 |
Bệnh Thường Thấy
ở Mắt
Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức (Câu
Chuyện Thầy Lang)
Các phần chính của nhãn cầu là thủy tinh thể, giác mạc,
võng mạc. Các bộ phận này và nhãn cầu có thể bị tổn thương, thay đổi,
đưa tới suy giảm hoặc mất thị lực.
Xin cùng tìm hiểu.
Thủy Tinh Thể
1.Cấu tạo
Thủy tinh thể (lens) là bộ phận quan trọng tiếp nhận và hội tụ ánh sáng
hình ảnh lên võng mạc (retina). Ðây là một cấu trúc hai mặt lồi (convex),
trong suốt, gồm có nước và chất đạm, nằm ngay phía sau giác mạc và đồng
tử.
Về cấu tạo, thủy tinh thể có một màng bọc, dưới đó là phần cùi, ở giữa
là nhân. Cấu trúc này tương tự như một quả mận với vỏ, cùi và hột mận.
Vì có tính cách đàn hồi nên thủy tinh thể có thể thay đổi độ cong để mắt
nhìn rõ được sự vật ở xa hoặc ở gần.
Tinh thể dẹp xuống khi tập trung vào vật ở xa và hình ảnh vật đó thấy
nhỏ. Tinh thể dầy lên để tập trung vào vật ở gần, vật nhìn thấy to. Ðó
là sự điều tiết của mắt. Khả năng này hoàn toàn tự động, con người không
điều khiển được.
Ở người dưới 40 tuổi, tinh thể mềm, dễ thay đổi hình dạng, nhờ đó ta có
thể tập trung nhìn sự vật xa gần khác nhau. Với người từ 40 tuổi trở lên,
tinh thể mất dần tính đàn hồi, kém khả năng tăng độ cong, khiến cho việc
nhìn vật ở gần khó khăn. Đó là sự lão thị (presbyopia), các vị này phải
đưa vật ra xa tầm mắt hơn một chút hoặc phải đeo kính lão để điều chỉnh.
Bệnh thường xảy ra ở thủy tinh thể là đục mờ.
2.Nguyên nhân gây ra đục thủy tinh thể
Thực ra, đục thủy tinh thể hoặc Cườm mắt (cataract) không phải là một
bệnh mà là hậu quả một thay đổi bình thường của sự hóa già. Ở tuổi trẻ,
thủy tinh thể cũng có thể bị đục vì chấn thương hoặc do bẩm sinh.
Mới đầu, thủy tinh thể hơi mờ đục và chuyển dần từ mầu trắng sang mầu
vàng hoặc nâu. Ánh sáng vào mắt sẽ giảm đi, hình ảnh trên võng mạc không
rõ và biến dạng, lâu ngày đưa tới giảm thị lực.
Mỗi thành phần của TTT có thể đục mờ riêng rẽ. Với
tuổi già, phần nhân bị mờ nhiều hơn. Tiểu đường mờ phần cùi hoặc vỏ. Cận
thị nặng hoặc dùng thuốc cortisone lâu ngày thường hay bị đục ở vỏ.
Ngoài hậu quả của sự lão hóa, đục thủy tinh thể
còn thấy trong các trường hợp như khi mắt bị chấn thương, hút nhiều thuốc
lá, uống nhiều rượu, do tác dụng của một số dược phẩm như thuốc lợi tiểu,
cortisone, thuốc an thần, ô nhiễm môi trường, hóa chất độc hại, tia tử
ngoại của ánh sáng mặt trời quá mạnh, sống trên cao với ít oxy, hậu quả
của một vài bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, cao cholesterol, mập phì.
Một số trẻ em sanh ra đã bị đục thủy tinh thể.
Đục thủy tinh thể đưa tới khó khăn nhìn giống như
nhìn qua cặp mắt kính phủ sương mù. Bệnh nhân không nhìn rõ khi có quá
ít hoặc quá nhiều ánh sáng, không coi được TV, khó khăn lái xe, dễ gặp
tai nạn. Muốn đọc sách báo, họ phải mang kính phóng đại (magnifying glasses).
Hậu quả là người đó ngại ngùng không muốn đi đâu và mất sự tự chủ, độc
lập.
3.Điều trị
May mắn là hiện nay nhờ có vi phẫu thuật mà thị giác của người đục thủy
tinh thể đã được phục hồi. Trước đây, kỹ thuật mổ
đòi hỏi cườm phải “già” cứng (ripen hoặc mature) để được dễ dàng “múc”
ra, khiến cho người bệnh phải đợi một thời gian với kém thị giác.
Thực ra, sự “chín” của TTT không quan trọng bằng chính
khó khăn mà người bệnh cảm thấy.
Trước khi mổ, họ có thể thay cặp kính mới hoặc dùng kính lúp. Khi nào
thị giác kém hẳn, gây ra trở ngại cho các sinh hoạt hàng ngày thì mổ cũng
chưa muộn.
Phẫu thuật được làm ngay tại phòng mạch bác sĩ chuyên về nhãn khoa và
bệnh nhân có thể về nhà sau khi giải phẫu hoàn tất mỹ mãn. Thường thì
không cần đánh thuốc mê mà cần chích chút thuốc tê nơi mắt hoặc nhỏ mắt
với mấy giọt thuốc tê và uống vài viên thuốc an thần.
Thủy tinh thể có thể “múc” ra trọn bộ với vỏ, cùi và nhân hoặc để vỏ lại,
chỉ lấy cùi và nhân. Rồi thay thế bằng TTT nhân tạo làm bằng chất silicone
hoặc acrylic. TTT nhân tạo rất mềm, bẻ cong được, nên chỉ cần rạch vài
ba mili mét là đủ để thay TTT mới. Vết mổ nhỏ, tự lành, đôi khi không
cần khâu.
Theo thống kê, tỷ lệ thành công của vi phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân
tạo rất cao, lên tới 97%. Sau khi mổ, nhiều bệnh nhân rất thỏa mãn, nói
mắt sáng như đèn pha ô tô, nhìn rõ ràng mọi sự vật với mầu sắc đầy đủ.
Họ trở nên tự tin, yêu đời hơn.
Sau khi mổ, một số bệnh nhân vẫn phải mang kính lão để đọc chữ hoặc kính
hai tròng để nhìn vật ở xa. Tuy nhiên đôi khi một số rủi ro hậu giải phẫu
có thể xẩy ra như nhiễm trùng, chẩy máu, sưng phù giác mạc, cao áp xuất
trong mắt và bong võng mạc đặc biệt là ở người cận thị. Phẫu thuật gia
đều có sẵn các phương thức để chấn chỉnh các rủi ro này. Sau giải phẫu
về, nên giữ gìn mắt theo hướng dẫn của bác sĩ, tránh làm việc nặng trong
vài ngày.
Giác mạc
Giác mạc (cornea) là phần hình tròn phía trước của nhãn cầu, do các tế
bào trong suốt tạo thành. Giác mạc có khả năng tái
tạo rất mau mặc dù không có mạch máu và rất nhậy cảm với sự đau đớn. Đây
là bộ phận chính để bảo vệ mắt và để tiếp thu ánh sáng, đưa qua đồng tử.
Phủ lên giác mạc là kết mạc (conjunctiva) trong
suốt, có rất ít mạch máu.
Sau đây là một số bệnh của giác mạc:
1.Viêm kết mạc (Conjunctivitis)
Mắt bị kích thích và đỏ (Pink eye).
Tác nhân gây bệnh thường thấy là những virus tương
tự virus trong bệnh cảm lạnh vì thế nhiều người có dấu hiệu của bệnh này.
Đôi khi vi khuẩn cũng gây ra viêm giác mạc.
Viêm giác mạc rất hay lây qua sự dùng chung các
dụng cụ liên hệ tới mắt như khăn mặt, đồ trang điểm hoặc khi dụi tay lên
mắt đang đau. Vì thế, rửa tay thường xuyên và không dụi mắt là phương
pháp hữu hiệu để phòng tránh lây lan viêm mắt.
Viêm kết mạc do virus tự lành sau mấy ngày. Thuốc
nhỏ mắt được dùng khi mắt cảm thấy cộm, ngứa. Viêm
do vi khuẩn được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt có kháng sinh và cần được
bác sĩ xác định trước khi dùng.
2.Trầy giác mạc
Đa số nguyên nhân của trầy giác mạc là do móng tay, tờ giấy vô tình đụng
vào hoặc do vật lạ bắn vào mắt. Vết thương trên giác mạc dù nhỏ cũng rất
đau vì giác mạc có nhiều dây thần kinh cảm giác. Nếu chẳng may bị thương
tích này, nên đi khám chữa ngay.
Bác sĩ có thể nhỏ một giọt thuốc gây tê vào mắt
để lấy vật lạ ra, nhỏ thuốc kháng sinh để tránh nhiễm trùng rồi băng lại
để vết thương mau lành.
3.Đục mờ giác mạc
Bình thường giác mạc trong suốt nhưng có thể trở nên mờ đuc vì:
-Bị thương tích chấn thương để lại vết sẹo
-Bị nhiễm virus, vi khuẩn hoặc nấm khiến cho giác
mạc bị trầy.
-Thay đổi hình dạng của giác mạc khiến cho sự vật
trở thành méo mó
-Tật bẩm sinh của giác mạc.
Khi giác mạc mờ, ánh sáng sẽ không vào mắt được và thị
lực giảm hoặc mất hẳn.
Phẫu thuật hoặc tia laser có thể tẩy vết sẹo trên giác mạc, nhưng khi
tổn thương quá rộng và sâu, giác mạc có thể được thay ghép. Kỹ thuật ghép
giác mạc hiện nay đang rất phổ biến.
Tế bào giác mạc dùng trong phẫu thuật ghép là do
các nhà hảo tâm hứa tặng và được lấy trong vòng 6 giờ sau khi họ lâm chung.
Tế bào được cất giữ trong ngân hàng giác mạc, được khám nghiệm coi có
bị nhiễm các bệnh như HIV, viêm gan hoặc bất thường nào khác.
Ghép giác mạc được thực hiện đầu tiên vào năm 1905
khi bác sĩ Edward Zirum lấy giác mạc của một em bé 11 tuổi bị thương tích
một mắt và ghép cho một nạn nhân hư giác mạc vì phỏng hóa chất.
Phẫu thuật có vẻ rất giản dị nhưng cần được các
bác sĩ có kinh nghiệm thực hiện. Bệnh nhân được
gây tê tại mắt hoặc gây mê tổng quát tùy từng trường hợp. Phần giác mạc
đục được lấy ra và thay thế bằng giác mạc người cho.
Mắt được băng kín cho tới ngày hôm sau tái khám.
Thuốc nhỏ mắt được dùng mỗi ngàyđể phòng tránh nhiễm trùng và phản ứng
bác bỏ “reject” tế bào lạ trong mấy tuần lễ. Thường
thường, cần thời gian từ 4 tới 6 tháng để giác mạc mới ổn định và thị
giác phục hồi lần lần.
Ghép giác mạc cũng có một vài biến chứng như chẩy
máu, nhiễm trùng, phù sưng võng mạc đôi khi không phục hồi được thị giác.
Cần thảo luận kỹ càng lợi hại với bác sĩ trước khi
ghép giác mạc vì chi phí cũng khá cao.
Võng mạc
Võng mạc (retina) là lớp tế bào nhậy cảm với ánh sáng, lót phía trong
mắt. Ðây là cấu trúc căn bản của cặp mắt, có công
dụng như tấm phim của máy ảnh để thu nhận và ghi lại cả muôn vàn hình
ảnh, tĩnh cũng như động, suốt ngày này qua tháng khác mà không cần thay
phim như trong máy ảnh…
Trên võng mạc có những tế bào hình nón, hình que chuyển ánh sáng từ bên
ngoài vào thành những tín hiệu điện năng, được dây thần kinh thị giác
đưa lên não bộ. Tế bào não phân tích, tổng hợp các tín hiệu và tạo ra
hình ảnh của sự vật.
Bệnh của võng mạc có thể là:
1-Bong võng mạc
Đây là một bệnh rất hiểm nghèo nhưng may mắn là rất hiếm khi xảy ra. Nguyên
do thông thường là võng mạc bị rách, thủng lỗ. Dịch pha lê ở phòng trước
võng mạc chảy vào mặt sau của võng mạc, làm cho mô bào này bong ra.
Bệnh thấy ở mọi lứa tuổi, đặc biết là người cận
thị từ 25-50 tuổi và người già sau khi giải phẫu đục thủy tinh thể.
Bong võng mạc cũng thấy khi mắt bị chấn thương,
bị viêm mắt, trong bệnh tiểu đường hoặc do di truyền. Bệnh
nhân thấy có nhiều vật nhỏ bay lượn trong mắt (ruồi bay trong mắt), lâu
ngày đưa tới giảm thị lực.
Bong võng mạc được điều trị bằng phẫu thuật để dán
võng mạc trở lại. Phẫu thuật rất tinh vi, không
cần mổ con mắt mà dùng tia laser, liệu pháp lạnh (cryotherapy) hoặc phép
thấu nhiệt (diathermy). Tinh vi hơn nữa là thay thế dịch pha lê bằng một
loại chất hơi (gas) để đưa võng mạc về vị trí nguyên thủy. Các
phương pháp này có tỷ lệ thành công khá cao là 80%.
2.Mù mầu sắc
Trên võng mạc có những tế bào hình que nẳm ở chung quanh võng mạc để nhìn
sự vật vào ban đêm và các tế bào hình chóp nằm ở giữa để nhìn mâu sắc
vào ban ngày.
Nhiều người cho rằng khi bị mù mấu sắc là chỉ nhìn được mầu đen và trắng.
Thực ra không phải vậy. Người mù màu sắc thường có khó khăn nhận ra từng
màu căn bản là đỏ, xanh lá cây (green) và xanh da trời (blue).
Mù màu sắc là bệnh không chữa trị được và không biết rõ nguyên nhân.
Bệnh có tính cách di truyền, xảy ra từ khi mới sanh và thấy ở nam giới
nhiều hơn nữ giới. Một người nam bị mù màu sắc thừa hưởng khiếm khuyết
từ người mẹ. Bà mẹ nhìn màu sắc bình thường và mang gen khiếm khuyết màu.
Vì không chữa được và vì chỉ là một khiếm khuyết với vài màu sắc, nên
bệnh nhân thường thích nghi với khiếm khuyết của mình và có đời sống bình
thường.
Bệnh cao áp nhãn
Cao áp nhãn (Glaucoma) là bệnh trong đó áp xuất trong nhãn cầu tăng rất
cao. Để hiểu rõ bệnh này, có thể ví dụ như sau:
Trong một bồn tắm, nếu ta mở vòi nước vào bồn đồng thời mở ống thoát nước
dơ, nước sẽ chảy ra ngoài. Nếu ta khóa ống nước dơ, nước sẽ dâng cao trong
bồn tắm. Bây giờ nếu ta bịt kín mặt bồn tắm với miếng vải nhựa và tiếp
tục mở nước vào thì tấm vải nhựa sẽ căng phồng, vì sức ép của nước không
lối thoát.
Cao áp nhãn cững tương tự. Mắt luôn luôn sản xuất dung dịch chất lỏng
vào nhãn cầu và được đưa ra ngoài theo ông nhỏ nằm giữa iris và giác mạc
cornea. Nếu ống tắc, chất lỏng sẽ tích lũy trong mắt và đưa tới bệnh cao
áp xuất của mắt. Hậu quả là mạch máu bị đè dẹp, giảm máu nuôi võng mạc
và dây thần kinh mắt, thị giác suy giảm, có thể trở thành mù.
Cao áp nhãn có thể cấp tính hoặc mãn tính.
a-Cấp tính hoặc
cao-áp-nhãn- đóng khi áp xuất tăng đột ngột và nhanh vì ống thoát chất
lỏng bị tắc nghẽn bất thình lình.
Bệnh tuy hiếm, thường thấy ở người tuổi cao với viễn thị nhưng là một
cấp cứu. Nếu không điều trị trong vòng 48 giờ, dây thần kinh mắt sẽ bị
hủy hoại và mất thị giác ở mắt đó.
Điều trị khá giản dị: bác sĩ dùng tia laser để thông ống nghẹt là thị
giác trở lại bình thường.
b-Cao áp nhãn mãn tính
xảy ra từ từ hơn, có khi cả vài năm, đôi khi không có triệu chứng, nhưng
không kém phần nguy hiểm. Do đó, từ tuổi 40 trở lên, nên đi khám mắt mỗi
1 hoặc 2 năm để bác sĩ đo áp xuất mắt. Bệnh được chữa trị bằng thuốc nhỏ
mắt hoặc thuốc uống để giảm áp xuất. Nếu không có kết quả, có thể giải
phẫu hoặc dùng tia laser để điều trị.
Ruồi bay trước mắt
Nhiều người thấy như có mấy con ruồi bay qua lại ở trước mắt, nhất là
khi nhìn vào một nền sáng trắng, như vào một bức trường hoặc bầu trời
trong xanh. Nguyên do gây bệnh là sự hóa lỏng của dịch pha lê(vitreous
) ở phía sau thủy tinh thể. Các sợi nhỏ của dịch dính với nhau, tách rời
võng mạc và bay nhảy trong mắt. Hiện tượng này thường thấy ở người trên
40 tuổi, người cận thị, bị chấn thương hoặc viêm mắt thoái hóa võng mạc
ở tiểu đường hoặc sau khi giải phẫu đục thủy tinh thể.
Thường thường, các vật đó biến mất sau một thời
gian dù không điều trị. Tuy nhiên, nếu vật đó có quá nhiều và gây trở
ngại cho thị lực thì nên đi bác sĩ nhãn khoa để được điều trị, bằng dược
phẩm hoặc phẫu thuật.
Kết luận
Con mắt là cửa sổ qua đó tâm hồn được quan sát, tìm hiểu. Đồng thời mắt
cũng để nhận diện sự vật chung quanh. Khi mắt đau, mắt mờ thì các khả
năng này mất đi. Con người rất dễ dàng rơi vào tình trạng lẻ loi, cô đơn,
mất tự chủ độc lập.
Cho nên, xin nâng niu, giữ gìn, không quá lạm dụng
cặp mắt.
Và đi khám bác sĩ chuyên khoa ngay khi thấy có các
thay đổi bất thường ở mắt.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ
(www.nguyenyduc.com)
>>>back>>> |
 |