 |
Những Điều
Cần Biết Về Ung Thư (phần 1)
Bác sĩ Trần Lý Lê
Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ - Ấn bản tháng
Mười, 2006
A. Ung thư là gì?
Ung thư là tên gọi chung của các bệnh tật
từ tế bào - đơn vị căn bản của sự sống - mà ra. Muốn hiểu về ung thư,
ta cần biết tại sao tế bào bình thường, khoẻ mạnh lại trở nên ung hoại.
Cơ thể con người được cấu tạo bởi nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có một hoặc
nhiều loại tế bào. Thông thường, tế bào chỉ sinh sôi nảy nở khi cần thiết.
Tế bào khi già lão sẽ chết, và được thay thế bởi những tế bào mới. Sự
sinh sản có trật tự này giúp cơ thể duy trì sức khoẻ. Tuy nhiên, đôi khi
sự sinh sản trật tự này bị đảo lộn, tế bào cứ tiếp tục sinh sôi mặc dù
cơ thể không cần đến; những tế bào thừa thãi này gom lại thành một khối
mô, gọi là bướu hay u.
Bướu có thể lành hoặc độc:
a) Bướu lành (lành tính):
- Bướu lành không phải là ung thư, không gây tử vong
- Nói chung, bướu lành có thể được cắt bỏ, và thường không tái sinh.
- Những tế bào trong bướu lành không ăn lậm đến các mô lân cận
- Những tế bào trong bướu lành không lan ra những bộ phận khác trong cơ
thể.
b) Bướu độc (ác tính): Bướu
độc cũng được gọi là ung thư.
- Bướu độc có thể gây tử vong.
- Bướu độc thường được cắt bỏ nhưng có thể tái sinh.
- Những tế bào trong bướu độc có thể ăn sâu và hủy hoại những tế bào,
bộ phận chung quanh. Tế bào ung thư có thể thoát ra ngoài bướu, vào dòng
máu hoặc dòng bạch huyết (lymphatic system) và lan tràn từ nơi ung hoại
đầu tiên (primary site) qua những bộ phận khác, tạo thành những bướu độc
mới. Sự lan tràn của tế bào ung thư gọi là metastasis.
Ung thư được đặt tên theo những bộ phận trong cơ thể hoặc những tế bào
nơi sự ung hoại khởi đầu. Chẳng hạn như ung thư khởi đầu từ phổi được
gọi là ung thư phổi, loại ung thư khởi đầu từ tế bào (tạo ra màu nâu đen)
trong da, melanocytes, được gọi là melanoma.
Khi ung thư lan từ nơi khởi thủy đến những bộ phận khác, bướu độc mới
sẽ có cùng một loại tế bào bất thường và có cùng một tên gọi như bướu
độc nguyên thủy. Thí dụ, khi ung thư phổi lan đến não bộ, tế bào ung thư
tìm thấy trong não bộ là những tế bào phổi đã ung hoại. Biến chứng này
gọi là ung thư phổi đã lan tràn (không phải là ung thư não bộ), hay ung
thư phổi di căn. Khi ung thư lan tràn, ta sẽ tìm thấy tế bào ung thư trong
những hạch bạch huyết cầu lân cận. Nếu ung thư đã vào đến những hạch bạch
huyết cầu này thì có nghĩa là ung thư có thể đã lan đến những bộ phận
khác như gan, xương, hay não bộ.
B. Những yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư
Y học chưa giải thích được tại sao người này bị ung thư
mà người khác không bị ung thư. Nhưng qua việc nghiên cứu, các chuyên
gia đã tìm thấy một số yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư (risk factors); những
yếu tố này bao gồm:
- Tuổi tác
- Thuốc lá, thuốc lào
- Ánh nắng
- Một số hóa chất
- Một số vi khuẩn và siêu vi khuẩn
- Một vài nội tiết tố
- Thân nhân bị ung thư
- Rượu
- Thiếu dinh dưỡng, thiếu vận đông và bệnh mập phì
Có những yếu tố có thể tránh, nhưng cũng có những yếu tố không thể ngăn
ngừa như y sử của gia đình. Hãy làm những việc có thể làm để duy trì sức
khỏe, tránh các yêu tố gia tăng tỷ lệ ung thư.
Nếu lo âu về chứng ung thư, ta nên thảo luận với bác sĩ.
Qua thời gian một số yếu tố tác động lẫn nhau khiến các tế bào lành mạnh
trở nên hư hoại. Khi nghĩ đến các yếu tố gây ung thư, cần nhớ những chi
tiết căn bản sau đây:
- Không phải bất cứ thứ gì cũng gây ung thư
- Ung thư không do thương tích
- Ung thư không phải là bệnh truyền nhiễm, lây từ người này sang người
khác. Tuy nhiên một số vi khuẩn và siêu vi khuẩn gây nhiễm trùng và là
yếu tố gia tăng tỷ lệ của một vài loại ung thư, nói chung, ung thư không
lây bệnh.
- Có một số yếu tố kể trên không có nghĩa là là sẽ bị ung thư
1) Tuổi tác: Yếu
tố gia tăng tỷ lệ ung thư quan trọng nhất là tuổi già. Hầu hết các ung
thư bộc phát trong tuổi 65 trở lên, nhưng mọi tuổi đều có thể bị ung thư
kể cả trẻ em.
2) Thuốc lào, thuốc lá, gọi chung
là “tobacco”: Ngưng dùng thuốc lào thuốc lá là việc
dễ thực hiện nhất để ngăn ngừa ung thư. Mỗi năm khoảng 180 ngàn người
Hoa Kỳ chết vì các loại ung thư liên quan đến việc dùng thuốc lào, thuốc
lá. Dùng thuốc lào thuốc lá hoặc sống trong môi trường thường xuyên có
khói thuốc là yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư.
Người hút mỗi ngày 1 bao thuốc lá có xác suất bị ung thư phổi 10 lần cao
hơn so với những người không hút thuốc lá. Ngoài ung thư phổi, người hút
thuốc lá còn có thể bị ung thư miệng, cuống họng, thực quản, bàng quang,
dạ dày, tụy tạng hoặc cổ tử cung. Họ có tỷ lệ ung thư bạch huyết cao hơn
những người không hút thuốc lá.
Những người dùng thuốc lá không khói, nhai thuốc lào, có tỷ lệ ung thư
miệng cao hơn những người khác.
3) Ánh nắng: Tia
cực tím từ mặt trời và các loại máy tạo ánh nắng (giúp cho da nâu hồng)
khiến da lão hóa nhanh chóng và gây hư hại tế bào da đưa đến ung thư da.
Tránh nắng và những loại máy móc phát ra tia cực tìm để bảo vệ da. Tránh
ánh nắng giữa ngày, mặc quần áo dài che kín chân tay, đội mũ nón và kính
mát để bảo vệ da và mắt. Dùng kem chống nắng với sun protective factor,
SPF it nhất là 15.
4) Tia phóng xạ (ionizing radiation):
Tia phóng xạ gây hư hoại tế bào và có thể dẫn đến
ung thư. Loại phóng xạ này từ đến mặt đất từ các hành tinh khác, từ những
máy móc dùng tia phóng xạ để chẩn bệnh (X ray) hoặc chữa bệnh (radiation
therapy), radon, bom nguyên tử hoặc từ các nhà máy nguyên tử lực.
Người bị nhiễm phóng xạ có tỷ lệ ung thư bạch huyết, tuyến giáp trạng,
vú, phổi và dạ dày cao hơn những người khác.
Radon là một loại phóng xạ trong thể khí không màu, không mùi vị, đến
từ đất đá. Thợ hầm mỏ có thể bị nhiễm radon. Tại một vài nơi, radon từ
lòng đất lan vào trong nhà. Radon gia tăng tỷ lệ ung thư phổi.
Y học dùng quang tuyến để chụp một vài bộ phận trong cơ thể, để chẩn đoán
thương tích tại xương và một vài bộ phận khác. Bác sĩ cũng dùng xạ trị
để chữa ung thư. Phóng xạ từ việc chụp quang tuyến là một lượng rất nhỏ,
từ máy xạ trị lượng phóng xạ cao hơn. Tuy nhiên, khi so sánh lợi và hại,
việc sử dụng phóng xạ này có lợi nhiều hơn cho bệnh nhân.
5) Hóa chất và các chất khác: Thợ
sơn, thợ nề và những người làm việc trong môi trường có hóa chất có thể
có tỷ lệ ung thư cao hơn vì tiếp xúc với asbestos, benzene, benzidine,
cadmium, nickel hoặc vinyl chloride. Cần theo lời chỉ dẫn của nhà sản
xuất và dùng quần áo bọc ngoài, giầy dép, mũ nón, mặt nạ để bảo cơ thể.
6) Vi khuẩn và siêu vi khuẩn: Nhiễm
trùng do vi khuẩn hoặc siêu vi khuẩn sau có thể gia tăng tỷ lệ ung thư:
- Human Papillomaviruses (HPVs): Nhiễm trùng HPV là nguyên nhân chính
gây ung thư cổ tử cung, và cũng là yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư của các
loại ung thư khác
- Siêu vi khuẩn Hepatitis B và Hepatitis C: Ung thư gan có thể bộc phát
sau nhiều năm bị viêm gan do nhiễm trùng bởi 2 loại siêu vi khuẩn kể trên
- Siêu vi khuẩn Human T-cell leukemia/lymphoma (THLV-1); Nhiễm trùng bởi
THLV-1 gia tăng tỷ lệ ung thư bạch huyết và lymphoma
- Siêu vi khuẩn Human immunodeficiency (HIV): HIV gây ra chứng bệnh AIDS,
những người bị AIDS có tỷ lệ ung thư lymphoma và Karposi sarcoma cao hơn
những người khác
- Siêu vi khuẩn Epstein-Barr (EBV): gia tăng tỷ lệ ung thư lymphoma
- Siêu vi khuẩn Human herpesvirus 8 (HHV8): gia tăng tỷ lệ ung thư Kaposi
sarcoma
- Vi khuẩn Helicobacter pylori: Vi khuẩn này gây lở dạ dày và có thể gây
ung thư dạ dày và lymphoma tại dạ dày
HPV, viêm gan B và C, HIV gây nhiễm trùng qua việc giao hợp với người
bị nhiễm trùng, cần dùng những phương pháp phòng ngừa. Không dùng chung
kim chích với người khác, thân hoặc sơ. Nên chích ngừa chứng viêm gan
B.
7) Nội tiết tố: Bác
sĩ có thể dùng nội tiết tố (như estrogen và progesterone) chữa những triệu
chứng do sự tắt kinh như nóng lạnh, khô âm đạo, và loãng xương. Các nội
tiết tố này có thể gia tăng tỷ lệ ung thư vú, bệnh tim mạch, và đông máu.
Khi quý bà muốn dùng nội tiết tố, cần thảo luận sự lợi / hại với bác sĩ.
Thuốc Diethylstillbestrol (DES), một loại estrogen, trước đây được dùng
để giảm ói mửa khi thai nghén: DES gia tăng tỷ lệ ung thư vú, gia tăng
tỷ lệ ung thư cổ tử cung của con gái của những phụ nữ dùng thuốc này.
8) Thân nhân bị ung thư:
Hầu như mọi loại ung thư đến từ sự thay đổi (biến thái, mutation) của
di thể. Một tế bào lành mạnh có thể trở thành tế bào ung thư sau khi một
số thay đổi diễn tiến tại di thể. Thuốc lá, thuốc lào, một số vi khuẩn
hoặc những yếu tố trong nếp sống hằng ngày có thể tạo ra sự thay đổi tại
di thể.
Một số thay đổi trong di thể có thể truyền từ cha mẹ sang con cái. Sự
thay đổi này hiện diện trong mọi tế bào của đứa con ngay khi chào đời.
Di truyền tính ung thư không xuất hiện thường xuyên, chỉ bộc phát trong
một số gia tộc, và liên quan đến các di thể truyền từ cha mẹ sang con
cái. Ngoài ra những yếu tố khác trong môi trường sinh sống cũng có thể
ảnh hưởng đến sự thay đổi tại di thể này.
9) Rượu: Uống
trên 2 ly rượu mỗi ngày gia tăng tỷ lệ ung thư miệng, cuống họng, gan,
thực quản, và vú. Uống cáng nhiều rượu, tỷ lệ ung thư càng cao, nhát là
với những người hút thuốc lá.
10) Nếp sống:
thói quen ăn uống thiếu dinh dưỡng, ít vận động hoặc chứng mập phì có
thể gia tăng tỷ lệ của một vài loại ung thư. Chẳng hạn như việc ăn uống
thường xuyên thức ăn, đồ uống có nhiều chất béo sẽ gia tăng tỷ lệ ung
thư ruột già, tử cung và tuyến tiền liệt. Kém vận động và mập phì gia
tăng tỷ lệ ung thư vú, ruột già, thực quản, thận và tử cung.
Nên ăn uống nhiều rau trái. Thức ăn đầy đủ dinh dưỡng gồm có chất xơ,
sinh tố và khoáng chất. Vận động thường xuyên giúp duy trì cân lượng,
không bị mập phì.
C. Truy tìm ung thư:
Đôi khi ta có thể tìm ra chứng ung thư trước khi phát bệnh nghĩa là có
triệu chứng. Việc thử nghiệm để tìm ung thư khi chưa có triệu chứng nào
được gọi là “screening”.
Thử nghiệm ung thư giúp bác sĩ tìm thấy và chữa trị một vài loại ung thư
sớm. Nói chung việc chữa trị hiệu quả hơn khi tìm thấy ung thư trong thời
kỳ bắt đầu. Các loại thử nghiệm được dùng rộng rãi để truy tìm ung thư
vú, cổ tử cung, ruột già và trực tràng:
- Ung thư vú: Mammogram
là phương cách thông dụng nhất để truy tìm ung thư vú. Mammogram là một
loại hình quang tuyến của vú. Theo Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, (National
Cancer Institute, NCI) phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên chụp mammogram mỗi
năm. Phụ nữ có những yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư nên thảo luận với bác
sĩ, dù trong tuổi 30.
- Ung thư cổ tử cung:
Bác sĩ dùng Pap test (còn gọi là Pap smear) để truy tìm chứng ung thư
cổ tử cung.Tế bào được lấy ra từ cổ tử cung và dùng kính hiển vi để quan
sát xem những tế bào có thay đổi hoặc trở nên bất thường, kể cả những
thay đổi do HPV. Phụ nữ nên bắt đầu thử Pap test 3 năm sau khi bắt đầu
giao hợp, hoặc 21 tuổi. Mọi phụ nữ nên thử Pap test ít nhất mỗi 3 năm
một lần.
- Ung thư ruột già và trực tràng:
Một số loại thử nghiệm được dung để truy tìm
“polyps” (những “túi” tế bào mới xuất hiện trong ruột già), ung thư hoặc
những chứng bệnh khác tại ruột già và trực tràng. Những người vào tuổi
50 trở lên, cần đi thử nghiệm. Nếu có thân nhân bị ung thư ruột già, hoặc
có những yếu tố làm gia tăng tỷ lệ của ung thư, cần thảo luận với bác
sĩ, bất kể ở tuổi nào, để được thử nghiệm sớm. Một hoặc nhiều phương cách
thử nghiệm sau được áp dụng:
1) Máu lẫn trong phân:
Đôi khi bướu hoặc polyp xuất huyết, máu lẫn với phân. Cách thử nghiệm
này có thể khám phá một lượng máu dù rất nhỏ lẫn trong phân.
2) Sigmoidoscopy (nội soi
phần ruột già có tên sigmoid): Bác sĩ dùng một cái ống nhỏ, mềm, đầu ống
là một ngọn đèn để quan sát trực tràng và phần dưới ruột già (sigmoidscope).
Bác sĩ có thể cắt bỏ polyp nếu tìm thấy qua dụng cụ này.
3) Colonoscopy (nội soi
toàn thể ruột già): Bác sĩ dùng dụng cụ tương tự như sigmoidoscope nhưng
dài hơn kể trên để quan sát các phần ruột già. Khi tìm thấy những polyp,
bác sĩ cắt bỏ và đem thử nghiệm dưới kính hiển vi.
4) Double-contrast barium
enema: Bệnh nhân "rửa ruột" bằng chất lỏng chứa barium, và một
lượng không khí được bơm vào ruột già. Bác sĩ chụp nhiều hình quang tuyến,
barium và không khí giúp bác sĩ quan sát hình thể ruột già trên những
tấm phim.
5) Rectal Exam: Khám nghiệm
trực tràng là một phần của chương trình khám bệnh định kỳ. Bác sĩ đeo
găng dùng ngón tay đưa qua hậu môn truy tìm những khối u nằm ở vùng hậu
môn, trực tràng.
Có một số thử nghiệm khác đang được sử dụng trong vòng thí nghiệm, ta
chưa có kết quả chắc chắn về những loại thử nghiệm này, hiệu quả ra sao,
có giúp tìm ra ung thư sớm hay không và nhất là có kéo dài mạng sống con
người hay không.
Bác sĩ khi khám bệnh sẽ tìm kiếm những yếu tố liên quan đến ung thư như
tuổi thọ, tình trạng sức khoẻ của thân nhân (có ung thư hay không), cách
sinh sống, ăn uống, hút hoặc nhai thuốc lào thuốc lá... trước khi áp dụng
nhưng phương pháp thử nghiệm thích hợp. Đây là lúc ta nên đặt câu
hỏi về những phương pháp thử nghiệm nếu chưa hiểu rõ tại sao những phương
cách này được áp dụng.
Những câu hỏi cho bác sĩ:
1. Bác sĩ dùng loại tn nào cho tôi? Tại sao?
2. Loại tn này tốn bao nhiêu tiền? Bảo hiểm của tôi có trả phí tổn không?
3. Tn có đau không? Có nguy hiểm gì không?
4. Bao nhiêu lâu sau khi tn thì có kết quả?
5. Nếu thử nghiệm có kết quả bất thường, làm thế nào để tôi biết tôi vị
ung thư?
D. Triệu chứng
Ung thư có thể gây ra một hoặc nhiều triệu chứng sau đây:
- Bướu, u trong vú hoặc bất cứ bộ phận nào trong cơ thể
- Sự xuất hiện của mụt đen trên da hay sự thay đổi của những mụt đen ấy
- Vết lở không lành
- Ho không dứt, khản tiếng lâu không khỏi
- Sự thay đổi của bộ tiêu hóa (táo bón hoặc tiêu chảy) và bộ tiết niệu
(đi tiểu khó khăn, nước tiểu có máu...)
- Ăn khó tiêu, nuốt không trôi, nghẹn thức ăn
- Xuống hoặc lên cân không có lý do
- Xuất huyết
- Mệt mỏi, yếu đuối
Hầu hết những triệu chứng này không do ung thư, mà có thể do bướu lành
hoặc những chứng bệnh khác. Hãy đi khám bệnh sớm khi có một trong những
triệu chứng trên. Đừng chờ đợi, bệnh tật khi khám phá sớm, việc chữa trị
sẽ hiệu quả hơn.
Thông thường, ung thư trong thời kỳ bắt đầu không gâyđau đớn. Khi có triệu
chứng, cần đi khám bệnh sớm, đừng chờ cho đến khi thân thể thấy đau đớn.
E. Chẩn đoán
Khi có triệu chứng hoặc các thử nghiệm tình nghi ung thư, bác sĩ cần tìm
kiếm xem những triệu chứng xuất phát từ ung thư hay những chứng bệnh khác.
Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều phương pháp chẩn bệnh sau khi khám bệnh.
Các loại thử nghiệm: Thử nước tiểu, máu hoặc những chất
lỏng khác trong cơ thể giúp bác sĩ định bệnh. Các loại thử nghiệm này
cũng cho thấy sự hoạt động của các bộ phận như thận. Hàm lượng cao của
một vài chất có thể là dấu hiệu của ung thư. Những đặc chất này được gọi
là “tumor markers”. Tuy nhiên kết quả thử nghiệm bất thường không nhất
thiết là ung thư. Bác sĩ không thể căn cứ vào các thử nghiệm kể trên để
quyết đoán là ung thư, việc chẩn bệnh sẽ bao gồm kết quả của nhiều phương
pháp khác nhau.
Hình ảnh (imaging)
Cách thử nghiệm dùng máy móc chụp những bộ phận trong cơ thể,
truy tìm cá khối u. Có nhiều loại hình ảnh:
1. X-rays:
Chụp quang tuyến là cách thông thường nhất để quan sát bộ phận và xương
trong cơ thể.
2. Computerized Tomography Scan
(CT Scan): Máy chụp quang tuyến chụp nhiều lần một
bộ phận; các hình ảnh này được liên kết với nhau qua máy điện toán. Bác
sĩ có thể dung phẩm (contrast) để tạo hình ảnh rõ ràng hơn.
3. Radionuclide scanning:
Bệnh nhân uống hoặc chích một dung dịch chứa chất phóng xạ, những chất
phóng xạ này theo máu luân lưu và cô đọng tại những nơi có tế bào ung
thư. Bác sĩ dùng dụng cụ dò tìm (scanner) và đo lường lượng chất phóng
xạ. Máy dò tạo ra hình ảnh của các bộ phận có chất phóng xạ.
4. Ultrasound (Siêu Âm): Siêu
âm phát ra từ dụng cụ này dội lại trên màn ảnh, máy điện toán dung những
âm thanh này để tạo ra hình ảnh của bộ phận được thử nghiệm gọi là “sonogram”.
5. Magnetic Resonance Imaging (MRI):
Từ trường nối với máy điện toán tạo ra những hình ảnh chi tiết về bộ phận
trong cơ thể, bác sĩ có thể quan sát cá hình ảnh nay và có thể làm phó
bản.
6. PET Scan: Bệnh
nhân được chích một lượng phóng xạ, một dụng cụ chụp hình ảnh của những
hóa chất trong cơ thể. Tế bào ung thư đôi khi xuất hiện trong những phản
ứng hóa học này.
Biopsy (Trích Mô, Sinh Thiết)
Với một số ngoại lệ, bác sĩ thường cần trích mô để chẩn đoán
ung thư. Để trích mô, bác sĩ lấy ra một mảnh mô và gửi đến phòng thí nghiệm.
Bác sĩ Bệnh Lý (pathologist) khám xét những tế bào dưới kính hiển vi.
Việc trích mô được thực hiên qua nhiều cách:
- bằng kim rỗng ruột (needle aspiration) bác sĩ rút tb hoặc chất lỏng
- bằng cách nội soi: Bác sĩ dùng dụng cụ nội soi để quan sát và lấy ra
một mảnh mô khi thấy ung bướu.
- giải phẫu (surgical biopsy): Bác sĩ có thể lấy ra cả cái bướu (excisional
biopsy) hoặc chỉ lấy ra một mảnh nhỏ của khối u (incisional biopsy)
Những câu hỏi cho bác sĩ trước khi
trích mô:
1. Tôi cần đi trích mô ở đâu?
2. Việc này lâu hay mau?
3. Trích mô có nguy hiểm không? Có chảy máu hoặc nhiễm trùng sau khi trích
mô không?
4. Bao nhiêu lâu thì có kết quả?
5. Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người báo tin và sẽ cho tôi bước kế tiếp?
F. Định Kỳ (staging):
Để sửa soạn một chương trình trị liệu hiệu quả, bác sĩ cần biết rõ ung
thư đã đến thời kỳ nào. Hầu hết các loại ung thư, việc định kỳ dựa trên
kích thước của khối u, và mức lan tràn của ung thư đến hạch bạch huyết
hoặc các bộ phận khác. Bác sĩ có thể dùng các loại thử nghiệm như X-rays,
CT scan… để định kỳ ung thư.
G. Chữa trị:
Bệnh nhân bị ung thư thường muốn dự phần quyết định việc trị liệu của
mình. Điều dễ hiểu là họ muốn biết rõ ràng các dữ kiện, chi tiết về chứng
bệnh và các cách trị liệu sẵn có. Tuy nhiên việc mất bình tĩnh và sự loa
âu hoảng hốt về chưng bệnh khiến bệnh nhân tê liệt tâm thần, không thể
đặt câu hỏi với bác sĩ. Vì thế bệnh nhân nên sắp sẵn một danh sách các
câu hỏi về những điều muốn biết. Để ghi nhớ tất cả mọi chi tiết trong
cuộc thảo luận với bác sĩ, bệnh nhân nên mang theo sổ tay để ghi chép,
đi cùng với thân nhân, nhờ họ ghi chép, hoặc xin phép thu âm buổi nói
chuyện với bác sĩ.
Bác sĩ có thể chuyển bệnh nhân đến bác sĩ chuyên môn, hoặc bệnh nhân có
thể nhờ bác sĩ giới thiệu đến bác sĩ chuyên môn.
Ý kiến thứ nhì (Second Opinion)
Để an tâm hơn hoặc tìm hiểu kỹ càng hơn về bệnh
trạng, bệnh nhân có thể lấy ý kiến thứ nhì. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả
chi phí cho việc lấy ý kiến thứ nhì nếu bác sĩ chính giới thiệu. Lấy ý
kiến từ một bác sĩ chuyên khoa khác có thể cần một vài tuần lễ, khoảng
thời gian này thường không ảnh hưởng đến hiệu quả của việc chữa trị. Đôi
khi bệnh nhân không thể chờ đợi và không nên chờ đợi, vì thế nên thảo
luận với bác sĩ về khoảng thời gian chờ đợi này.
Có nhiều cách để lấy ý kiến thứ nhì:
1. Qua sự giới thiệu của bác sĩ chính
2. Qua “data bank” của Viện Ung Thư Quốc Gia: Điện
thoại 1-800-4-CANCER; hoặc h**p://www.cancer.gov.
3. Qua Y Sĩ Đoàn (Medical Society), bệnh viện hoặc
trường Y Khoa địa phương
(còn tiếp)
>>>back>>> |
 |