 |
Những
điều cần biết về Ung Thư Phổi (phần
1)
Bác sĩ Trần Lý Lê
Tài liệu của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer
Institute)
Phổi nằm trong lồng ngực, và là một phần của bộ máy hô
hấp. Không khí vào cơ thể qua mũi và miệng, đi qua khí quản (trachea).
Khí quản chia thành hai tiểu khí quản (bronchus) đưa không khí vào những
phế quản (brochioles), tiểu phế quản đưa không khí vào phế nang (alveoli),
đơn vị nhỏ nhất của phổi.
Khi hít hơi vào, phổi giãn nở; đây là cách cơ thể thu nhận dưỡng khí (oxygen).
Khi thở ra, khí thoát khỏi phổi; đây là cách cơ thể loại bỏ thán khí (carbon
dioxide).
Phổi là một loại mô xốp (sponge-like) gồm hai lá phổi, bên phải và bên
trái. Lá phổi phải có 3 thùy (lobes), lá phổi trái có hai thùy.
Một màng mỏng gồm 2 lớp (the pleura) bao bọc phổi và lót bên trong lồng
ngực. Giữa hai lớp màng pleura là một lượng chất lỏng rất nhỏ gọi là “pleural
fluid”. Bình thường, chất lỏng này không tích tụ.
Khi ta hít hơi vào, phổi nhận dưỡng khí (oxygen) cần thiết cho tế bào.
Khi ta thở ra, phổi thải ra thán khí (carbon dioxide) mà tế bào cần đào
thải.
Tế bào ung thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô, mô tạo thành bộ
phận. Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những
tế bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại,
chúng chết, và các tế bào mới thay thế.
Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất
hiện trong khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không
chết như đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối gọi
là "khối u", bướu hay "tumor“. Khối u (bướu) có thể "lành"
(benign) hoặc "độc" (malignant). Bướu lành thường không độc
hại như bướu độc.
Bướu phổi lành:
• Ít khi gây tử vong
• Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
• Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
• Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu phổi độc:
• Có thể gây tử vong
• Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
• Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
• Lan ra các bộ khác
Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên. Các tế
bào này theo mạch máu (blood vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel)
đến mọi bộ phận trong cơ thể. Tế bào ung thư có thể "bám" vào
các bộ phận và sinh sản, tạo nên một khối u mới, có thể gây hư hoại các
bộ phận này. Sư lan tràn của tế bào ung thư gọi là "metastasis".
Xem phần "định kỳ" (staging) về sự lan tràn của ung thư phổi.
Những yếu tố nguy hại (gia tăng nguy cơ
bị ung thư phổi hay "risk factors“)
Khoa học chưa thể giải thích rõ ràng tại sao một người
bị ung thư phổi mà những người khác không bị bệnh. Tuy nhiên ta đã biết
rằng người có nhiều yếu tố nguy hại có tỷ lệ bị chứng bệnh này cao hơn
những người khác. Yếu tố nguy hại gia tăng nguy cơ bị bệnh.
Thống kê ghi nhận những yếu tố nguy hại của ung thư phổi bao gồm:
• Hút thuốc lá:
Khói thuốc lá gây ung thư phổi. Đây là yếu tố nguy hại nhất của ung thư
phổi. Những hóa chất trong khói thuốc lá hủy hoại tế bào phổi. Vì thế,
việc hút thuốc lá, thuốc lào, ống điếu có thể gây ung thư phổi và ngửi
khói thuốc gây ung thư cho những người không hút thuốc (second hand smoke).
Càng hít thở nhiều khói thuốc, tỷ lệ ung thư phổi càng cao.
• Radon: là
một khí phóng xạ, không có mùi hoặc vị, gây hư hoại tế bào phổi. Radon
bốc lên từ đất và đá. Những người làm việc trong hầm mỏ thường hít thở
khí radon. Khí radon có thể tìm thấy trong nhà tại một số địa phương.
Những người hít thở khí radon có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn, và những
người hút thuốc lá hít thở radon có tỷ lệ ung thư phổi cao hơn nữa so
với những người không bị nhiễm radon.
• Asbestos và một số hóa chất:
asbestos là khoáng chất trong thiên nhiên dưới dạng sợi, nhỏ như tơ (fiber).
Asbestos có thể vỡ ra từng mảnh nhỏ, bay trong không khí, bám vào quần
áo. Những mảnh asbestos này có thể làm nghẽn và gây hư hại phế nang. Nhiễm
asbestos, arsenic, chromium, nickel, soot, hắc ín và một số hóa chất khác
là những yếu tố nguy hại, gia tăng tỷ lệ ung thư phổi. Tỷ lệ ung thư cao
hơn nữa với những người hút thuốc lá.
• Ô nhiễm không khí: Trong
môi sinh bị ô nhiễm bởi khói xăng, fossil fuels (khí than hay khí đá),
tỷ lệ ung thư phổi cũng gia tăng. Sinh sống trong những nơi có khói thuốc
(involunteer or passive smoking) càng gia tăng tỷ lệ ung thư phổi.
• Có thân nhân
(cha, mẹ, anh, chị, em) bị ung thư phổi
. Bị ung thư phổi sẽ gia tăng tỷ lệ ung thư lần thứ nhì, với một loại
ung thư phổi khác.
• Tuổi tác: Tuổi
tác (65+) gia tăng tỷ lệ ung thư phổi.
Các chuyên gia tiếp tục tìm hiểu các yếu tố nguy hại khác. Thống kê cho
thấy chứng lao phổi (tuberculosis) và viêm khí quản (bronchitis) gia tăng
nguy cơ bị ung thư phổi, lý do tại sao thì ta chưa rõ.
Những người nghi rằng mình có thể bị ung thư phổi nên thảo luận với bác
sĩ. Bác sĩ có thể đặt chương trình truy tìm dấu vết ung thư định kỳ, thảo
luận cách giảm yếu tố nguy hại gây ung thư. Nhưng người đã bị ung thư
phổi, việc khám bệnh định kỳ sau khi chữa trị là việc quan trọng. Ung
thư phổi có thể tái phát hoặc một loại ung thư phổi khác có thể xuất hiện.
Làm thế nào để ngưng hút thuốc?
Ngưng hút thuốc là việc cần thiết cho những người hút
thuốc, ngay cả những người hút thuốc nhiều năm. Những người đã bị ung
thư, ngưng hút thuốc có thể giảm nguy cơ bị những chứng ung thư khác.
Ngưng hút thuốc cũng giúp việc chữa trị có hiệu quả hơn.
Có nhiều cách để được giúp đỡ:
• Hỏi bác sĩ về loại thuốc giúp cai thuốc lá hoặc
nicotine như loại cao dán, kẹo cao su, thuốc ngậm, thuốc hít qua màng
mũi. Bác sĩ có thể giới thiệu những cách chữa trị chứng nghiện thuốc lá.
• Hỏi bác sĩ về những chương trình cai thuốc lá tại địa phương hoặc những
chuyên viên chữa trị các chứng nghiện.
• Gọi điện thoại cho viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ tại 1- 877-44U-QUIT;
các nhân viên sẽ thảo luận với quý vị về a) cách ngưng hút thuốc; b) những
nhóm hỗ trợ giúp người hút thuốc ngưng hút; c) tài liệu về ngưng hút thuốc;
d) tham dự cuộc thử nghiệm lâm sàng tìm kiếm cách ngưng hút thuốc hiệu
quả nhất.
• Đến thăm trang nhà của chính phủ liên bang: h*tp://www.smokefree.gov
; tại đây có những tài liệu về việc ngưng hút thuốc và giới thiệu các
nơi tán trợ khác.
Truy tìm
Những phương cách thí nghiệm giúp bác sĩ tìm kiếm và chữa
trị ung thư sớm hơn. Những phương cách truy tìm rất hiệu quả trong việc
khám phá ung thư vú, ung thư tử cung. Hiện nay chưa có phương cách hiệu
quả nào để khám phá ung thư phổi. Nhiều phương cách truy tìm đang được
thử nghiệm xem mức hiệu quả đến đâu, bao gồm thử đờm (sputum), chụp quang
tuyến phổi hoặc dùng spiral CT scan.
Tuy nhiên việc truy tìm mang lại một số trở ngại. Chẳng hạn như một hình
quang tuyến phổi bất thường (sẽ dẫn đến một cuộc giải phẫu để tìm kiếm
ung thư), nhưng người có tấm quang tuyến bất thường chưa hẳn đã bị ung
thư. Thống kê cho thấy là những loại thử nghiệm kể trên dẫn đến việc giảm
số tử vong vì ung thư phổi.
Quý vị có thể thảo luận với bác sĩ của mình về các yếu tố nguy hại, những
cái lợi, hại liên quan đến việc truy tìm ung thư phổi. Như tất cả mọi
quyết định y tế, quyết định thử nghiệm ung thư cũng là một quyết định
có tính cách cá nhân, dựa trên việc cân nhắc các yếu tố kể trên.
Triệu chứng
• Ho dai dẳng, hoặc ho mỗi ngày một nặng
• Đau ở ngực triền miên
• Ho ra máu
• Hụt hơi, khó thở hoặc khản tiếng
• Bị nhiễm trùng đường hô hấp nhiều lần
• Bị sưng phù ở mặt và cổ
• Biếng ăn, xuống cân
• Mất sức, mệt mỏi
Những triệu chứng này gây ra bởi nhiều chứng bệnh kể cả ung thư, cần đi
khám bệnh để tìm nguyên nhân càng sớm càng tốt.
Chẩn bệnh
Nếu quý vị có triệu chứng khiến ta nghi ngại ung thư,
bác sĩ cần tìm kiếm xem các triệu chứng này đến từ ung thư hoặc từ những
nguyên nhân khác. Bác sĩ có thể hỏi chi tiết về bệnh sử của chính quý
vị và bệnh sử của thân nhân, dùng những phương cách thử nghiệm khác như:
• Khám tổng quát: bác sĩ nghe tiếng thở, tìm dấu vết của chứng “nước trong
phổi”, tìm kiếm xem hạch bạch huyết, gan có sưng hay không
• Chụp quang tuyến phổi: Hình quang tuyến có thể cho thấy bướu hoặc nước
trong phổi.
• CT scan: chụp hình chi tiết các bộ phận trong cơ thể, “spiral CT” quay
chung quanh bệnh nhân và chụp hình. Những tấm hình này có thể cho thấy
khối u, nước hoặc hạch bạch huyết sưng to.
Tìm kiếm tế bào ung thư
Việc chẩn đoán chính xác nhất khi
tế bào được kiểm nghiệm bởi bác sĩ chuyên môn khảo sát bệnh lý, pathologist,
qua kính hiển vi.
Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều cách sau để lấy
mẫu tế bào:
• Thử đờm
• Thoracentesis: Bác sĩ dùng một kim nhỏ đâm xuyên
qua lồng ngực lấy một ít chất lỏng đọng quanh phổi để thử nghiệm
• Bronchoscopy: Bác sĩ dùng một ống nhỏ, mềm, đầu
ống có đèn truyền qua miệng hoặc mũi, qua khí quản, tiểu khí quản, phế
quản, đến phế nang để lấy tế bào hoặc một mảnh phổi để thử nghiệm.
• Needle aspiration: Bác sĩ dùng một kim đâm xuyên qua
lồng ngực để lấy một mảnh phổi hoặc một mảnh hạch bạch huyết để thử nghiệm
• Thoracoscopy: Bác sĩ giải phẫu cắt nhiều đường ngắn tại
ngực và lưng, chuyển qua lỗ hổng dụng cụ nội soi để quan sát phổi và những
bộ phận lân cận. Khi thấy cấu trúc bất thường, bác sĩ sẽ trích mô, lấy
ra một mảnh mô để thử nghiệm.
• Thoracotomy: Bác sĩ giải phẩu mổ lồng ngực để lấy ra
một mành phổi, một mảnh hạch bạch huyết để thử nghiệm.
• Mediastiscopy: Bác sĩ giải phẫu mở một lỗ hổng tại lồng
ngực, chuyển dụng cụ nội soi để quan sát lồng ngực và có thể trích mô
các cấu trúc bất thường.
Quý vị có thể đặt những câu hỏi
sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh thiết):
• Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
• Tôi có phải ở lại bệnh viên không? Nếu có, thì bao nhiêu lâu?
• Tôi có phải làm gì để sửa soạn không?
• Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh
thiết? Có đau đớn lắm không?
• Làm sinh thiết có rủi ro không? Phổi có bị ảnh hưởng gì không? Tôi có
bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
• Bao nhiêu lâu thì tôi sẽ hồi phục?
• Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho
tôi hiểu?
• Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước
sắp tới? Và bao giờ?
Những loại ung thư phổi
Bác sĩ bệnh lý kiểm nghiệm đờm, nước trong bọc phổi, mẫu
tế bào để tìm kiếm ung thư. Nếu có dấu hiệu của ung thư, bác sĩ này sẽ
báo cáo về loại ung thư. Ung thư được chữa trị tùy theo loại. Những loại
ung thư phổi được đặt tên theo hình dạng dưới kính hiển vi:
Ung thư phổi có hai loại chính, non small cell lung cancer, NSLC (tế bào
phổi lớn) và small cell lung cancer, SLC (tế bào phổi nhỏ), tùy theo hình
dạng của tế bào dưới kính hiển vi. Mỗi loại ung thư sinh sôi, lan tràn
khác biệt nhau và cách chữa do đó cũng khác nhau.
• Small cell lung cancer: khoảng 13% ung thưphổi là loại ung
thưnày, sinh sôi nhanh và thường lan ra những bộ phận khác trong cơ thể.
• Nonsmall cell lung cancer 87%: Thường thấy hơn là loại small
cell lung cancer, sinh sôi và lan tràn chậm hơn. Có ba loại NSCL, tên
đặt dựa theo tế bào nơi ung thư khởi thủy: Squamous cell carcinoma (còn
gọi là epidermoid carcinoma), adenocarcinoma và large cell carcinoma.
Định kỳ
Để hoạch định chương trình chữa trị thích hợp, bác sĩ
cần định thời kỳ của ung thư, xem ung thư đã lan chưa; nếu có, đã lan
tới bộ phận nào trong cơ thể trước khi chữa trị. Ung thư phổi thường lan
đến hạch bạch huyết, não bộ, xương, gan và tuyến thượng thận.
Khi ung thư lan từ nơi khởi đầu đến các bộ phận khác, khối u mới có cùng
một loại tế bào ung thư, và có cùng tên như khối u khởi thủy. Thí dụ,
khi ung thư phổi lan đến gan, tế bào ung thư tại gan lúc này là những
tế bào ung thư phổi. Chứng bệnh được gọi là "ung thư phổi lan đến
gan“ hay "metastatic disease“ (không gọi là "ung thư gan“).
Vì vậy, được chữa trị như ung thư phổi.
Bác sĩ có thể dùng những cách sau để định kỳ ung thư:
• CT scan: Tìm
dấu vết ung thư tại gan, tuyến thượng thận, não bộ hoặc những bộ phận
khác. Bệnh nhận uống hoặc được chích một chất lỏng chứa "thuốc nhuộm“
(contrast). Thuốc nhuộm giúp hình ảnh rõ ràng hơn. Khi thấy khối u, bác
sĩ có thể sẽ cần trích mô.
• Bone scan: Dùng
để tìm dấu vết ung thư tại xương. Bệnh nhân được chích một lượng phóng
xạ vào tĩnh mạch, hóa chất này luân lưu khắp cơ thể và tích tụ tại xương.
Dụng cụ dò tìm chất phóng xạ "đọc“ và đo lượng phóng xạ tại những
vùng xương bị ung thư.
• MRI: Tìm
dấu vết ung thư tại não bộ, xương, và những nơi khác.
• PET scan: Bệnh
nhân được chích một dung dịch phóng xạ chứa đường, hóa chất này luân lưu
khắp cơ thể. Dụng cụ "dò“ lượng phóng xạ tích tụ tại những u bướu
mới. Tế bào ung thư biến dưỡng nhiều đường hơn so với tế bào bình thường.
Do đó hình ảnh sẽ rõ ràng hơn, "sáng“ hơn tại những mô đang tăng
trưởng như ung thư.
Định kỳ “Small Cell Lung Cancer“ (SCLC):
Bác sĩ xếp loại SCLC thành hai thời kỳ:
• Thời kỳ giới hạn (limited stage): Ung thư tìm thấy tại 1 lá phổi và
nhưng mô lân cận
• Thời kỳ lan tràn (extensive disease): Ung thư tìm thấy trong lồng ngực
bên ngoài lá phổi nơi ung thư khởi đầu, hoặc ung thư tìm thấy ở những
bộ phận khác.
Cách chữa trị tùy thuộc vào thời kỳ của ung thư.
Định kỳ “Non-Small Cell Lung Cancer” (NSCLC):
Bác sĩ xếp loại NSCLC theo kích thước của khối u và sự lan tràn
đến hạch bạch huyết hoặc các bộ phận khác.
• Thời kỳ “thầm lặng” (occult stage): Tế
bào ung thư phổi xuất hiện trong đờm hoặc trong chất lỏng tại phổi, nhưng
chưa thấy khối u.
• Thời kỳ “sơ khởi” (stage 0): Tế bào ung
thư tìm thấy tại màng lót của phổi, chưa đi qua lớp màng này, thời kỳ
này còn có tên là “carcinoma in situ”. Khối u chưa ăn sâu (non-invasive).
• Thời kỳ IA: Khối u ăn sâu, qua màng lót
và vào phế nang. Khối u có kích thước 3 cm chiều dài; các mô lân cận còn
bình thường và khối u chưa ăn lậm đến tiểu khí quản. Tế bào ung thư chưa
lan đến hạch bạch huyết lân cận.
• Thời kỳ IB: Khối u lớn hơn hoặc sâu hơn,
nhưng chưa lan đến hạch bạch huyết lân cận. Khối u có một trong những
đặc tính sau đây:
- lớn hơn 3 cm chiều dài
- đã lan đến khí quản
- đã ăn sâu qua lớp màng bọc phổi
• Thời kỳ IIA: Khối u có kích thước 3 cm
chiều dài hoặc nhỏ hơn, tế bào ung thư đã lan đến hạch bạch huyết lân
cận.
• Thời kỳ IIB: Khối u có một trong những
đặc tính sau:
- Ung thư chưa lan đến hạch bạch huyết lân cận nhưng đã ăn sâu vào lồng
ngực, hoành cách mô, màng bọc, tiểu khí quản, hoặc các mô bao bọc tim
- Ung thư đã lan đến hạch bạch huyết lân cận, và có một trong những đặc
tính sau đây:
- lớn hơn 3 cm chiều dài
- đã lan đến khí quản
- đã ăn sâu qua lớp màng bọc phổi
• Thời kỳ IIIA: Khối u bất kể kích thước.
Ung thư lan đến hạch bạch huyết lân cận, và các hạch bạch huyết giữa hai
lá phổi nhưng ở cùng bên trong lồng ngực.
• Thời Kỳ IIIB: Khối u bất kể kích thước.
Ung thư lan đến phần lồng ngực đối diện hoặc lên cổ. Ung thư cũng có thể
lan đến tim, thực quản, hoặc khí quản.
• Thời kỳ IV: Khối u xuất hiện tại nhiều
nơi trong một lá phổi, hoặc cả hai lá phổi, hoặc đã lan khắp nơi trong
cơ thể như não bộ, tuyến thượng thận, gan hoặc xương.
Chữa trị:
Bác sĩ có thể chuyển bệnh đến bác sĩ chuyên
môn về ung thư phổi, hoặc quý vị có thể yêu cầu bác sĩ chuyển bệnh. Quý
vị có thể được một nhóm chuyên viên cùng tham dự việc chữa trị. Những
chuyên viên về ung thư phổi gồm có bác sĩ giải phẫu lồng ngực (chest surgeon),
bác sĩ giải phẫu ung thư lồng ngực (thoracic surgical oncologist), bác
sĩ chuyên trị ung thư (medical oncologist), và bác sĩ chuyên về xạ trị
ung thư (radiation oncologist). Những chuyên viên phụ giúp có thể bao
gồm bác sĩ chuyên về phổi (pulmonologist), respiratory therapist, y tá
chuyên về ung thư, và một chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietician).
Ung thư phổi khó chữa trị. Vì vậy, bác sĩ thường khuyến khích bệnh nhân
tham dự một cuộc thử nghiệm lâm sàng. Đây là một cách chữa trị quan trọng
cho bệnh nhân bị ung thư phổi trong mọi thời kỳ.
Cách chữa trị tùy thuộc vào loại ung thư và thời kỳ của ung thư cũng như
sức khoẻ toàn diện của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể chịu giải phẫu, dùng
hóa chất, xạ trị, “targeted therapy” hoặc dùng nhiều cách cùng lúc.
Những người bị ung thư phổi loại SMLC trong thời kỳ “giới hạn” thường
được chữa bằng xạ trị và hóa chất. Khi khối u nhỏ, bệnh nhân có thể chịu
giải phẫu và dùng hóa chất. Những bệnh nhân trong thời kỳ ung thư lan
tràn thường chỉ dùng hóa chất.
Những người bị ung thư phổi loại NSMLC có thể chịu giải phẫu, hóa chất,
xạ trị, hoặc nhiều cách cùng lúc. Cách chữa trị khác nhau tùy theo thời
kỳ ung thư. Một số bệnh nhân trong thời kỳ sau cùng được chữa trị bằng
“tartgeted therapy”.
Việc chữa trị được xếp loại theo “tại chỗ” (local therapy) hoặc “toàn
diện” (systemic therapy).
Chữa trị tại chỗ:
Giải phẫu và xạ trị là hai loại chữa trị “tại chỗ”. Khôi u bị cắt bỏ hoặc
hủy diệt trong lồng ngực. Khi ung thư lan đến những bộ phận khác, vẫn
có thể chữa trị tại những vị trị lựa chọn. Thí dụ, khi ung thư lan đến
não bộ, bác sĩ có thể dùng xạ trị tại đầu.
Chữa trị toàn diện:
Hóa chất và “targeted therapy” là những cách chữa trị toàn diện. Dược
liệu vào máu, luân lưu khắp cơ thể, hủy diệt tế bào ung thư khắp nơi.
Bác sĩ có thể mô tả những cách trị liệu, và kết quả. Quý vị có thể muốn
biết về phản ứng phụ, và cách trị liệu sẽ ảnh hưởng đến đời sống hằng
ngày như thế nào. Trị liệu ung thư thường gây hư hoại cả những tế bào
lành mạnh, và thường gây phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào phương
cách và mức độ chữa trị. Phản ứng phụ có thể không đồng nhất trong mọi
bệnh nhân, và có thể thay đổi trong khi chữa trị. Trước khi bắt đầu, bác
sĩ sẽ giải thích về phản ứng phụ và chỉ dẫn cách làm giảm ảnh hưởng của
chúng.
Bệnh nhân và bác sĩ có thể thảo luận để lựa chọn cách chữa trị thích hợp
nhất. Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị nên
đặt câu hỏi với bác sĩ để được giải thích tường tận:
• Tôi bị ung thư ở thời kỳ nào? Ung thư đã lan ra bên ngoài phổi hay chưa?
Nếu có, đã lan đến đâu?
• Có những cách chữa trị nào cho căn bệnh của tôi? Bac sĩ nghĩ rằng cách
trị liệu nào thích hợp nhất? Lý do?
• Tôi có được chữa trị bằng nhiều phương cách hay không?
• Lợi ích của mỗi cách chữa trị này là những gì?
• Phản ứng phụ và những rủi ro của mỗi cách chữa trị này bao gồm những
gì? Ta có thể giảm thiểu phản ứng phụ hay không?
• Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
• Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
• Việc chữa trị có tốn kém lắm không? Bảo hiểm của tôi có trang trải những
phí tổn này không?
• Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho tôi không?
• Sau khi trị liệu, tôi có phải khám bệnh đình kỳ thường xuyên không?
Giải phẫu
Cuộc giải phẫu được thực hiện để cắt bỏ phần ung thư.
Bác sĩ giải phẫu có thể cắt bỏ cả các hạch bạch huyết lân cận.
Bác sĩ cắt bỏ một phần hay cả lá phổi:
• Bác sĩ cắt bỏ khối u và một phần nhỏ của phổi
• Bác sĩ cắt bỏ thùy phổi gọi là segmental hoặc wedge resection hoặc sleeve
lobectomy: Đây là cách giải phẫu thường thấy nhất.
• Bác sĩ cắt bỏ nguyên lá phổi gọi là pneumonectomy.
Sau khi giải phẫu, không khí và chất lỏng tích tụ trong lồng ngực. Một
ống được đặt lồng ngực để tháo chất lỏng. Y tá hoặc respiratory therapist
chỉ dẫn cách ho, cách thở để chóng phục hồi. Bệnh nhân cần tập cách thở
nhiều lần trong ngày.
Thời gian hồi phục không đồng nhất cho mọi người. Hầu hết bệnh nhân ở
lại bệnh viện khoảng 1 tuần lễ hoặc lâu hơn. Bệnh nhân cần nhiều tuần
lễ hồi phục trước khi trở lại mức sinh hoạt bình thường.
Thuốc men có thể giảm đau sau khi giải phẫu. Trước khi mổ, bệnh nhân nên
thảo luận với bác sĩ, y tá về thuốc giảm đau. Sau khi mổ, bác sĩ có thể
gia giảm lượng thuốc giảm đau khi cần thiết.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác
sĩ trước khi giải phẫu:
• Cách giải phẫu nào bác sĩ sẽ thực hiện cho tôi?
• Tôi sẽ ra sao sau khi mổ?
• Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
• Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
• Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không?
• Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
Xạ trị
Chất phóng xạ, tia phóng xạ được dùng để hủy diệt tế bào ung thư ngay
tại khối u.
Bác sĩ có thể dùng “ngoại xạ trị” (external radiation). Đây là loại xạ
trị thông dụng cho ung thư phổi. Tia phóng xạ đến từ một bộ máy phát xạ
bên ngoài cơ thể. Bệnh nhân được chữa trị tại bệnh viện hoặc trung tâm
Y tế. Chương trình trị liệu thường kéo dài 5 ngày mỗi tuần trong nhiều
tuần lễ
Loại xạ trị khác có tên là “nội xạ trị” (internal radiation hoặc brachytherapy).
Loại xạ trị này hiếm khi dùng để chữa trị ung thư phổi. Nguồn phóng xạ
được đặt trong cơ thể dưới dạng “viên”, ống, hoặc vật chứa.
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại xạ trị, mức lượng, và phần thân thể cần
chữa trị. Ngoại xạ trị tại ngực có thể gây hư hoại thực quản ảnh hưởng
đến việc nuốt thức ăn, uống. Bệnh nhân thường mất sức, mệt mỏi. Vùng da
nơi tia phóng xạ đi vào cơ thể bị sưng tấy, đau rát. Sau cuộc nội xạ trị,
bệnh nhân có thể ho ra máu.
Bác sĩ có thể chỉ dẫn cách giảm bớt phảm ứng phụ kể trên.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác
sĩ trước khi bắt đầu cuộc xạ trị:
• Tại sao tôi cần loại chữa trị này?
• Bác sĩ chọn loại xạ trị nào cho tôi?
• Khi nào thì viec chữa trị bắt đầu? Khi nào thì xong?
• Tôi sẽ bị ảnh hưởng ra sao?
• Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả hay không?
• Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Hóa chất
Hoá chất là những dược phẩm diệt tế bào ung thư. Thuốc
vào máu, luân lưu khắp cơ thể và ảnh hưởng đến tế bào ung thư ở mọi nơi
trong cơ thể.
Thông thường, bác sĩ dùng nhiều lọai thuốc khác nhau, thuốc được truyền
qua tĩnh mạch. Một vài loại dược phẩm có thể được uống.
Hóa chất được dùng theo chu kỳ trị liệu. Giữa 2 lần trị liệu là một thời
gian “nghỉ ngơi” để phục hồi. Thời gian phục hồi và số chu kỳ (lần) chữa
trị tùy thuộc vào loại dược phẩm sử dụng. Bệnh nhân có thể được chữa trị
tại trung tâm Y tế, tại văn phòng bác sĩ, hoặc tại nhà. Đôi khi, bệnh
nhân cần được chữa trị tại bệnh viện.
Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và lượng thuốc sử dụng. Hóa chất
tiêu diệt tế bào ung thư nên sẽ ảnh hưởng đến những tế bào tăng trưởng
nhanh chóng như:
• Tế bào máu: Khi
hóa chất chữa ung thư hạ thấp số tế bào máu khỏ mạnh, bệnh nhân dễ bị
nhiễm trùng, bầm tím hoặc chảy máu dễ dàng, và mệt mỏi, mất sức. Bác sĩ
cần thử máu để đo lường số tế bào máu. Khi lượng tế bào xuống thấp, bác
sĩ có thể dùng thuốc kích thích tủy xương chế tạo tế bào mới nhanh chóng
hơn.
• Tế bào bọc quanh chân tóc:
Hóa chất gây rụng tóc. Tóc sẽ mọc trở lại sau khi chữa trị, tóc mới có
thể khác màu hoặc thay đổi thể dạng (texture).
• Tế bào lót các bộ phận tiêu hóa:
Háo chất có thể gây kém ăn, buồn nôn và ói mửa, tiêu chảy, lở miệng. Bác
sĩ và y tá có thể chỉ dẫn những cách giảm thiểu phản ứng phụ.
Một số hóa chất gây ù tai, giảm thính giác, đau khớp xương, và cảm giác
kim châm hoặc tê dại ngón tay, ngón chân. Những phản ứng phụ này thường
sẽ biến mất sau khi chữa trị.
Khi xạ trị và hóa chất được dùng cùng lúc, phản ứng phụ sẽ nặng nề hơn.
Targeted therapy: Đây là loại thuốc dùng để ức chế sự
tăng trưởng và lan tràn của tế bào ung thư . Thuốc vào máu, luân lưu khắp
cơ thể và ảnh hưởng đến tế bào ung thư tại mọi nơi. Một số bệnh nhân bị
NSCLC trong thời kỳ cuối được chữa trị bằng loại thuốc này.
Có hai loại targeted therapy dành cho ung thư phổi:
• Loại thuốc chích, truyền qua tĩnh mạch, được dùng tại văn phòng bác
sĩ, bệnh viện, hoặc trung tâm y tế; dùng chung với hóa chất. Phản ứng
phụ có thể bao gồm xuất huyết, ho ra máu, nổi mề đay, cao huyết áp, đau
bụng, ói mửa hoặc tiêu chảy.
• Loại thuốc uống, không dùng chung với hóa chất. Phản ứng phụ có thể
bao gồm nổi mề đay, tiêu chảy, ngộp thở.
Trong khi chữa trị, bệnh nhân được theo dõi kỹ lưỡng. Phản ứng phụ thường
chấm dứt sau khi chữa trị.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác
sĩ trước khi bắt đầu chữa trị hóa chất:
• Tôi sẽ được chữa trị bằng những thứ thuốc nào?
• Khi nào thì bắt đầu? Khi nào thì xong? Bao nhiều lần chữa trị?
• Tôi sẽ được chữa trị tại đâu?
• Tôi cần làm gì để tự chăm sòc trong khi chữa trị?
• Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
• Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào? Có cách nào phòng
ngừa không?
• Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham
khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng
bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu
Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm
và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không
ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể
thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình. Đôi khi, ung thư phổi
cần được chữa trị ngay, chẳng hạn như chứng SCLC, bệnh nhân cần được chữa
trị trong vòng 1-2 tuần lễ, không nên chờ đợi lâu.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình,
hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa…
để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Chữa trị để dễ chịu hơn (comfort care)
Ung thư phổi và các trị liệu có thể gây phản ứng phụ hoặc
biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe. Bệnh nhân cần các trị liệu khác để
ngăn ngừa hoặc giúp chịu đựng các phản ứng phụ cũng như biến chứng.
Việc chữa trị để dễ chịu hơn có thể dùng trong khi hoặc sau các cuộc trị
liệu chính:
• Đau đớn:
bác sĩ có thể dùng thuốc men để giảm đau hoặc bác sĩ chuyên khoa chữa
trị đau đớn (pain specialist) có thể dùng các cách trị liệu để giảm đau.
• Ngộp thở hoặc khó thở:
Ung thư phổi thương gây ngộp thở. Bệnh nhân có thể được gửi đến các chuyên
viên như bác sĩ chuyên về phổi hoặc repiratory therapist. Một số bệnh
nhân dễ chịu hơn khi dùng thêm dưỡng khí (oxygen therapy), ánh sáng (photodynamic
therapy), laser, cryotherapy (làm đông lạnh và hủy diệt tế bào ung thư),
hoặc stent.
• Nước đọng tại phổi: Ung
thư trong giai đoạn sau cùng thương gây nước đọng tại phổi hoặc quanh
phổi gây ngộp thở. Bác sĩ có thể rút nước từ phổi giúp bệnh nhân dễ thở
hơn; đôi khi có thể dùng cách “đốt” để ngăn ngừa nước tích tụ. Bệnh nhân
có thể cần được đặt ống tháo nước (chest tube).
• Nhiễm trùng phổi được
chẩn đoán bằng chụp hình quang tuyến và chữa trị bằng thuốc kháng sinh.
• Ung thư lan đến não bộ
gây ra các triệu chứng như nhức đầu, kinh phong, mắt thăng bằng khi đi
đứng. Bác sĩ có thể dùng thuốc men để làm giảm sưng trướng, xạ trị hoặc
giải phẫu đôi khi giúp bệnh nhân dễ chịu hơn. Bệnh nhân bị SCLC có thể
được chữa trị bằng xạ trị để ngăn ngừa ung thư lan đến não bộ (prophylactic
cranial radiation).
• Ung thư lan đến xương: gây
đau đớn và có thể gãy xương. Bác sĩ có thể dùng thuốc men hoặc xạ trị
để giảm đau, và dùng thuốc để ngăn ngừa gãy xương.
• Đau buồn:
Lo âu, buồn rầu, tâm trí bất thường là những cảm tính bình thường khi
bị bệnh nan y. Bệnh nhân có thể bớt đau khổ khi có cơ hội nói về nỗi lo
âu, bất an của mình.
Dinh dưỡng
Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để duy trì sức khỏe là
điều quan trọng. Bệnh nhân cần duy trì trọng lương, cần có đủ lượng chất
đạm để nuôi dưỡng các hoạt động của cơ thể. Đôi khi sau những lần chữa
trị, bệnh nhân bị mất sức, mệt mỏi và biếng ăn. Thực phẩm không còn sức
hấp dẫn, và những vết lở trong miệng gây khó khăn cho việc nhai nuốt…
Những yếu tố này khiến bệnh nhân bỏ ăn uống. Các chuyên viên về dinh dưỡng
có thể chỉ dẫn những món thức ăn có nhiều calorie, nhiều chất đạm… để
giúp bệnh nhân chóng hồi phục.
Thăm bệnh định kỳ
Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định
kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm
bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể. Khám bệnh định kỳ
giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng, các loại thử
nghiệm như thử máu, chụp hình phổi, CT scan, và nội soi phổi có thể được
sử dụng khi tái khám.
Nói cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.
Những nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư phổi có thể thay đổi cuộc
sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi
và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân
yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng
ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến
ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Hầu như mọi người bị ung thư phổi là những người đã hút thuốc, nên bệnh
nhân thường cho rằng những chuyên viên chăm sóc mang cảm tưởng là người
bệnh đã gây ung thư cho chính mình; cảm tưởng bị “buộc tội”. Sống với
căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn
rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh
nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân, chuyên
viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm:
• Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị
liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.
• Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo
có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc
chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
• Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác
và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc
chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại,
hoặc qua internet.
• Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ
Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ và
các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.
Sự hứa hẹn của ngành khảo
cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều
cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục
đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất. Những
tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn,
và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp
ngăn ngừa ung thư phổi, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu
hiệu quả hơn.
• Ngăn ngừa: Viện
Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ bảo trợnhung cuộc khảo cứu tìm hiểu tính hiệu
quả của các hóa chất có thể ngăn ngừa chứng ung thư phổi. Chẳng hạn như
bệnh nhân bị NSCLC trong giai đoạn đầu tiên đang dùng selenium xem chất
này có giúp ngăn ngừa sự xuất hiện của khối u mới hay không.
• Truy tìm: Bác
sĩ đang tìm hiểu xem các loại thử nghiệm mới có thể tìm ra ung thư phổi
sớm và giảm thiểu nguy cơ tử vong từ chứng bệnh này.
• Trị liệu: Chuyên
gia đang tìm hiểu những cách chữa trị mới, và tìm hiểu việc dùng nhiều
cách chữa trị chung với nhau.
• Giải phẫu:
Các bác sĩ giải phẫu đang tìm hiểu việc cắt bỏ tối thiểu các mô phổi và
dùng nội xạ trị (brachytherapy) để hủy diệt các tế bào ung thư phổi còn
sót lại; chưa biết cách trị liệu này có hiệu quả hơn không so với việc
cắt bỏ một khối u lớn.
• Hóa chất:
Các chuyên gia đang thử những loại dược phẩm mới, và thử dùng nhiều loại
dược phẩm chung với nhau. Họ cũng đang thử dùng hóa chất chung với xạ
trị xem việc trị liệu có hiệu quả hơn không.
• Targeted therapy:
Bác sĩ đang thử việc chung “targeted therapy” với hóa chất và xạ trị.
• Xạ trị: Chuyên
gia đang tìm hiểu hiệu quả của việc dùng xạ trị tại não bộ với mục đích
ngăn ngừa ung thư phổi, loại NSCLC lan đến não bộ.
Nếu quý vị muốn tham gia cuộc thử nghiệm lâm sàng, hãy nói chuyện với
bác sĩ của mình. Những người tình nguyện tham dự các cuộc khảo cứu này
đã đóng góp rất nhiều cho nhân loại trong việc tìm hiểu chứng ung thư
phổi và cách chữa trị hiệu quả hơn. Thử nghiệm lâm sàng có thể mang lại
ít nhiều rủi ro, chuyên gia khảo cứu tận lực để bảo vệ bệnh nhân trong
các cuộc khảo cứu này.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm
lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials.
Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc
thử nghiệm lâm sàng về ung thư phổi.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể
lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn
ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm
sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương
trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online
contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact
hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng
“gov”)
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ
cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này
bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng
hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình.
Thư từ gửi về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và bạn (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và bạn (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu bạn bị ung thư (How
To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies:
Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic
Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping with Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward
Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward
Series: Ways You Can Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support for
People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân
họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and
Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research
Studies)
- Những cách trị liệu bên ngoài Y học "Chính thống" (phổ thông)
(Complementary Medicine):
Dự định dùng Y học Bổ Sung &
Hoán Đổi: tài liệu chỉ dẫn cho những bệnh nhân ung
thư (Thinking about Complementary & Alternative Medicine: A guide
for people with cancer)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
- Ngửi khói thuốc lá (từ người khác): Câu hỏi và câu trả lời (Secondhand
Smoke: Questions and Answers)
- Radon và ung thư (Radon and Cancer: Questions and Answers)
- Ngưng hút thuốc (Quitting Smoking)
- Làm sạch không khí: Ngưng hút thuốc hôm nay (Clearing the Air: Quit
Smoking Today)
- Bạn có thể ngưng hút thuốc (You Can Quit Smoking)
- Ngưng hút thuốc: Tại sao và làm thế nào để được giúp đỡ (Quitting Smoking:
Why to Quit and How to Get Help)
- Sự thật về loại thuốc lá "nhẹ" (The Truth About "Light"
Cigarettes)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư:
hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer:
Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối:
hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support
for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư
của người thân chấm dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed
Cancer Treatment)
*What you need to know about lung cancer, NCI, July 2007. NIH-Tài
liệu 07-1553
Bs Trần Lý Lê, Chuyên Khoa Nội Thương và Ung Thư
>>>back>>> |
 |