị ung thư cả hai thận. Đôi khi, bệnh nhân với một khối u
nhỏ, khoảng 4 cm hoặc nhỏ hơn, sẽ được chữa trị theo phương cách này.
Trước khi giải phẫu, quý vị có
thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
- Bác sĩ sẽ dùng cách giải phẫu nào?
- Có cần cắt bỏ hạch bạch huyết hay không? Tại sao?
- Tôi sẽ ra sao sau khi mổ? Có cần đi lọc máu thường xuyên không?
- Tôi có thể dự trữ máu để dùng trong khi mổ không?
-Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
- Tôi có thể tham gia một cuộc thử nghiệm lâm sàng hay không?
Arterial Embolization
Đây là một cách chữa trị tại chỗ, làm giảm kích thước khối u; đôi khi
được sử dụng trước khi mổ để cuộc giải phẫu dễ dàng hơn. Khi không thể
mổ, cách chữa này được dùng để giảm triệu chứng. Bác sĩ đặt một ống
rỗng (catheter) vào mạch máu ở chân, rồi chuyển ống vào động mạch dẫn
đến thận bị ung thư; sau đó truyền một hóa chất làm nghẽn mạch máu này.
Khối u trở nên thiếu máu, thiếu dưỡng khí và những chất dinh dưỡng khác
để sinh trưởng nên tế bào chết dần.
Trước khi bắt đầu chữa trị, quý
vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
-Tại sao tôi cần cách chữa trị này?
- Tôi có phải ở lại bệnh viện không? Bao nhiêu lâu?
- Phản ứng phụ và biến chứng là những gì?
- Tôi có thể tham gia một cuộc thử nghiệm lâm sàng hay không?
Xạ trị
Đây là một cách chữa trị ung thư tại chỗ, sử dụng chất phóng xạ để hủy
hoại tế bào ung thư. Quang tuyến có thể được dùng trước hoặc sau khi
giải phẫu và dùng chung với hóa chất.
Một số bệnh nhân dùng ạ trị trước khi giải phẫu để thu nhỏ khối u, đôi
khi sau khi giải phẫu để diệt những mô ung thư còn sót lại. Bệnh nhân
không thể chịu giải phẫu cũng có thể dùng xạ trị để giảm đau và giảm
các triệu chứng khác.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với
bác sĩ trước khi bắt đầu chữa trị:
- Mục đích của việc chữa trị là gì?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào? -Có cách nào
phòng ngừa không?
- Có phản ứng lâu dài nào không?
- Khi nào thì bắt đầu? Bao lâu thì chữa trị xong?
- Việc chữa trị sẽ tốn bao nhiêu? Bảo hiểm của tôi có trả chi phí không?
- Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
- Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
- Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho tôi không?
Sinh hóa trị liệu
Đây là một cách chữa trị ung thư toàn thân, những chất sinh hóa theo
máu luân lưu khắp cơ thể. Sinh hóa trị liệu dùng sức đề kháng của cơ
thể để chống lại ung thư.
Bác sĩ có thể dùng interferon alpha hoặc interleukin-2 (IL-2 hoặc aldesleukin).
Cơ thể bình thường tạo ra hai chất sinh hóa này ở một số lượng nhỏ khi
bị nhiễm trùng hoặc cần đối kháng. Trong việc chữa trị ung thư, hai
sinh hóa này được chế tạo trong phòng thí nghiệm với một số lượng lớn.
Hóa chất trị liệu
Đây là một cách chữa trị toàn thân, thuốc theo máu luân lưu khắp cơ
thể. Mặc dù hóa chất trị liệu hữu hiệu trong việc chữa nhiều loại ung
thư nhưng không mấy hiệu quả cho ung thư thận. Tuy nhiên bác sĩ vẫn
tiếp tục tìm kiếm, thử nghiệm xem loại thuốc nào hữu hiệu.
Trước khi chữa trị quý vị nên
đặt câu hỏi với bác sĩ:
- Mục đích của việc chữa trị là gì?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào?
- Có cách nào phòng ngừa không?
- Có phản ứng lâu dài nào không?
- Khi nào thì bắt đầu? Bao lâu thì chữa trị xong?
- Việc chữa trị sẽ tốn bao nhiêu? Bảo hiểm của tôi có trả chi phí không?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
-Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
-Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho tôi không?
Phản ứng phụ của việc
chữa trị ung thư
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại
cho những tế bào lành mạnh, nên thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ
tùy thuộc vào vị trí của khối u, cách chữa trị và mức đọ chữa trị nhiều
hay ít. phản ứng phụ không xuất hiện giống nhau cho tất cả mọi người,
có thể thay đổi từ lần chữa trị này so với lần chữa trị khác. Trước
khi chữa trị, bác sĩ sẽ giải thích việc phản ứng phụ có thể xảy ra và
cách ngăn ngừa.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, supportive care (tạm dịch là “chữa
trị phụ” nhằm giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản
ứng phụ, biến chứng từ việc chữa trị chính) cũng được sử dụng để giúp
bệnh nhân dễ chịu hơn. Tin tức về việc chữa trị được đăng tải trên trang
nhà của Viện Ung Thư Quốc Gia www.cancer.gov/cancertopics/coping,
và Information Specialists at 1-800-4-CANCER hoặc LiveHelp 1(http://www.cancer.gov/help)
Giải phẫu
Thời gian cần thiết để phục hồi không đồng nhất
cho mọi bệnh nhân, một vài ngày hậu giải phẫu là thời gian chịu đau
đớn và thuốc men được dùng để giảm đau. Trước khi mổ, nên thảo luận
với bác sĩ và y tá về cách giảm đau. Thuốc men có thể gia giảm để làm
dịu cơn đau hậu giải phẫu.
Bệnh nhân sẽ mệt mỏi, mất sức trong một thời gian ngắn. Nhóm chuyên
viên chăm sóc sẽ theo dõi bệnh nhân để nhận biết tình trạng hoạt động
của thận bằng cách đo lường lượng nước đem vào cơ thể và lượng nước
tiểu thải ra cũng như các dấu hiệu của sự xuất huyết, nhiễm trùng hoặc
những bệnh trạng, biến chứng khác.
Khi 1 quả thận còn lại không thể làm việc đào thải của 2 quả thận, bệnh
nhân cần được lọc máu bằng máy móc (dialysis). Hiếm khi, bệnh nhân được
ghép thận mới.
Arterial Embolization
Sau khi làm Arterial Embolization, đau lưng, nóng sốt là hai biến chứng
thông thường, đôi khi bệnh nhân bị buồn nôn và ói mửa.
Xạ trị
Phản ứng phụ tùy thuộc vào lượng và loại xạ trị. Phản ứng phụ thường
biến mất một thời gian ngắn sau khi xạ trị. Biến chứng thông thường
là mệt mỏi, buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy và khó tiểu tiện. Ngoài ra vùng
da nơi tia quang tuyến đi qua sẽ bị đỏ rát, ngứa ngáy, khó chịu. Bác
sĩ có thể dùng thuốc men để làm giảm các triệu chứng hậu xạ trị. Nghỉ
ngơi là điều cần thiết nhưng bệnh nhân cũng cần di động để duy trì phần
nào sức mạnh của cơ thể.
Sinh hóa trị liệu
Biến chứng thông thường là nóng lạnh, sốt, bắp thịt đau ê ẩm, buồn nôn,
ói mửa, tiêu chảy, da mẩn đỏ. Các triệu chứng này có thể trầm trọng
nhưng sẽ ngưng khi chấm dứt việc trị liệu.
Hóa chất trị liệu
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại và lượng hóa chất sử dụng. Nói chung,
hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nên sẽ ảnh hưởng đến những tế bào
tăng trưởng nhanh chóng:
- Tế bào máu: Khi hóa chất chữa ung thư hạ thấp số tế bào máu khỏe mạnh,
bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng, bầm tím hoặc chảy máu dễ dàng, và mệt mỏi,
mất sức. Bác sĩ cần thử máu để đo lường số tế bào máu. Khi lượng tế
bào xuống thấp, bác sĩ có thể dùng thuốc kích thích tủy xương chế tạo
tế bào mới nhanh chóng hơn hoặc sẽ được truyền máu.
- Tế bào bọc quanh chân tóc: Hóa chất gây rụng tóc. Tóc sẽ mọc trở lại
sau khi chữa trị, tóc mới có thể khác màu hoặc thay đổi thể dạng.
- Tế bào lót các bộ phận tiêu hóa: Hoá chất có thể gây kém ăn, buồn
nôn và ói mửa, tiêu chảy, lở miệng.
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi
và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie,
protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh
nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều
nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất
trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng
thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể
chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo
luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách
dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins),
và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những
hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về
việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau
đớn.
Thăm bệnh định kỳ
Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định
kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm
bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể.
Khám bệnh định kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh
trạng, các loại thử nghiệm như thử máu, chụp hình phổi, CT scan, nội
soi hoặc những loại thử nghiệm khác.
Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.
Những nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống
của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và
chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu
thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng
ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến
ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ
hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm
hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân
nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm:
Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị
liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.
Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo
có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu
hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác
và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc
chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại,
hoặc qua internet.
Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ
Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ
và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư
Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm
lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các
câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất. Những tìm hiểu khoa
học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa
học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp ngăn
ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu hiệu
quả hơn.
Các chuyên gia đang thử nghiệm các hóa chất trị liệu, sinh hóa trị liệu,
giải phẫu, cũng như cách sử dụng các ngành trị liệu này chung với nhau.
Họ tìm hiểu kiếm các loại thuốc mới, các cách dùng chung nhiều loại
thuốc, và lượng thuốc mới. Cách trị liệu đang được tìm hiểu là cách
ghép tế bào gốc, việc này sẽ giúp bệnh nhân chịu đựng một lượng hóa
chất lớn hơn. Ngoài ra các chuyên gia cũng tìm cách tiết giảm phản ứng
phụ của việc trị liệu.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm
lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials.
Tại đây, ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các
cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể
lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách
ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm
lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu,
chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online
contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact
hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.***
(thay thế *** bằng “gov”)
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản,
tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang
mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản
cho mình.
Thư từ gửi về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institung thưe
Suite 3035A
6116 Execung thưive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và bạn (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và bạn (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu bạn bị ung thư
(How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies:
Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic
Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With
Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward
Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing
Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support
for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer
Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân
nhân họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer
and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical
Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research
Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc
(When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm
sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm
dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)
*Tài liệu NIH Publication No. 03-1569, 30/03/2004
Bác sĩ Trần Lý Lê
TAGS: Ung thư thận, Yếu tố tăng nguy
cơ ung thư thận, Hút thuốc lá, Béo phì, Cao huyết áp, Lọc máu kinh niên
(Long-term dialysis), Von Hippel-Lindaw syndrome, Định kỳ ung thư thận,
Giải phẫu, Arterial embolization, Xạ trị, Sinh hoá trị liệu, Hoá chất
trị liệu, Dinh dưỡng, Khảo cứu ung thư thận, Tran Ly Le
>>>back>>> |
|
 |