 |
Ung
thư Ruột Già và trực tràng
Bác sĩ Trần Lý Lê (tvvn.org),
Chuyên Khoa Nội Thương, Khảo Cứu Ung Thư
Ruột gìa và trực tràng là những cấu trúc trong bộ phận
tiêu hóa. Những cấu trúc này tạo thành một ống cơ trơn gọi chung là ruột
già, Anh ngữ là “large intestine” hay “large bowel”. Ruột già dài 120
-150 cm, phần còn lại là trực tràng, dài 10- 15cm.
Thức ăn tiêu hóa (một phần) được chuyển xuống ruột già từ ruột non. Ruột
già thu nhận nước và chất dinh dưỡng từ thực phẩm và chuyển hóa phần còn
lại thành chất phế thải (phân). Phân được đẩy xuống trực tràng và bài
tiết khỏi cơ thể qua hậu môn (the anus).
Hiểu biết căn bản về ung thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô, mô tạo thành bộ
phận.
Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những tế
bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại, chúng
chết, và các tế bào mới thay thế. Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể
trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất hiện trong khi cơ thể không cần đến,
hoặc tế bào già lão, hư hoại không chết như đã định, sự tích tụ của các
tế bào mới và cũ tạo thành khối gọi là "khối u“, bướu hay "tumor“.
Khối u (bướu) có thể "lành“ (benign) hoặc "độc“ (malignant).
Bướu lành thường không độc hại như bướu độc.
Bướu lành:
- Ít khi gây tử vong
- Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
- Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
- Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu độc:
- Có thể gây tử vong
- Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
- Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
- Lan ra các bộ khác
Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên hay khối
ung thư nguyên phát (primary tumor). Các tế bào này theo mạch máu (blood
vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel) đến mọi bộ phận trong cơ thể.
Tế bào ung thư có thể “bám“ vào các bộ phận và sinh sản, tạo nên một khối
u mới hay khối ung thư thứ phát (secondary tumor), có thể gây hư hoại
các bộ phận này. Sự lan tràn của tế bào ung thư gọi là “metastasis“.
Khi ung thư lan ra bên ngoài ruột già trực tràng, tế bào ung thư thường
xuất hiện tại hạch bạch huyết lân cận. Điều này có nghĩa là ung thư có
thể đã lan ra những hạch bạch huyết khác ở xa hơn hoặc các bộ phận khác.
Ung thư ruột già trực tràng thường lan đến gan.
Khi ung thư lan xa, khối u mới có cùng loại tế bào ung thư như khối u
nguyên thủy. Thí dụ khi ung thư ruột già trực tràng lan đến gan, thì khối
u tại đây là các tế bào ung thư ruột già trực tràng, không phải ung thư
gan. Vì vậy sẽ được chữa trị như ung thư ruột già trực tràng. Khối u mới
được gọi là khối u thứ phát.
Những yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư ruột già trực tràng
Ta chưa rõ nguyên nhân của loại ung thư này. Bác sĩ không thể giải thích
tại người này bị ung thư mà kẻ khác không bị. Tuy nhiên ung thư ruột già
trực tràng không phải là bệnh truyền nhiễm, không lan từ người nọ sang
người kia.
Những người có các yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư không hẳn là sẽ
bị ung thư. Các yếu tố này bao gồm:
- Tuổi trên 50: ung thư ruột già trực tràng xuất hiện ở tuổi trung niên;
90% người bị bệnh là những người trên 50 tuổi, trung bình là 72 tuổi.
- Bị polyps tại ruột già trực tràng: Polyps là những “túi” mọc ra từ màng
lót ruột già hoặc trực tràng, thường thấy ở những người trên 50 tuổi.
Hầu hết polyp không nguy hại, nhưng đôi khi loại adenomas có thể trở thành
ung thư. Truy tìm và cắt bỏ polyp sẽ giảm nguy cơ gây ung thư.
- Thân nhân bị ung thư ruột già trực tràng: Thân nhân (cha mẹ, anh chị
em hoặc con cái) bị ung thư ruột già trực tràng, nhất là khi còn trẻ,
là một yếu tố quan trọng.
- Biến thái di thể: Sự biến thái của một số di thể có thể dẫn đến ung
thư ruột già trực tràng.
- Hereditary nonpolyposis colon cancer (HNPCC) là một loại ung thư ruột
già trực tràng di truyền thường thấy nhất, khoảng 2% các ca ung thư ruột
già trực tràng, do sự biến thái của di thể HNPCC. Tuổi trung bình là 44
khi tìm ra bệnh.
- Familial adenomatous polyposis (FAP) là một chứng bệnh di truyền rất
hiếm, với hàng trăm polyp xuất hiện tại ruột già và trực tràng. Bệnh này
do sự biến thái của di thể có tên APC. Trừ khi được chữa trị đúng mức,
chứng FAP thường dẫn đến ung thư vào tuổi 40. Chứng bệnh này chiếm 1%
trong số các ca ung thư ruột già trực tràng.
Thân nhân của bệnh nhân bị HNPCC hoặc FAP nên thử nghiệm di thể để tìm
dấu vết của sự biến thái. Những người có dấu hiệu biến thái di thể sẽ
cần thay đổi cách sống để giảm nguy cơ hoặc sẽ được chữa trị bằng cách
cắt bỏ một phần hoặc toàn thể ruột già trực tràng.
- Bị ung thư trong quá khứ: ung thư ruột già trực tràng có thể xảy ra
lần thứ nhì (tái phát). Phụ nữ bị ung thư buồng tứng, tử cung hoặc vú
có nguy cơ bị ung thư ruột già trực tràng cao hơn những người khác.
- Bị viêm ruột già (Ulcerative colitis) hoặc bị chứng bệnh Crohn's: Người
bị viêm ruột già (như ulcerative colitis hoặc Crohn) nhiều năm có nguy
cơ bị ung thư cao hơn.
- Cách ăn uống: Thực phẩm nặng chất béo (mỡ động vật) và ít calcium, folate,
chất xơ gia tăng nguy cơ bị ung thư. Một vài cuộc nghiên cứu cho rằng
thức ăn ít trái cây rau có cũng là yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư.
Đây là những điều cần được theo dõi và thử nghiệm kỹ lưỡng hơn trước khi
có kết luận vững chắc.
- Hút thuốc lá
Ung thư ruột già trực tràng có thể tái phát nên điều quan trọng là nên
đi khám bệnh định kỳ. Thân nhân người bệnh cũng nên đi khám bệnh định
kỳ để theo dõi dấu vết ung thư cho chính họ. Nếu lo âu về ung thư và muốn
thử nghiệm, nên thảo luận với bác sĩ của mình. Hãy đọc phần “Truy Tìm”
để biết thêm về các loại thử nghiệm tìm kiếm polyp và ung thư ruột già
trực tràng.
Truy tìm
Việc truy tìm giúp bác sĩ nhận diện polyp và ung thư sớm hơn trước khi
có triệu chứng. Cắt bỏ polyp có thể ngăn ngừa ung thư và việc tìm thấy
bệnh sớm sẽ giúp chữa trị hiệu quả hơn.
Để tìm polyp hoặc dấu vết ung thư ruột già trực tràng:
1) Những người 50 trở lên cần khám bệnh và thử nghiệm.
2) Những người có các yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư nên thử nghiệm
dù chưa đến tuổi 50, nên thảo luận với bác sĩ về loại thử nghiệm, loại
nào hữu hiệu hơn và lợi ích ra sao.
Những loại thử nghiệm sau có thể dùng để tìm kiếm polyp và ung thư hoặc
những sự bất thường. Bác sĩ có thể giải thích thêm về mỗi loại thử nghiệm:
- Máu trong phân (Fecal occult blood test, FOBT): Đôi khi ung thư hoặc
polpy xuất huyết, và loại thử nghiệm này sẽ cho thấy dấu hiệu của máu
trong phân. Khi thấy máu, ta sẽ cần tìm nguồn gốc; chứng trĩ tại trực
tràng cũng gây xuất huyết và đây là chứng bệnh dễ chữa.
- Nội soi ruột già phần dưới (Sigmoidoscopy): Bác sĩ quan sát bên trong
trực tràng và phần dưới của ruột già qua dụng cụ nội soi. Đây là một ống
mềm, đầu có đèn và kính hiển vi có tên là “sigmoidoscope”. Khi thấy polyp,
bác sĩ sẽ cắt bỏ, tiểu phẫu này gọi là polypectomy.
- Nội soi ruột già phần trên (Colonoscopy): Bác sĩ quan sát bên trong
trực tràng và toàn thể ruột già qua dụng cụ nội soi. Đây là một ống mềm,
đầu có đèn và kính hiển vi có tên là “colonoscopy”. Khi thấy polyp, bác
sĩ sẽ cắt bỏ.
- Double-contrast barium enema: bệnh nhân uống dung dịch barium, sau đó
bác sĩ bơm không khí vào trực tràng và chụp quang tuyến, barium và không
khí sẽ giúp nhận hình thể ruột già và trực tràng rõ hơn, và do đó polyp
hoặc khối u sẽ rõ ràng hơn.
- Khám hậu môn (Digital rectal exam): Bác sĩ khám hậu môn tìm dấu vết
các khối u, đây là phần khám bệnh bệnh thông thường.
- Virtual colonoscopy: Cách thử nghiệm này đang được khảo sát, chưa được
sử dụng rộng rãi. Xem thêm phần “Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu”.
Bạn có thể tìm đọc thêm tài liệu "Colorectal Cancer Screening: Questions
and Answers" của Viện Ung Thư Quốc Gia.
Bạn có thể hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:
-Bác sĩ đề nghị loại thử nghiệm nào cho tôi? Tại sao?
-Loại thử nghiệm này tốn bao nhiêu tiền? Bảo hiểm của tôi có trả chi phí
này không?
-Thử nghiệm này có đau đớn không?
-Bao nhiêu lâu thì có kết quả?
Triệu chứng
Triệu chứng thông thường nhất của ung thư ruột già trực tràng là sự thay
đổi về đại tiện. Những triệu chứng khác bao gồm:
-Tiêu chảy hoặc táo bón
-Cảm giấc “đầy” sau khi đại tiện
-Máu (đỏ tươi hoặc máu bầm) trong phân
-Phân có kích thước nhỏ hơn bình thường
-Đau bụng, đầy hơi, khó chịu
-Xuống ký lô mà không có nguyên nhân
-Mệt mỏi, mất sức
-Buồn nôn và ói mửa
Những triệu chứng này xuất hiện trong những căn bệnh khác không chỉ ung
thư, do đó nên đi khám bệnh để định rõ nguyên nhân càng sớm càng tốt.
Ung thư lúc khởi đầu thường không gây đau đớn, đi khám bệnh sớm, đừng
chờ cho đến khi đau đớn
Chẩn bệnh
Nếu kết quả thử nghiệm cho thấy dấu vết ung thư hoặc có triệu chứng, bác
sĩ cần tìm kiếm nguyên nhân và định bệnh rõ ràng. Ngoài việc lập bệnh
sử, đặt câu hỏi, bác sĩ sẽ khám bệnh và thử nghiệm, dùng các loại thử
nghiệm mô tả trong phần Truy Tìm.
Nếu kết quả thử nghiệm bình thường, không cần chữa trị nhưng bác sĩ có
thể muốn khám bệnh định kỳ để theo dõi bệnh trạng.
Nếu kết thử nghiệm cho thấy polyp, cần làm sinh thiết (trích mô) để tìm
dấu vết ung thư. Thông thường, bác sĩ có thể trích mô khi làm nội soi,
và bác sĩ Bệnh Lý (pathologist) sẽ quan sát mô dưới kính hiển vi để tìm
dấu vết của sự bất thường trong các tế bào.
Bạn có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ
trích mô (làm sinh thiết):
-Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
-Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
-Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết?
Có đau đớn lắm không?
-Làm sinh thiết có rủi ro không? Có gây ra việc lan tràn ung thư không?
Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
-Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho
tôi hiểu?
-Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước sắp
tới? Và bao giờ?
Định Kỳ
Nếu kết quả thử nghiệm trích mô cho thấy ung thư, bác sĩ cần thẩm định
thời kỳ ung thư, ung thư đã lan đến đâu bộ phận nào trong cơ thể, để hoạch
định chương trình chữa trị thích hợp.
Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều thử nghiệm sau:
-Thử máu: Đo lượng carcinoembryonic antigen
(CEA) và những chất khác trong máu. Một số bệnh nhân bị ung thư ruột già
trực tràng hoặc những chứng bệnh khác gây gia tăng lượng CEA trong máu.
-Nội soi: Nếu bác sĩ chưa làm nội soi quán
sát toàn thể ruột già trực tràng thì sẽ cần làm nội soi để định kỳ.
-Nội siêu âm trực tràng (Endorectal ultrasound):
dụng cụ dò siêu âm đặt trong trực tràng, phát âm thanh, máy dò
thu nhận làn sóng âm thanh dội lại sẽ cho thấy hình thể các cấu trúc trong
khoang bụng dưới kể cả hạch bạch huyết sưng trướng
-Quang tuyến phổi: tìm dấu vết ung thư lan
đến phổi.
-CT scan: chụp hình ảnh các cấu trúc bên
trong khoang bụng. Bệnh nhân có thể được chích “thuốc nhuộm” để làm rõ
hơn hình ảnh. Các hình ảnh này cho thấy ung thư đã lan đến các cấu trúc
khác hay chưa.
Bác sĩ có thể dùng các thử nghiệm khác như MRI để định kỳ. Đôi khi việc
định kỳ ung thư chỉ hoàn tất sau khi giải phẫu cắt bỏ khối u. Ung thư
ruột già trực tràng được định kỳ như sau:
-Giai Đoạn 0 (Stage 0): ung thư chỉ xuất
hiện ngay tại màng lót ruột già hoặc trực tràng, còn có tên là carcinoma
in situ.
-Giai Đoạn (Stage) I: ung thư lậm đến nhưng
chưa qua thấu thành ruột già hoặc trực tràng.
-Giai Đoạn (Stage) II: ung thư ăn sâu qua
thành ruột già hoặc trực tràng, có thể lan đến cấu trúc chung quanh nhưng
chưa lan đến hạch bạch huyết.
-Giai Đoạn (Stage) III: ung thư đã lan đến
hạch bạch huyết lân cận nhưng chưa đến các bộ phận khác.
-Giai Đoạn (Stage) IV: ung thư đã lan đến
các bộ phận khác như gan hoặc phổi.
-Tái phát (Recurrence): ung thư tái phát
sau khi đã chữa trị, bệnh tái phát có thể tại ruột già, trực tràng hoặc
các bộ phận khác.
Trị liệu
Bệnh nhân thường muốn tham dự, tự quyết định chương trình trị liệu nên
muốn biết rõ về căn bệnh cũng như các cách chữa trị hiện hành. Tuy nhiên
sự xúc động, kinh hoàng sau khi chẩn bệnh sẽ khiến người bệnh tê liệt
tâm thần và khó thu nhận những dữ kiện cần thiết để đặt câu hỏi. Vì vậy
bệnh nhân nên sửa soạn một danh sách những điều muốn biết trước khi gặp
bác sĩ. Để ghi nhận và nhớ những dữ kiện đã được thảo luận, bệnh nhân
có thể dùng máy ghi âm hoặc đi khám bệnh với thân nhân, người thân có
thể giúp bạn ghi chép, hoặc chỉ lắng nghe.
Bạn không cần hỏi tất cả mọi câu hỏi trong một lần mà có thể hỏi nhiều
lần, đặt câu hỏi với bác sĩ, với điều dưỡng, hoặc những chuyên viên chăm
sóc sức khỏe khác.
Bác sĩ có thể giới thiệu hoặc chính bạn có thể yêu cầu bác sĩ giới thiệu
đến một chuyên gia có kinh nghiệm chữa trị loại bệnh này như bác sĩ chuyên
về bệnh tiêu hóa, (gastroenterologists), bác sĩ giải phẫu, bác sĩ chuyên
về ung thư (medical oncologists), bác sĩ chuyên về xạ trị (radiation oncologists).
Bạn có thể được chữa trị bởi một nhóm chuyên viên gồm nhiều bác sĩ chuyên
môn.
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, bạn có thể tham khảo một bác sĩ khác
để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi
phí này nếu bạn hoặc bác sĩ yêu cầu.
Bạn nên tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về các cách chữa trị khác
nhau, bác sĩ giải phẫu gan-mật, bác sĩ chuyên về xạ trị, và bác sĩ chuyên
về ung thư.
Bạn cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm
và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không
ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, bạn có thể thảo
luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình,
hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa…
để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Những phương cách trị liệu
Việc lựa chọn cách trị liệu tùy thuộc vào vị trí của khối u tại ruột già
hoặc trực tràng và thời kỳ của ung thư. Cách chữa trị có thể là giải phẫu,
hóa chất, sinh hóa tố hoặc xạ trị. Một số bệnh nhân được chữa trị bằng
nhiều cách kể trên.
Ung thư ruột già đôi khi được chữa trị khác với ung thư trực tràng. Bác
sĩ có thể mô tả việc chữa trị, hiệu quả có thể đạt được. Bệnh nhân và
bác sĩ thảo luận để chọn lựa và quyết định cách chữa trị.
Chữa trị ung thư có thể tại chỗ (local) hoặc toàn thân (systemic)
1) Chữa trị tại chỗ (local therapy): Giải
phẫu và xạ trị là phương cách chữa trị tại chỗ. Bác sĩ cắt bỏ hoặc hủy
diệt khối u tại ruột già hoặc trực tràng. Khi ung thư ruột già trực tràng
lan đến những bộ phận khác trong cơ thể, cách chữa trị tại chỗ vẫn có
thể được dùng để chữa trị tại vị trí cần thiết.
2) Chữa trị toàn thân (Systemic therapy):
Hóa chất và sinh hóa tố trị liệu là các cách chữa trị toàn thân. Thuốc
vào thân thể luân lưu qua máu và hủy diệt tế bào ung thư trong khắp cơ
thể.
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại cho những tế bào khỏe mạnh, thường
có phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và lượng thuốc
sử dụng và không giống nhau cho tất cả mọi người, lần chữa trị này so
với lần chữa trị khác. Trước khi chữa trị, bác sĩ sẽ giải thích việc phản
ứng phụ có thể xảy ra và cách ngăn ngừa.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, supportive care (tạm dịch là “chữa
trị phụ” nhằm giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản ứng
phụ, biến chứng từ việc chữa trị chính) cũng được sử dụng để giúp bệnh
nhân dễ chịu hơn. Tin tức về việc chữa trị được đăng tải trên trang nhà
của Viện Ung Thư Quốc Gia www.cancer.gov/cancertopics/coping,
và Information Specialists at 1-800-4-CANCER hoặc LiveHelp 1 (http://www.cancer.gov/help).
Bạn có thể thảo luận với bác sĩ về thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu cách
chữa trị mới. Xem thêm phần Thử nghiệm Lâm Sàng dưới đây.
Bạn có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc trị liệu:
-Tôi bị ung thư ở thời kỳ nào? Ung thư đã lan chưa?
-Có những cách chữa trị nào cho căn bệnh của tôi? Bác sĩ nghĩ rằng cách
trị liệu nào thích hợp nhất? Lý do?
-Tôi có được chữa trị bằng nhiều phương cách hay không?
-Lợi ích của mỗi cách chữa trị này là những gì?
-Phản ứng phụ và những rủi ro của mỗi cách chữa trị này bao gồm những
gì? Ta có thể giảm thiểu phản ứng phụ hay không?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
-Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
-Việc chữa trị có tốn kém lắm không? Bảo hiểm của tôi có trang trải những
phí tổn này không?
-Bác sĩ có thể giới thiệu một bác sĩ chuyên môn khác cho tôi xin ý kiến
thứ nhì không?
-Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho tôi không?
-Sau khi trị liệu, tôi có phải khám bệnh đình kỳ thường xuyên không?
Giải phẫu
Gỉai phẫu là cách chữa trị thông thường nhất cho ung thư ruột già trực
tràng.
-Nội soi toàn ruột già (Colonoscopy): Một
polyp độc tính có thể được cắt bỏ từ ruột già hoặc trực tràng qua dụng
cụ nội soi. Khối u nhỏ cũng có thể được cắt bỏ từ hậu môn mà không cần
dùng dụng cụ nội soi.
-Nội soi khoang bụng (Laparoscopy): Khối
u nhỏ có thể được cắt bỏ qua dụng cụ nội soi đưa vào khoang bụng, một
ống nhỏ đầu ống là đèn, kính hiển vi và dao mổ. Sau khi cắt 3-4 vết cắt
nhỏ, bác sĩ chuyển dụng cụ vào khoang bụng để quan sát trực tiếp khối
u và các bộ phận lân cận. Khối u và một phần của ruột già được cắt bỏ.
Hạch bạch huyết lân cận cũng được cắt bỏ.
-Giải Phẫu: Bác sĩ mổ khoang bụng để cắt
bỏ khối u, một phần ruột già hoặc trực tràng và hạch bạch huyết. Bác sĩ
tìm kiếm dấu vết lan tràn của ung thư tại ruột non và gan.
Khi một phần ruột già hoặc trực tràng bị cắt bỏ, bác sĩ cần “nối” những
phần còn lại với nhau. Đôi khi, việc “nối” kết này không thể thực hiện,,
bác sĩ mở một lối để thải chất phế thải ra ngoài cơ thể. Lỗ hổng này gọi
là “stoma”, nối phần ruột còn lại với lỗ hổng thoát chất phế thải. Cuộc
giải phẫu chế tạo lỗ hổng stoma có tên là “colostomy”. Một túi nhựa bọc
quanh lỗ hổng để chứa phân và dán vào màng bụng.
Túi chứa phân đặt tại bụng thường có tính cách giai đoạn trừ một số trường
hợp ngoại lệ. Cho đến khi ruột già hoặc trực tràng lành lặn sau khi mổ,
bác sĩ sẽ “nối các phần ruột lại với nhau và vá lại lỗ hổng. Một số nhỏ
bệnh nhân bị ung thư tại phần cuối của ruột già hoặc trực tràng sẽ cần
dùng lỗ hổng tháo phân suốt đời.
Lỗ hổng tháo phân thường gây đau rát da bụng. Bác sĩ, y tá và chuyên viên
có thể giúp bệnh nhân chăm sóc túi phân, ngừa nhiễm trùng và bớt đau rát
da.
Thời gian cần thiết để phục hồi không đồng nhất cho mọi bệnh nhân, một
vài ngày hậu giải phẫu là thời gian chịu đau đớn và thuốc men được dùng
để giảm đau. Trước khi mổ, nên thảo luận với bác sĩ và y tá về cách giảm
đau. Thuốc men có thể gia giảm để làm dịu cơn đau hậu giải phẫu.
Bệnh nhân sẽ mệt mỏi, mất sức trong một thời gian ngắn. Đôi khi giải phẫu
gây táo bón hoặc tiêu chảy. Bác sĩ sẽ theo dõi các dấu hiệu về xuất huyết,
nhiễm trùng để kịp thời chữa trị.
Bạn có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi giải
phẫu:
• Cách giải phẫu nào bác sĩ sẽ thực hiện cho tôi?
• Tôi sẽ ra sao sau khi mổ?
Bác sĩ có cần đặt túi chứa phân không? Nếu cần thì tôi sẽ phải giữ túi
này bao nhiêu lâu?
• Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
• Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
• Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không?
• Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường
Hóa chất trị liệu
Hoá chất là những dược phẩm diệt tế bào ung thư. Thuốc vào máu, luân lưu
khắp cơ thể và ảnh hưởng đến tế bào ung thư ở mọi nơi trong cơ thể, thuốc
được truyền qua tĩnh mạch. Bệnh nhân có thể được chữa trị tại trung tâm
Y Tế, tại văn phòng bác sĩ, hoặc tại nhà. Đôi khi, bệnh nhân cần được
chữa trị tại bệnh viện.
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và lượng thuốc sử dụng, thường thấy
là buồn nôn, ói mửa, giảm sự thèm ăn, nhức đầu, sốt, nóng lạnh, và mệt
mỏi. Một vài loại thuốc làm giảm hồng cầu (gây mệt mỏi), tiểu cầu (dễ
xuất huyết), và bạch cầu (dễ nhiễm trùng). Bác sĩ cần theo dõi bệnh nhân
để tìm kiếm các dấu hiệu kể trên hầu chữa trị kịp thời. Chữa trị hóa chất
có thể gây lột da trên lòng bàn tay hoặc gan bàn chân rất đau đớn khó
chịu.
Bác sĩ có thể giúp cách giảm những phản ứng phụ. Hầu hết mọi phản ứng
phụ sẽ tiết giảm khi việc chữa trị chấm dứt.
Sinh hóa tố trị liệu
Một số bệnh nhân bị ung thư ruột già trực tràng đã lan xa được chữa trị
với monclonal antibody, một loại sinh hóa tố. Monclonal antibody "bám"
vào tế bào ung thư, ức chế sự tăng trưởng của tế bào và ngăn sự lan tràn
của ung thư. Bệnh nhân được chữa trị qua cách truyền thuốc qua tĩnh mạch
tại văn phòng bác sĩ, trung tâm Y Khoa hay bệnh viện. Đôi khi bác sĩ cũng
dùng hóa chất chung với sinh hóa tố trị liệu.
Trong lúc chữa trị, những chuyên viên sẽ theo dõi kỹ lưỡng các dấu vết
của biến chứng như dị ứng. Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại sinh hóa tố
sử dụng, và có thể bao gồm nổi mề đay, sốt, đau bụng, ói mửa, tiêu chảy,
huyết áp lên xuống, xuất huyết và khó thở. Những phản ứng phụ này giảm
cường độ sau lần chữa trị đầu tiên.
Bạn có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt
đầu chữa trị hóa chất hoặc sinh hóa tố:
-Ung thư ở thời kỳ nào? Đã lan xa chưa? Tôi sẽ được chữa trị bằng những
thứ thuốc nào?
-Tôi có cần thử nghiệm để biết có thể giải phẫu không?
-Tôi sẽ được chữa trị tại đâu?
-Tôi cần làm gì để tự chăm sóc trong khi chữa trị?
-Mục đích của việc chữa trị là gì? Có nhiều cách chữa để tôi chọn lựa
không? Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào? -Có cách nào phòng
ngừa không?
-Việc chữa trị sẽ tốn bao nhiêu? Bảo hiểm của tôi có trả chi phí không?
Có cuộc thử nghiệm lâm sàng nào hợp với bệnh trạng của tôi không?
Xạ trị
Xạ trị là cách chữa trị dùng tia phóng xạ để diệt trừ ung thư tại một
vị trí nhất định. Bác sĩ dùng nhiều loại xạ trị để chữa ung thư. Đôi khi
bệnh nhân được chữa trị bằng hai loại:
1) Ngoại xạ trị: Nguồn phóng xạ đến từ một
máy phát xạ, thường sử dụng nhất là loại máy có tên Linear accelerator.
Hầu hết mọi bệnh nhân đến bệnh viện, trung tâm y tế để chữa trị, 5 ngày
mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.
2) Nội xạ trị: (implant hoặc brachytherapy):
Tia phóng xạ đến từ nguồn phóng xạ đặt bên trong cơ thể tại khối u hoặc
vùng lân cận. Bệnh nhân được chữa trị tại bệnh viện và nguồn phóng xạ
được giữ trong cơ thể nhiều ngày cho đến khi rời bệnh viện.
Đôi khi xạ trị được dùng trong khi giải phẫu gọi là intraoperative radiation
therapy.
Phản ứng phụ tùy thuộc vào lượng và loại xạ trị. Ngoại xạ trị đến ngực
và bụng thường gây rát cổ, khó nuốt hoặc đau đớn tại vùng bụng. Xạ trị
tại khoang bụng thường gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, tiêu ra máu hoặc
cảm giác cần đi tiêu liên tục. Đôi khi xạ trị cũng gây những khó khăn
về tiết niệu như khó tiểu tiện. Da có thể trở nên đỏ rát, khô và đau đớn.
Hậu môn có thể sưng đỏ. Bác sĩ có thể dùng thuốc men để làm giảm các triệu
chứng kể trên.
Vùng da nơi chiếu xạ trị sẽ đỏ rát, khó chịu. Hiếm khi xạ trị tại ngực
gây hư hoại phổi, tim hoặc cột sống.
Bệnh nhân thường rất mệt mỏi trong khi xạ trị, nhất là những tuần lễ sau
chót của cuộc chữa trị. Sự mệt mỏi mất sức sẽ kéo dài nhiều tuần lễ sau
đó. Nghỉ ngơi, dưỡng sức là việc quan trọng nhưng bác sĩ thường cổ võ
việc vận động cơ thể càng nhiều càng tốt.
Bạn có thể tìm đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Radiation Therapy
and You của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.
Bạn có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt
đầu cuộc xạ trị:
-Tại sao tôi cần loại chữa trị này?
-Bác sĩ chọn loại xạ trị nào cho tôi? Cả hai loại xạ trị có cần thiết
không?
-Khi nào thì việc chữa trị bắt đầu? Khi nào thì xong? Chữa trị bao nhiêu
lần?
-Tôi sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Tôi có cần vào bệnh viện không? Tôi cần làm
gì để tự chăm sóc trong khi và sau khi chữa trị?
-Tôi có thể tự đến nơi chữa trị hay không?
-Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả hay không?
-Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Chữa trị ung thư ruột già
Hầu hết mọi bệnh nhân bị ung thư ruột già được chữa trị bằng giải phẫu.
Một số đuọc chữa trị bằng giải phẫu và cả hóa chất. Một số khác được được
chữa trị bằng sinh hóa tố. Túi chứa phân ở bụng ít khi cần thiết cho bệnh
nhân bị ung thư ruột già.
Xạ trị ít khi được sử dụng, chỉ dùng để giảm đau và giảm các triệu chứng
khác.
Chữa trị ung thư trực tràng
Tất cả mọi giai đoạn của ung thư trực tràng đều được chữa trị bằng giải
phẫu. Một số bệnh nhân được chữa bằng giải phẫu, xạ trị và cả hóa chất,
những giai đoạn cuối, ung thư trực tràng được chữa bằng sinh hóa tố.
Khoảng 15% bệnh nhân cần đặt túi chứa phân ở bụng suốt đời.
Xạ trị có thể dùng trước hoặc sau khi giải phẫu. Một số bệnh nhân dùng
xạ trị tiền giải phẫu để thu nhỏ khối u,người khác dùng xạ trị hậu giải
phẫu để diệt ung thư còn sót lại. Bệnh nhân có thể dùng xạ trị trong khi
giải phẫu hoặc dùng xạ trị để giảm đau và giảm các triệu chứng gây ra
bởi ung thư.
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và
sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein,
sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường
cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên
nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu,
bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không
còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản
ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo
luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách
dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, vitamins, và minerals.
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những
hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc
vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.
Phục hồi
Phục hồi là một phần quan trọng của việc chữa trị ung thư, bác sĩ và các
chuyên viên y tế sẽ cố gắng giúp bệnh nhân phục hồi càng sớm càng tốt.
Nếu bạn có túi chứa phân tại bụng, sẽ cần học cách tự chăm sóc, bác sĩ,
y tá và các chuyên viên có thể giúp đỡ bạn. Thông thường trước khi rời
bệnh viện, chuyên viên y tế sẽ chỉ dẫn cho bạn cách chăm sóc túi phân,
cách sinh hoạt hàng ngày kể cả việc giao hợp. Họ cũng có thể giới thiệu
bạn với những nhóm hỗ trợ.
Thăm bệnh định kỳ
Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định kỳ. Ngay cả khi
không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung
thư có thể còn sót lại trong cơ thể.
Khám bệnh định kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng,
các loại thử nghiệm như thử máu, chụp hình phổi, CT scan, nội soi hoặc
những loại thử nghiệm khác.
Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.
Cách chữa trị phụ thuộc (complementary treatment)
Bệnh nhân thường muốn hồi sức nhanh chóng, bệnh nhân bị ung thư thường
cho rằng các cách chữa trị phụ giúp họ dễ chịu hơn. Cách chữa trị phụ
thuộc này dùng chung với các cách chữa trị theo truyền thống y học Âu
Mỹ. Châm cứu, thoa bóp, dược thảo, sinh tố hoặc cách ăn uống đặc biệt
... là những cách chữa trị phụ.
Thảo luận với bác sĩ trước khi thử các cách chữa trị phụ. Những thứ có
vẻ an toàn như trà dược thảo có thể thay đổi tác dụng của thuốc men, và
sự thay đổi này có thể gây hiệu quả trầm trọng. Những cách chữa trị khác
có thể gây biến chứng cho bệnh nhân. Trước khi thử các cách chữa trị phụ
thuộc, bạn có thể hỏi bác sĩ:
-Cách chữa trị này hiệu quả như thế nào? Có những rủi ro gì?
-Lợi ích có hơn rủi ro không?
-Phản ứng phụ là những gì?
-Cách chữa trị này có thay đổi việc trị trị liệu đang diễn tiến không?
-Có thử nghiệm lâm sàng nào về cách chữa trị này không?
-Phí tổn là bao nhiêu? Bảo hiểm của tôi có trả không?
-Bác sĩ có thể giới thiệu cho tôi một phuong cách chữa trị phụ thuộc nào
không?
Những nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh
và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều
dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những
giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng
ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến
ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc
buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn.
Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân,
chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm:
Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu
hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng. Chuyên viên xã hội, chuyên
viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần.
Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ,
việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và
thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa
trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc
qua internet.
Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa
Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ và các
tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.
Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm
lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về
cách trị liệu hữu hiệu nhất.
Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống
lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương
pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu
hiệu quả hơn.
Thử nghiệm về cách ngừa bệnh
Việc nghiên cứu đang diễn tiến để tìm hiểu xem cách ăn uống đặc biệt nào
đó có thể giúp ngừa ung thư ruột già. Thí dụ như việc dùng sinh tố D và
calcium, selenium, và dược phẩm celecoxib trong bệnh nhân bị polyp.
Thử nghiệm về cách truy tìm và chẩn bệnh
Các chuyên gia đang thử nghiệm cách truy tìm mới để tìm kiếm polyp và
ung thư ruột già như phương thức virtual colonoscopy. Đây là một loại
CT scan ruột già, chụp hình bên trong ruột già.
Thử nghiệm về cách chữa trị
Các chuyên gia đang thử nghiệm các hóa chất và sinh hóa tố trị liệu. Họ
tìm hiểu kiếm các loại thuốc mới, các cách dùng chung nhiều loại thuốc,
và luọng thuốc mới. Ngoài ra các chuyên gia cũng tìm cách tiết giảm phản
ứng phụ của việc trị liệu.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm
lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials.
Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc
thử nghiệm lâm sàng về ung thư.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Bạn có thể lấy
tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn
ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm
sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương
trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu bạn cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact
form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact
hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng “gov”)
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí)
về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha. Bạn có thể
đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư
từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình. Thư từ gửi
về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và bạn (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và bạn (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu bạn bị ung thư (How
To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies:
Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic
Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward
Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward
Series: Ways You Can Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support for
People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân
họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and
Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research
Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc
(When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm sóc
(When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm dứt
(Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)
*NIH Publication No. 06-1552), May 2006
Ly-Le Tran, MD, JD, FCLM
Global Head, Life Cycle Optimization
Novartis Oncology
Novartis Pharmaceuticals Corporation
One Health Plaza, Bldg 105
East Hanover, NJ 07936-1080
USA
Phone: +1 862 7787182
Email : lyle.tran@novartis.com
TAGS: Ung thư ruột già và trực tràng (recto-colon
cancer), Nguy cơ ung thư ruột già và trực tràng (Risks of recto-colon
cancer), Tuổi (Age), Bướu (polyp), Tiểu sử gia đình (Family history),
di truyền (Hereditary), biến thái (Mutation), Viêm ruột già (ulcerative
colitis), Đồ ăn (Foods), Hút thuốc lá (Cigarette smoking), Triệu chứng
(Symptoms), Chẩn bệnh (Diagnosis), Điều trị (treatment), Ly Le
Tran
>>>back>>> |
 |