 |
Thông
Tim, Mổ Tim và Làm Mọc Nhánh Mới
B.S. Vũ Quí Đài, M.D., Ph.D.,
Cựu Giáo Sư Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Sài Gòn
Bệnh động mạch vành, tức là mấy mạch máu nuôi bắp thịt tim bị nghẹt, đưa
đến hậu quả là lên cơn đau tim tức ngực (angina), và nặng hơn nữa, thì
bị đứng tim (heart attack). Nguyên tại nước Mỹ có trên 12 triệu người
bị bệnh này. Người chết vì bệnh này nhiều nhất trong số tử vong vì bệnh
tim mạch, mà ta đã biết là số tử vong vì tim mạch đứng hàng đầu trong
bảng các nguyên nhân tử vong nói chung.
Loại trừ nguy cơ sinh bệnh
Việc chữa trị, thì đầu tiên là loại trừ các nguy cơ sinh bệnh (risk factors):
bỏ thuốc lá, chữa trị cao huyết áp, hạ cholesterol, ăn uống lành mạnh,
và năng hoạt động.
Bác sĩ Y tế trưởng Hoa kỳ (U.S. Surgeon General) vừa ra thông báo cho
biét tầm quan trọng của các nguy cơ bệnh tim mạch. Trong số trên 50 triêïu
người bị bệnh cao máu, chỉ có một phần tư được chữa trị đúng mức. Hơn
90 triệu người có mức cholesterol quá cao. Mỗi ngày, có hơn 3000 thiếu
niên sa vào vòng nghiện thuốc lá. Mỗi năm có gần nửa triệu người chết
vì các bệnh liên quan đến thuốc lá. Bệnh mập gia tăng trong mọi lứa tuổi
từ trẻ đến già: trên 90 triệu người nặng quá ký, làm tăng nguy cơ bị cao
máu, cao cholesterol, tiểu đường, đứng tim, tai biến mạch máu não. Số
trẻ em và người lớn ngồi ỳ trước Ti vi, trò chơi video và computer ngày
càng gia tăng. Chỉ có một trong số các tiểu bang bắt buộc có giờ thể dục
thể thao ở trung tiểu học.
Dùng thuốc
Mục đích của thuốc men là để phòng ngừa khỏi bị khan máu (ischemia) và
giảm thiểu triệu chứng, như tức ngực. Bác sĩ thường dùng bốn loại thuốc
sau này:
Thuốc làm chậm nhịp tim - Thuốc thuộc nhóm
này (gọi là beta-blocker) làm cho nhịp tim chậm lại khi nghỉ ngơi cũng
như khi mệt nhọc, thành ra mức độ dưỡng khí từ máu cần thiết cho trái
tim giảm bớt đi.
Thuốc Nitrates - Thí
dụ như Nitroglycerine, có thứ tác dụng ngắn hạn, có thứ dài hạn.
Người bị đau tim tức ngực gọi là "ổn định", có thể dược bác
sĩ cho mang sẵn thuốc trong người, khi sắp làm việc mệt nhọc nghi là sẽ
lên cơn đau, hay là vừa lên cơn đau, ngậm một viên dưới lưỡi thì hết đau
ngay trong vòng một hai phút, và có hiệu quả được chừng nửa giờ. Thuốc
tác dụng dài hạn thì uống ngày mấy lần. Cũng có thứ thuốc dán cho ngấm
qua da.
Nhóm thứ ba, thí dụ
như Verapamil và Diltiazem làm cho động mạch không co nhỏ lại được.
Thuốc nhóm này đồng thời cũng có thể làm cho tim đập chậm lại.
Loại thứ tư, như Aspirin là những thuốc chống
tiểu cầu. Tiểu cầu có nhiệm vụ quan trọng trong việc làm cho máu đông
lại. Tiểu cầu bám vào những mảng bên trong động mạch, tạo ra những cục
máu đông làm cho lòng động mạch bị nhỏ thêm nữa. Aspirin bám cứng vào
tiểu cầu, làm cho tiẻu cầu không gây cục máu đông được. Bác sĩ hay khuyên
những người có bệnh động mạch vành uống ngày một viên Aspirin nhỏ, loại
thuốc con nít. Người bị dị ứng với Aspirin, có thể dùng thuốc Ticlopidine.
Mổ tạo đường tắt
Khi có khúc động mạch vành nuôi tim bị tắc nghẽn nhiều, người ta có thể
mổ để tạo một đường cho máu đi tắt tới nuôi tim mà không phải qua cái
khúc bị nghẹt đó. Phẫu thuật này gọi là mổ tạo đường tắt (bypass surgery,
hay nói đầy đủ hơn, là coronary artery bypass surgery) cũng còn gọi là
ghép (bypass graft). Thường thì người ta lấy một đoạn tĩnh mạch từ dưới
chân lên để làm đường nối đó. Nhưng vào khoảng một phần ba những tĩnh
mạch này, sau chừng 5 năm làm nhiệm vụ thay thế khúc động mạch vành, lại
bị nghẹt luôn. Thành ra cũng nhiều khi bác sĩ không dùng tĩnh mạch, mà
lấy một động mạch nhỏ ở sau xương mỏ ác để tạo ra khúc mạch đi tắt. Những
động mạch thay thế này bền lâu hơn là tĩnh mạch.
Nếu tình trạng tim còn tốt, chưa bị đứng tim lần nào, thì giải phẫu tạo
đường tắt khá an toàn. Mức độ tử vong không tới một phần trăm. Kết quả
sau khi mổ rất rõ rệt: bệnh nhân không còn bị lên cơn đau tức khi mệt,
và thuốc men nếu còn phải dùng cũng giảm liều lượng được nhiều.
Thông tim
Tùy theo điều kiện bệnh động mạch vành, và tùy theo tình trạng bệnh nhân,
có khi bác sĩ quyết định thông tim (coronary angioplasty) thay vì mổ.
Bác sĩ dùng một kim chích lớn chích vào một động mạch lớn, thường là động
mạch ở đùi. Sau đó xuyên một sợi kim loại theo mạch máu vào tới động mạch
chủ, là động mạch chính từ tim chạy ra, ở ngay chỗ gốc động mạch chủ là
chỗ động mạch vành chạy ra nuôi tim. Tiếp tục luồn sợi kim loại vào động
mạch vành ở tim. Khi đã yên vị rồi, mới dùng một cái ống mềm đầu có một
quả bóng tí hon dựa theo sợi kim loại luồn vào tới khúc động mạch vành
bị nghẹt. Lúc đó, người ta bơm cho quả bóng phồng lên xẹp xuống nhiều
lần. Quả bóng này có cái khuôn giống như một lớp lưới, khi phồng lên,
sợi lưới làm vỡ rách một ít cái mảng đóng nghẹt trong lòng mạch máu. Đồng
thời mạch cũng nở thêm ra. Kết quả sau khi mổ lên đến 90 phần trăm. Mức
độ an toàn cũng tương đương với việc mổ tạo đường tắt.
Có một số ít bệnh nhân thông tim cần phải giải phẫu tạo đường tắt cấp
thời vì biến chứng trong khi thông tim. Một số nữa bị nghẹt lại trong
vòng sáu tháng, phải thông tim lại.
Hai cách chữa mới
1- Tạo nhánh mới cho động mạch
vành (therapeutic angiogenesis)-
Người ta dùng thuốc lọai kích thích tăng trưởng (growth factor), thí dụ
như vascular endothelial growth factor (gọi tắt là VEGF), chích thẳng
vào bắp thịt tim, hoặc là truyền thuốc vào máu để động mạch vành được
kích thích mọc ra những nhánh mới để nuôi tim.
2- Tia laser xuyên cơ tim (transmyocardial
revascularisation by laser)-
Dùng tia laser đục những lỗ nhỏ li ti trong bắp thịt tim, hoặc bằng cách
mổ tim trực tiếp, hoặc dùng kỹ thuật vi phẫu đi vào bằng những ống qua
mạch máu. Những lỗ nhỏ này có thể là làm cho máu ngấm thẳng vào nuôi tim,
cũng có tác dụng kích thích sự tạo nhánh mới.
Hai kỹ thuật trên đây còn rất là mới mẻ (kết quả sơ khởi mới ra chừng
mấy tháng nay), hiện chỉ dành cho những bệnh nhân dùng thuốc men không
có hiệu quả, mà mổ thì không được, hoặc vì mổ bị nghẹt lại, hoặc vì nghẹt
nhiều chỗ quá mổ không được. Mới chỉ có một số ít trung tâm y khoa làm
được những kỹ thuật này.
(Bài này chỉ nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về sức khỏe và y tế.
Nếu cần chữa bệnh, xin liên lạc trực tiếp với bác sĩ của bạn).
Bs Vũ Quý Đài, M.D., Ph.D.
Copyright,
2006. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn
Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |