 |
Những
điều cần biết về ung thư bàng quang
Bác Sĩ Trần Lý Lê, Ly-Le
Tran, MD, JD, FCLM
Tài liệu của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute)
Mỗi năm tại Hoa Kỳ có 38,000 người nam và 15,000 người
nữ bị ung thư bàng quang; loại ung thư này đứng hàng thứ tư trong nam
giới và thứ tám trong nữ giới.
Bàng quang (bọng đái, bladder) là một túi rỗng nằm ở phần dưới của khoang
bụng. Bàng quang chứa nước tiểu thải ra từ thận (kidney). Từ thận, nước
tiểu chảy qua ống dẫn nước tiểu (ureter) vào bàng quang.
Mặt trong của bàng quang lót bằng những tế bào có tên là transitional
cell và squamous cell, bên ngoài bàng quang bao bọc bởi một lớp cơ trơn
(smooth muscle) và ngoài cùng là màng bọc. Khi bàng quang đầy nước tiểu,
lớp cơ trơn co thắt để đẩy nước tiểu ra ngoài. Nước tiểu ra ngoài cơ
thể qua ống tiểu (urethra).
Hiểu biết căn bản về ung thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô,
mô tạo thành bộ phận. Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng
trưởng tạo ra những tế bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già
lão hoặc bị hư hoại, chúng chết, và các tế bào mới thay thế. Đôi khi,
quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất hiện trong
khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không chết như
đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối gọi là "khối
u“, bướu hay "tumor“.
Khối u (bướu) có thể "lành“ (benign) hoặc "độc“ (malignant).
Bướu lành thường không độc hại như bướu độc.
Bướu lành:
- Ít khi gây tử vong
- Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
- Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
- Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ
thể
Bướu độc:
- Có thể gây tử vong
- Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
- Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
- Lan ra các bộ khác
Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên hay khối
ung thư nguyên phát (primary tumor). Các tế bào này theo mạch máu (blood
vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel) đến mọi bộ phận trong cơ
thể. Tế bào ung thư có thể “bám“ vào các bộ phận và sinh sản, tạo nên
một khối u mới hay khối ung thư thứ phát (secondary tumor), có thể gây
hư hoại các bộ phận này. Sự lan tràn của tế bào ung thư gọi là “metastasis“.
Có 3 loại ung thư xuất phát từ các tế bào lót bàng quang, loại tế bào
được dùng làm tên gọi cho ung thư.
Transitional cell carcinoma: Ung thư xuất phát từ lớp mô lót trong cùng
của bàng quang, các tế bào này giãn ra khi bàng quang đầy và co lại
khi bàng quang trống. Hầu hết ung thư bàng quang khởi thủy từ transitional
cell.
Squamous cell carcinoma: Ung thư xuất phát từ tế bào squamous, là các
tế bào mỏng thường xuất hiện sau cơn nhiễm trùng lâu dài hoặc bị trầy
xước triền miên.
Adenocarcinoma: Ung thư xuất phát từ các tế bào tuyến (glandular cell),
loại tế bào này có thể xuất hiện sau khi bị viêm lâu dài hoặc bị trầy
xước triền miên.
Khi ung thư còn nằm tại lớp tế bào lót bàng quang, gọi là “superficial
bladder cancer” hoặc “carcinoma in situ”. Loại ung thư này thường tái
phát sau khi chữa trị và khi tái phát, cũng là những loại “superficial
cancer”.
Loại superficial cancer có thể lan sâu đến lớp cơ trơn của bàng quang,
gọi là “invasive cancer”. Loại ung thư này có thể lan ra ngoài lớp cơ
trơn và lan đến những bộ phận lân cận như dạ con hoặc âm hộ (ở phái
nữ) hoặc tuyến tiền liệt (prostate) ở phái nam. Đôi khi ung thư bàng
quang lan đến khoang bụng.
Khi ung thư lan ra ngoài bàng quang, thường tìm thấy ở những hạch bạch
huyết lân cận và như vậy có nghĩa là ung thư đã lan đến những hạch bạch
huyết khác hoặc những bộ phận khác trong cơ thể như phổi, gan, hoặc
xương. Khi ung thư lan đến xương, vẫn gọi là ung thư bàng quang tại
xương, hay metastatic bladder cancer, không phải ung thư xương và được
chữa trị như ung thư bàng quang.
Những yếu tố gia tăng nguy cơ
bị ung thư bàng quang
Dù chưa hiểu rõ nguyên nhân, y học đã tìm ra một
số yếu tố liên quan đến ung thư bàng quang (risk factors):
• Tuổi tác: Tỷ lệ ung thư bàng quang gia tăng với tuổi tác, thường không
thấy ung thư bàng quang ở tuổi 40.
• Hút thuốc lào,thuốc lá gia tăng tỷ lệ ung thư bàng quang gấp 3 lần.
• Môi sinh: Những người sống hoặc làm việc trong kỹ nghệ thuộc da, chế
tạo cao su, vải hoặc sử dụng hóa chất như thợ uốn & nhuộm tóc, thợ
sơn, thợ in đều có tỷ lệ ung thư bàng quang cao hơn.
• Nhiễm trùng: bị nhiễm trùng ký sinh (thường thấy ở vùng nhiệt đới,
hiếm có tại Hoa Kỳ) gia tăng tỷ lệ ung thư bàng quang
• Chữa trị với cyclophosphamide hoặc arsenic gia tăng tỷ lệ ung thư
bàng quang.
• Chủng tộc: Người da trắng có tỷ lệ ung thư bàng quang cao nhất so
với người da đen, Hispanic và người da vàng.
• Giới tính: Phái nam có tỷ lệ ung thư bàng quang cao hơn phái nữ.
• Có thân nhân bị ung thư bàng quang có tỷ lệ ung thư bàng quang cao
hơn. Sự biến thái của một vài loại di thể có thể gia tăng tỷ lệ ung
thư, điều này đang đuọc khảo sát.
• Bị ung thư bàng quang trong quá khứ gia tăng tỷ lệ ung thư.
Chlrorine được thêm vào nước để sát trùng và nước do đó có thể uống.
Tuy nhiên các thành chất (by-product) từ chlorine có thể xuất hiện trong
nước. Các chuyên viên y tế đã khảo sát các thành chất kể trên qua 25
năm và không tìm ra dấu hiệu nào của việc chlorine liên quan đến ung
thư bàng quang.
Một vài cuộc khảo sát khác cho rằng saccharin, một loại đường hóa học,
gây ung thư bàng quang trong thú vật. Tuy nhiên ta chưa tìm thấy dấu
hiệu nào về saccharin liên quan đến ung thư bàng quang trong con người.
Nếu nghi ngại rằng mình bị ung thư bàng quang, quý vị hãy đi khám bệnh
và nói cho bác sĩ biết sự lo âu của mình.
Triệu chứng
Những triệu chứng thường thấy gồm có:
• Máu lẫn trong nước tiểu (làm nước tiểu có màu đỏ nhạt hoặc đậm)
• Đau rát khi tiểu tiện
• Đi tiểu nhiều lần hoặc có cảm giác buồn tiểu nhưng không thể tiểu
tiện.
Dù những triệu chứng này có thể gây ra bởi nhiều chứng bệnh khác, cần
đi khám bệnh để tìm nguyên nhân, càng sớm càng tốt. Bác sĩ chuyên khoa
về tiết niệu gọi là urologist.
Chẩn bệnh
Bác sĩ khám tổng quát kể cả khám phụ khoa và hậu môn,
trực tràng và dùng những cách thử nghiệm như sau:
• Thử nước tiểu tìm dấu vết máu, tế bào ung thư và những dấu hiệu bệnh
tật khác.
• Intravenous pyelogram (IVP): Bác sĩ tiêm một loại phẩm vào tĩnh mạch,
hóa chất này luân lưu trong máu, qua thận, theo nước tiểu xuống bàng
quang và bác sĩ chụp X ray của bàng quang.
• Cystoscopy: Bác sĩ dùng phương pháp nội soi, dùng một ống nhỏ, mềm,
đầu ống có đèn truyền qua ống tiểu (urethra) để soi bàng quang. Bác
sĩ có thể dùng thuốc tê hoặc thuốc mê khi làm nội soi bàng quang.
Bác sĩ cũng có thể làm sinh thiết khi quan sát bàng quang, lấy ra một
mảnh bàng quang để thử nghiệm. Đôi khi, bác sĩ cắt bỏ cả khối u trong
khi quan sát; với những bệnh nhân này chẩn bệnh và chữa bệnh luôn trong
một cuộc tiểu giải phẫu.
Quý vị có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh
thiết):
-Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
-Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
-Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh
thiết? Có đau đớn lắm không?
-Làm sinh thiết có rủi ro không? Có gây ra việc lan tràn ung thư không?
Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
-Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho
tôi hiểu?
-Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước
sắp tới? Và bao giờ?
Định kỳ ung thư
Bác sĩ cần định kỳ ung thư, xem ung thư đã lan chưa, nếu có,
đã lan đến đâu trước khi hoạch định cách chữa trị. Bác sĩ có thể dùng
hình ảnh (images) như CT scan, MRI, siêu âm, IVP, Bone scan hoặc quang
tuyến hình phổi để định thời kỳ ung thư. Đôi khi công việc này chỉ có
thể được hoàn tất sau khi giải phẫu:
• Thời kỳ 0: Tế bào ung thư nằm trên mặt lớp tế bào lót bàng quang,
còn gọi là superficial bladder cancer hoặc cancer in situ
• Thời kỳ I: Tế bào ung thư nằm sâu trong lớp tế bào lót bàng quang
nhưng chưa lan đến lớp cơ trơn.
• Thời kỳ II: Tế bào ung thư đã lan đến lớp cơ trơn của bàng quang.
• Thời kỳ III: Tế bào ung thư đã lan qua lớp cơ trơn và đến lớp màng
bọc bên ngoài của bàng quang, ung thư có thể lan đến tuyến prostate
ở phái nam hoặc dạ con hoặc âm hộ ở phái nữ
• Thời kỳ IV: Ung thư đã lan đến khoang bụng, hạch bạch huyết hoặc những
bộ phận khác như phổi, xương.
Chữa trị
Bệnh nhân thường muốn tham dự, tự quyết định chương trình trị liệu nên
muốn biết rõ về căn bệnh cũng như các cách chữa trị hiện hành. Tuy nhiên
sự xúc động, kinh hoàng sau khi chẩn bệnh sẽ khiến người bệnh tê liệt
tâm thần và khó thu nhận những dữ kiện cần thiết để đặt câu hỏi. Vì
vậy bệnh nhân nên sửa soạn một danh sách những điều muốn biết trước
khi gặp bác sĩ. Để ghi nhận và nhớ những dữ kiện đã được thảo luận,
bệnh nhân có thể dùng máy ghi âm hoặc đi khám bệnh với thân nhân, người
thân có thể giúp quý vị ghi chép, hoặc chỉ lắng nghe.
Quý vị không cần hỏi tất cả mọi câu hỏi trong một lần mà có thể hỏi
nhiều lần, đặt câu hỏi với bác sĩ, với điều dưỡng, hoặc những chuyên
viên chăm sóc sức khỏe khác.
Bác sĩ có thể giới thiệu hoặc chính quý vị có thể yêu cầu bác sĩ giới
thiệu đến một chuyên gia có kinh nghiệm chữa trị loại bệnh này như bác
sĩ giải phẫu, bác sĩ chuyên về ung thư (medical oncologists), bác sĩ
chuyên về xạ trị (radiation oncologists). Quý vị có thể được chữa trị
bởi một nhóm chuyên viên gồm nhiều bác sĩ chuyên môn.
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham
khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng
bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu
Quý vị nên tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về các cách chữa trị
khác nhau, bác sĩ giải phẫu gan-mật, bác sĩ chuyên về xạ trị, và bác
sĩ chuyên về ung thư. Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu,
y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ
khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa
trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với
bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình,
hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y
khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Sửa soạn cho việc chữa trị
Bác sĩ hoạch định chương trình chữa trị theo bệnh trạng,
tình trạng sức khỏe và tuổi tác của bệnh nhân. Trị liệu tùy thuộc vào
loại ung thư, thời kỳ và "mức độ" (grade hay mức độ bất thường
của tế bào ung thư, mức độ bất thường cho biết ung thư có thể tăng trưởng
nhanh hay chậm. Ung thư ở mức độ "thấp" hay "low grade"
tăng trưởng chậm và lan chậm so với loại ung thư ở mức độ "cao"
(high-grade).
Trước khi chữa trị, quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
• Tôi bị loại ung thư nào? Ung thư ở mức độ nào?
• Ung thư đang ở trong thời kỳ nào? Ung thư đã lan xa chưa? Nếu có,
đã lan đến đâu?
• Có bao nhiêu cách chữa trị? Bác sĩ đề nghị cách nào? Tôi có được chữa
trị bằng nhiều cách không?
• Biến chứng và phản ứng phụ là những gì? Ta sẽ phòng ngừa hoặc chữa
trị ra sao?
• Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
• Có cần phải thay đổi hoạt động trong đời sống hằng ngày không?
• Việc chữa trị có tốn kém nhiều không? Bảo hiểm của tôi có trả không?
• Tôi có nên tham dự thử nghiệm lâm sàng không?
Quý vị không nhất thiết phải hỏi tất cả mọi câu hỏi ngay lần khám bệnh
đầu, mà có thể đặt câu hổi chi tiết trong những lần khám bệnh kế tiếp.
Các cách trị liệu
Ung thư bàng quang được chữa bằng nhiều cách: giải phẫu,
xạ trị, hóa chất, sinh hóa trị liệu riêng lẻ hoặc dùng nhiều cách trị
liệu chung với nhau. Bác sĩ là người có thể thảo luận và cùng quyết
định cách chữa trị thích hợp nhất với bệnh nhân.
Nhiều chương trình thử nghiệm lâm sàng cho mọi thời kỳ của ung thư bàng
quang đang tiến hành để tìm cách chữa hiệu quả hơn, quý vị nên hỏi bác
sĩ về những chương trình thử nghiệm này. Phần Thử Nghiệm Lâm Sàng có
nhiều chi tiết về cách chữa trị này.
Giải phẫu là cách chữa trị chính cho ung thư bàng quang;
và phương cách giải phẫu tùy thuộc vào thời kỳ và ""mức độ"
của ung thư.
• Transurethral resection (TUR):
Dùng để chữa loại ung thư superficial; Bác sĩ dùng phương pháp nội soi,
chuyển một ống nhỏ, mềm qua ống tiểu, ở đầu ống có gắn một dụng cụ dùng
để "cạo" tế bào ung thư, sau đó dùng điện để đốt những tế
bào còn lại gọi là fulguration. Bệnh nhân được chữa tại bệnh viện và
có thể cần thuốc mê. Sau cuộc giải phẫu này, bệnh nhân có thể cần hóa
chất trị liệu và sinh hóa trị liệu.
• Radical cystectomy:
Loại ung thư lậm sâu hơn (invasive), bác sĩ sẽ cần cắt bỏ bàng quang.
Đôi khi, với loại ung thư cạn (superficial) nhưng với một diện tích
lớn, bác sĩ cũng cần cắt bỏ bàng quang. Khi cắt bỏ bàng quang, bác sĩ
sẽ cắt bỏ cả hạch bạch huyết lân cận, một phần ống tiểu (urethra), và
có thể một phần những bộ phận khác nơi ung thư đã lan đến. Ở phái nam,
những bộ phận này có thể bao gồm tuyến tiền liệt (nhiếp hộ tuyến, prostate),
túi chứa tinh dịch (seminal vesicles) và cả ống dẫn tinh (vas deferens).
Ở phái nữ, dạ con, buồng trứng, ống dẫn trứng (fallopian tubes) và một
phần âm hộ sẽ bị cắt bỏ.
• Segmental cystectomy:
Bác sĩ cắt bỏ một phần bàng quang, phương pháp này được sử dụng khi
có một khối u nhỏ nhưng lậm sâu đến thành bàng quang.
Đôi khi, ung thư đã lan đến những bộ phận lân cận và không thể cắt bỏ
hoàn toàn mọi bộ phận, bác sĩ sẽ cắt bỏ bàng quang, hoặc giữ lại bàng
quang nhưng tạo một ống thoát nước tiểu. Khi bàng quang bị cắt bỏ, bác
sĩ có thể tạo ra một túi bên trong cơ thể bằng ruột non để chứa nước
tiểu hoặc tạo ống dẫn ra ngoài cơ thể và đặt túi chứa.
Trước khi giải phẫu, quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
-Bác sĩ sẽ thực hiện cách giải phẫu nào cho tôi?
- Tôi có thể tiểu tiện bình thường không?
-Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
-Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
-Cuộc giải phẫu ảnh hưởng ra sao đến đời sống tình dục?
-Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không?
-Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
Xạ trị: Chữa trị ung thư tại chỗ bằng cách dùng chất
phóng xạ để đốt ung thư. Bác sĩ có thể dùng xạ trị trước hoặc sau khi
giải phẫu. Đôi khi không thể giải phẫu, bác sĩ dùng xạ trị để đốt khối
u. Có hai loại xạ trị: Nội và ngoại xạ trị.
• Ngoại xạ trị (external radiation):
Một máy phóng xạ ở bện ngoài cơ thể rọi tia phóng
xạ đến khối u (xuyên qua da), cách chữa trị này thường kéo dài 5 ngày
một tuần và trong 5-7 tuần lễ. Đôi khi thời gian chữa trị có thể ngắn
hơn nếu có một khối phóng xạ (radiation implant) được đặt trong cơ thể.
• Nội xạ trị: Bác
sĩ đặt một dụng cụ chứa chất phóng xạ vào bàng quang (qua ống tiểu hoặc
cắt một lỗ nhỏ ở bụng). Bệnh nhân sẽ ở tại bệnh viện và giới hạn việc
thăm viếng bảo đảm sự an toàn cho người thăm viếng. Sau khi dụng cụ
chứa chất phóng xạ được lấy ra, cơ thể không còn chất phóng xạ nữa.
Bác sĩ có thể dùng cả nội và ngoại xạ trị để chữa trị cho một số bệnh
nhân.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc xạ trị:
-Tại sao tôi cần loại chữa trị này?
-Bác sĩ chọn loại xạ trị nào cho tôi? Cả hai loại xạ trị có cần thiết
không?
-Khi nào thì việc chữa trị bắt đầu? Khi nào thì xong? Chữa trị bao nhiêu
lần?
-Tôi sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Tôi có cần vào bệnh viện không? Tôi cần
làm gì để tự chăm sóc trong khi và sau khi chữa trị?
-Tôi có thể tự đến nơi chữa trị hay không?
-Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả hay không?
-Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Hóa chất trị liệu: Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều
loại hóa chất cùng lúc để chữa trị.
Với loại ung thư cạn (superficial), Bác sĩ có thể dùng intravesical
therapy, một loại chữa trị tại chỗ. Bác sĩ đặt một ống rỗng (catheter)
vào bàng quang (qua ống tiểu) rồi truyền hóa chất vào bàng quang. Hóa
chất này giữ trong bàng quang sau nhiều giờ, và chỉ ảnh hưởng đến tế
bào tại bàng quang. Bệnh nhân được chữa trị mỗi tuần trong nhiều tuần
lễ có khi kéo dài đến cả năm.
Khi ung thư ăn sâu hoặc đã lan khắp cơ thể, bác sĩ dùng cách chữa toàn
thân, hóa chất được đưa vào cơ thể qua mạch máu, máu luân lưu khắp cơ
thể. Hóa chất được dùng từng giai đoạn, giữa giai đoạn trị liệu là một
thời gian nghỉ ngơi.
Bác sĩ có thể dùng hóa chất trước hoặc sau khi
giải phẫu và cả với xạ trị. Hóa chất trị liệu thường được dùng
tại trung tâm Y khoa, văn phòng bác sĩ. Tuy nhiên tùy thuộc vào tình
trạng sức khỏe của bệnh nhân và loại thuốc sử dụng, bệnh nhân có thể
cần vào bệnh viện một thời gian ngắn.
Sinh hóa trị liệu dùng sức đề kháng của cơ thể để chống
lại ung thư. Cách này thường được dùng để chữa loại ung thư cạn (superficial)
sau khi giải phẫu TUR để ngừa tái phát. Bác
sĩ có thể dùng chất chứa bacille Calmette-Guerrin, BCG,
một loại vi trùng để kích thích sức đề kháng của cơ thể và diệt tế bào
ung thư. Dung dịch này được truyền vào bàng quang, giữ tại bàng quang
khoảng 2 tiếng sau đó được bài tiết ra ngoài. Cách chữa này dùng mỗi
tuần trong sáu tuần lễ.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi
bắt đầu chữa trị hóa chất hoạt sinh hóa tố:
-Mục đích của việc chữa trị là gì? Có nhiều cách
chữa để tôi chọn lựa không? Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có
hiệu quả?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng
phụ nào?
-Có cách nào phòng ngừa không?
-Việc chữa trị sẽ tốn bao nhiêu? Bảo hiểm của
tôi có trả chi phí không?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị
không?
-Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao
nhiêu lâu?
-Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị
cho tôi không?
-Sau khi trị liệu, tôi có phải khám bệnh đình
kỳ thường xuyên không?
Phản ứng phụ của trị liệu
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại cho những tế
bào lành mạnh, nên thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào
vị trí của khối u, cách chữa trị và mức đọ chữa trị nhiều hay ít. phản
ứng phụ không xuất hiện giống nhau cho tất cả mọi người, có thể thay
đổi từ lần chữa trị này so với lần chữa trị khác. Trước khi chữa trị,
bác sĩ sẽ giải thích việc phản ứng phụ có thể xảy ra và cách ngăn ngừa.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, supportive care (tạm dịch là “chữa
trị phụ” nhằm giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản
ứng phụ, biến chứng từ việc chữa trị chính) cũng được sử dụng để giúp
bệnh nhân dễ chịu hơn. Tin tức về việc chữa trị được đăng tải trên trang
nhà của Viện Ung Thư Quốc Gia www.cancer.gov/cancertopics/coping,
và Information Specialists at 1-800-4-CANCER hoặc LiveHelp1 (http://www.cancer.gov/help)
Giải phẫu
Vài ngày hậu giải phẫu TUR, bệnh nhân sẽ thấy máu trong
nước tiểu (hematuria), khó tiểu tiện hoặc đau rát khi tiểu tiện. Hậu
giải phẫu cắt bỏ một phần bàng quang, bệnh nhân đi tiểu nhiều lần vì
dung tích bàng quang nhỏ hơn khi trước và cảm thấy đau đớn, bác sĩ có
thể dùng thuốc giảm đau. Thời gian hồi phục không đồng nhất với mọi
bệnh nhân.
Khi bàng quang bị cắt bỏ hoàn toàn, bác sĩ thường dùng một mảnh ruột
để tạo ra một ống rỗng, một đầu nối với ống dẫn nước tiểu từ thận, đầu
kia mở ra ngoài bụng; lỗ hổng này gọi là stoma, một túi plastic được
dán vào bụng để chứa nước tiểu thoát ra từ stoma. Cuộc giải phẩu tạo
stoma gọi là urostomy hoặc ostomy. Đôi khi bác sĩ dùng một mảnh ruột
non để chế tạo một túi chứa nước tiểu đặt trong bụng, miệng túi nối
với ống tiểu (urethra) hoặc với một stoma để dẫn nước tiểu ra ngoài
cơ thể.
Với một số bệnh nhân, bác sĩ có thể tạo một túi chứa nước tiểu bên trong
cơ thể gọi là "continent reservoir", nước tiểu tích tụ tại
đây và được nối với ống tiểu hoặc lỗ hổng stoma.
Ung thư bàng quang có thể ảnh hưởng đến tình dục hoặc cả việc sinh sản.
Khi dạ con và buồng trứng bị cắt bỏ, phái nữ không thể sinh sản được
nữa và bị tắt kinh (menopause). Những triệu chứng liên quan đến việc
tắt kinh như nóng lạnh, khó chịu, khô da... xuất hiện ngay và thường
là trầm trọng hon khi tắt kinh tự nhiên. Khi bác sĩ cắt bỏ cả một phần
âm hộ thì việc giao hợp trở nên khó khăn.
Trước đây hầu hết phái nam sau khi giải phẫu để chữa trị ung thư bàng
quang đều bị liệt dương (impotent). Ngày nay kỹ thuật giải phẫu tiến
bộ, liệt dương không còn là một biến chứng chính của hậu giải phẫu.
Khi tuyến tiền liệt và túi chứa tinh (seminal vesicles) bị cắt bỏ, sẽ
không còn tinh dịch(semen) khi thoát tinh (dry orgasm) hoặc không thoát
tinh khi đến tuyệt đỉnh của sự khoái cảm (sexual climax). Nếu muốn có
con, quý ông nên dự trữ tinh trùng (sperm banking) trước khi giải phẫu.
Lo âu về phần tình dục là điều dễ hiểu, quý vị nên thảo luận với bác
sĩ về phản ứng phụ, và nên thảo luận với quý vị tình cũng như tìm các
phương cách khác để bày tỏ sự yêu thương gần gũi trong khi và sau khi
chữa trị.
Xạ trị
Hầu hết mọi bệnh nhân đều chịu phản ứng phụ sau cuộc
xạ trị. Phản ứng phụ tùy thuộc vào lượng và loại xạ trị. Phản ứng phụ
thường biến mất một thời gian ngắn sau khi xạ trị.
Ngoại xạ trị có thể làm sậm màu da tại nơi chiếu phóng xạ, da bị khô
và đỏ rát cũng như rụng lông. Tránh mặc quần áo cọ xát vào vùng da,
và không nên dùng kem thoa da nếu không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.
Bệnh nhân mệt mỏi mất sức sau xạ trị nhiều tuần lễ nên cần nghỉ ngơi;
tuy nhiên sự vận động giúp bệnh nhân lấy lại sức lực nhanh chóng hơn.
Xạ trị có thể gây giảm bạch cầu, loại tế bào máu giúp cơ thể đề kháng
chống lại nhiễm trùng. Khi lượng bạch cầu xuống thấp, bác sĩ có thể
cách ly bệnh nhân để ngừa nhiễm trùng hoặc ngưng xạ trị một thời gian
cho đến khi số bạch cầu trở lại bình thường.
Ngoài những biến chứng thông thường như khô da, phỏng da, mệt mỏi, buồn
nôn, ói mửa, tiêu chảy, xạ trị trị liệu có thể ảnh hưởng đến tình dục.
Phái nữ thường bị khô âm hộ và phái nam thường bị liệt dương trong nhiều
tuần lễ hậu trị liệu.
Hóa chất trị liệu
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại và lượng hóa chất sử dụng. Ngoài
ra phản ứng phụ thay đổi tùy theo bệnh nhân. Loại hóa chất dùng trong
bàng quang gây đau rát và xuất huyết trong vài ngày, vài loại thuốc
gây mề đay ngứa ngáy khi chạm vào da hoặc bộ phận sinh dục.
Nói chung, hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nên sẽ ảnh hưởng đến những
tế bào tăng trưởng nhanh chóng:
- Tế bào máu: Khi hóa chất chữa ung thư hạ thấp số tế bào máu khỏe mạnh,
bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng, bầm tím hoặc chảy máu dễ dàng, và mệt mỏi,
mất sức. Bác sĩ cần thử máu để đo lường số tế bào máu. Khi lượng tế
bào xuống thấp, bác sĩ có thể dùng thuốc kích thích tủy xương chế tạo
tế bào mới nhanh chóng hơn hoặc sẽ được truyền máu.
- Tế bào bọc quanh chân tóc: Hóa chất gây rụng tóc. Tóc sẽ mọc trở lại
sau khi chữa trị, tóc mới có thể khác màu hoặc thay đổi thể dạng.
- Tế bào lót các bộ phận tiêu hóa: Hoá chất có thể gây kém ăn, buồn
nôn và ói mửa, tiêu chảy, lở miệng.
Một vài loại hóa chất dùng để trị ung thư bàng quang có thể gây hoại
thận. Để phòng ngừa, bác sĩ tiếp rất nhiều nước biển qua mạch máu trước
và sau khi trị liệu. Bệnh nhân tiếp tục cần uống nhiều nước sau khi
chữa trị.
Vài loại thuốc khác gây tê dại hoặc cảm giác kim châm tại đầu ngón tay,
ù tai hoặc điếc tai. các phản ứng phụ này sẽ giảm sau khi chữa trị xong.
Sinh hóa tố trị liệu
BCG gây khó khăn đau đớn khi tiểu tiện, tiêu chảy, xuất
huyết và nóng sốt là các biến chứng thường thấy.
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước
khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng
đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi
bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều
nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất
trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng
thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể
chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo
luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách
dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins),
và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những
hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về
việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau
đớn.
Phục hồi
Phục hồi là một phần quan trọng của việc chữa trị ung
thư, bác sĩ và các chuyên viên y tế sẽ cố gắng giúp bệnh nhân phục hồi
càng sớm càng tốt. Mục đích của phục hồi tùy thuộc vào mức độ hư họai
và loại trị liệu. Chương trình phục hồi có thể từ cách chăm sóc lỗ hổng
stoma, đến việc thay đổi trong sinh hoạt hàng ngày, tiêu tiểu và hoạt
động tình dục.
Thăm bệnh định kỳ
Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định
kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm
bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể. Khám bệnh định
kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng, các loại
thử nghiệm như thử máu, thử nước tiểu, nội soi hoặc những loại thử nghiệm
khác.
Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.
Những nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống
của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và
chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu
thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng
ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến
ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ
hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm
hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua quý vị hữu,
thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm: Bác
sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết
những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng. Chuyên viên xã hội, chuyên viên
tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần.
Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ,
việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
Những nhóm hỗ trợ:
bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để
chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những
nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet.
Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ
Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ
và các tin tức tài liệu liên quan đến ung thư.
Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm
lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các
câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất.
Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống
lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm
phương pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách
trị liệu hiệu quả hơn.
Các chuyên gia đang thử nghiệm các hóa chất trị liệu. Họ tìm hiểu kiếm
các loại thuốc mới, các cách dùng chung nhiều loại thuốc, và lượng thuốc
mới. Ngoài ra các chuyên gia cũng tìm cách tiết giảm phản ứng phụ của
việc trị liệu.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm
lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials.
Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các
cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể
lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách
ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm
lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu,
chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online
contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact
hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng
“gov”)
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu
(ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây
Ban Nha. Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên
trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ
bản cho mình. Thư từ gửi về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và quý vị (Chemotherapy and
You)
- Xạ trị và quý vị (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu quý vị bị ung
thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies:
Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic
Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With
Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating
Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward
Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing
Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support
for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer
Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người
bị ung thư và thân nhân họ (National Organizations That Offer Services
to People With Cancer and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical
Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in
Cancer Treatment Research Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư:
hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer:
Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm
sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm
dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)
Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc
Gia Hoa Kỳ No. 01-1559, tháng Chín 2002
Ly-Le Tran, MD,
JD, FCLM
Global Head, Life Cycle Optimization
Novartis Oncology
Novartis Pharmaceuticals Corporation
One Health Plaza, Bldg 105
East Hanover, NJ 07936-1080
USA
Phone: +1 862 7787182
Email : lyle.tran@novartis.com
>>>back>>> |
|
 |