Thời Sự Y Học số 96
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÔNG CUỘC KHÁM PHÁ CÁC HORMONES
Cách nay gần hơn 100 năm, các nhà khoa học đã khám phá sự hiện hữu của cái gì đó giống với các hormones. Thầy thuốc người Anh Edward Albert Sharpey-Schafer đã đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc khám phá này.
Sự khám phá các hormone ( xuất phát từ chữ Hy Lap “hormao” có nghĩa là “tôi làm chuyển động”) tương đối mới xảy ra gần đây. Người thầy thuốc người Anh Edward Albert Schafer, gốc Đức, có cuộc đời khá đặc biệt, đã đóng một vai trò không phải là ít trong việc khám phá này. Edward Albert Schafer sinh ngày 2 tháng sáu năm 1850 ở Hornsey, Middlesex. Ông là đứa con thứ ba của một thương gia sinh ở Hambourg ; ông này lấy quốc tịch Anh một ít lâu sau khi di trú sang Anh. Scafer học Y Khoa ở University College ở Luân Đôn và ông nhận văn bằng năm 1874. Ngay tức thời, ông được bổ nhiệm làm trợ lý sinh lý học thực hành. Vào năm 28 tuổi, ông được bầu Fellow of the Royal Society. Năm 1899, ông dời đến Ecosse. Ở đây người ta đề nghị ông ghế giáo sư, một chức vụ mà ông đã chấp nhận và giữ cho đến lúc về hưu năm 1933.
CHỐNG ĐỨC
Thế giới chiến tranh lần thứ nhất đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Schafer. Vào năm 1912, ông trở thành chủ tịch của British Medical Association và năm 1913, ông được phong hiệp sĩ (chevalier). Hai đứa con trai của ông (ông cũng có 3 cô con gái) chết vào lúc chiến tranh. Chính ông đã thay đổi tên họ thành Sharpey-Schafer. Một mặt để tỏ lòng tôn kính người dìu dắt ông là William Sharpey và, mặt khác, để thoát khỏi những tình cảm chống Đức vào thời đó. Ông chết ngày 29 tháng ba năm 1935 ở North Berwick.
Nhưng chúng ta hãy trở lại năm 1893. Vào lúc một buổi lên lớp, trong khi ông đang đo huyết áp của một con chó, thì Schafer được George Olivier đến viếng thăm. Sau sự việc làm ông rối loạn này, Schafer bắt đầu đo huyết áp trở lại cho con chó. Sau khi huyết áp đã được đo xong, Olivier yêu cầu ông đo lại, nhưng sau khi đã tiêm vào con chó một chất trích của tuyến thượng thận. Vào lúc đo lần thứ hai này, huyết áp con chó hoàn toàn lên cao vút.
ADRENALINE
Olivier đã đạt mục đích, và cùng với Schafer, họ bắt đầu nghiên cứu yếu tố có công hiệu đã gây nên một phản ứng mạnh như thế. Nhưng đó là việc hoài công bởi vì hai nhà khoa học đã không bao giờ tìm ra yếu tố này. 10 năm sau, năm 1901, hoạt động độc lập với nhau, nhưng gần như cùng thời, Jokichi Takamine và Thomas Bell Aldrich đã khám phá ra Adrénaline. Hay đúng hơn là épinéphrine, như người ta đã thường gọi ở Hoa Kỳ. 3 năm sau, Friedrich Stolz đã thành công tổng hợp được chất này. Như thế Adrénaline đã trở nên hormone đầu tiên được tổng hợp, mặc dầu thuật ngữ hormone chưa hiện hữu vào thời kỳ đó.
Những công trình tiền phong của William Maddock Bayliss và người anh rể của ông Ernest Henry Starling, cũng tiến triển và ngày 16 tháng giêng năm 1902, họ đã tiêm acide hydrochlorhydrique vào trong tá tràng (duodénum) của một con chó. Trong thí nghiệm của họ, tá tràng được nối duy nhất vào cơ thể của con chó bằng các tĩnh mạch, như thế cho phép Bayliss và Starling quan sát rõ những tác dụng gây nên bởi các mũi tiêm acide hydrochlorhydrique. Họ đã chứng nhận rằng, để phản ứng lại với mũi tiêm này, tụy tạng của con chó bắt đầu tiết ra một chất dịch. Từ đó họ kết luận rằng tá tràng đã gởi vào trong tụy tạng một chất và tụy tạng đã phản ứng lại với chất này. Họ đã gọi chất này là sécrétine và đã tường thuật lại “một buổi chiều lớn vì khoa học” trong một bài báo dành cho công cuộc khám phá mà họ đã thực hiện.
Còn về những hormone khác, phần lớn còn phải đợi lâu hơn. Vào mùa thu năm 1929, Edward Doisy đã loan báo rằng ông đã phân lập được hormone nữ oestrogène. Năm 1934, đến lượt progestérone. Chỉ vào năm 1935, ở Amsterdam, Ernst Laqueur đã phân lập testostérone từ các tinh hoàn của bò mộng . Ông theo đuổi công trình của nhà khoa học người Đức Adolf Butenandt. Ông này vào năm 1931 đã phân lập androstérone từ 25.000 lít nước tiểu nam giới. Còn hormone tăng trưởng, somatotrophine, chỉ được khám phá vào năm 1972 và còn phải đợi 5 năm nữa người ta mới khám phá ra EPO. Nguồn: (SEMPER 9/2008)
2/ GIẢI THƯỞNG NOBEL DÀNH CHO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI VIRUS
Giải thưởng Nobel cho các nhà khám phá các siêu vi trùng gây bệnh sida và papillome người. Giải thưởng Nobel về y học năm 2008 đã được trao cho các người Pháp Luc Montagnier và Françoise Barré-Sinoussi của Viện Pasteur vì đã khám phá ra virus gây bệnh sida năm 1983 và cho người Đức Harald zur Hausen vì những công trình của ông về ung thư của cổ tử cung
Người ta đâu có nạp đơn ứng viên để xin được giải thưởng Nobel về y học. Chính vì thế Françoise Barré-Sinoussi, sau khi đã hay tin hôm sáng thứ hai rằng bà đã được giải thưởng Nobel về y học, trong khi bà đang làm việc trong văn phòng của viện Pasteur Phnom Penh, bà đã không thể che dấu được sự ngạc nhiên và xúc động. Bà chia sẻ giải thưởng này với Luc Montagnier (được biết nhiều hơn), vì đã có công khám phá ra virus gây bệnh sida vào năm 1983. Hai nhà nghiên cứu người Pháp chia nhau một nửa của giải 1,02 triệu euros. Harald zur Hausen nhận nửa kia của giải. Đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu người Pháp nhận giải Nobel về y học từ năm 1980, là năm giải được trao cho giáo sư Jean Dausset. Việc trao giải thưởng này cho nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur, mà không có các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, cho phép kết thúc vĩnh viễn cuộc tranh cãi giữa Montagnier và Gallo. Hai nhà nghiên cứu này đã đấu tranh trong những năm dài, trước khi những công trình nghiên cứu trong việc khám phá virus gây bệnh sida của nhóm nghiên cứu người Pháp được công nhận là xảy ra trước nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ.
Ngày 20 tháng 5 năm 1983, trong một bài báo được công bố trong Science, một nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur Paris, được điều khiển bởi giáo sư Luc Montagnier, đã mô tả một virus mới, bị nghi là nguyên nhân của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (SIDA : syndrome d’immunodéficience acquise, hay AIDS : acquired immunodeficiency syndrome). Được phân lập từ một bệnh nhân với huyết thanh dương tính (séropositif), virus này đã được đặt tên là LAV vì siêu vi trùng này liên kết với bệnh hạch bạch huyết (lymphadénopathie). Công cuộc khám phá của Barré-Simoussi, 61 tuổi, và của giáo sư Luc Montagnier, 76 tuổi, “đã là thiết yếu cho sự thông hiểu hiện nay về sinh học và trị liệu kháng rétrovirus của bệnh này”, các chuyên gia của ủy ban Nobel đã ghi nhận như thế.
MỘT QUYỀN TÁC GIẢ ĐƯỢC CÔNG NHẬN
Quyền tác giả được công nhận là một quyết định dứt khoát trong mối tranh chấp giữa nhóm nghiên cứu của Montagnier với nhóm nghiên cứu của người Mỹ Gallo ; ông này được công nhận như là người cùng khám phá ra virus, nhưng ủy ban Nobel lại không nêu tên ông này trong bảng thông báo. Vào tháng 4 năm 1984, Gallo đã loan báo là đã phân lập được một virus giống với virus do Viện Pasteur khám phá. Sau khi những tài liệu nội bộ được tiết lộ, Gallo đã được công nhận, là có “cách cư xử khoa học xấu” .
“Người ta biết rằng đó là một khám phá quan trọng nhưng người ta đã không đo lường được quy mô của trận dịch như người ta biết hiện nay” , Françoise Barré-Sinoussi đã nhớ lại như thế. “Người ta đã không đo lường được tác động của trận dịch lên lục địa châu Phi. Vào thời kỳ đó, người ta nói về căn bệnh của những người đồng tính luyến ái, của những người bị bệnh ưa chảy máu (hémophiles), của những người nghiện ma túy và người ta chưa có ý niệm rằng đó là một bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục (maladie sexuellement transmisible).”
Chúng ta hãy nhắc lại rằng tác nhân gây bệnh sida phá hủy vài bạch cầu, điều này khiến cho bệnh nhân dễ bị những nhiễm trùng được gọi là cơ hội (infections opportunistes) như lao, viêm phổi do pneumocystis carinii (pneumocytose), bệnh toxoplasma (toxoplasmose) hay một vài khối u ung thư (thường nhất là sarcome de Kaposi).
Được truyền bằng đường sinh dục, máu, hay từ mẹ sang con lúc thai nghén hay lúc cho bú sửa, virus sinh sản bằng cách sống ký sinh trên các lympho bào T4 hay CD4, của những bạch cầu đóng vai trò nhạc trưởng của hệ miễn dịch.
Sau quá trình tăng sinh, các virus mới phá hủy tế bào mà chúng làm tổ và đến gây nhiễm các tế bào khác. Sự phá hủy này gây nên một sự suy yếu của hệ miễn dịch. “ Tầm quan trọng của các công trình của Barré-Sinoussi và Montagnier phải được xét đến trong khung cảnh của trận dịch ảnh hưởng lên gần 1% dân số thế giới ”, ủy ban Nobel đã ghi nhận như thế. “Sự thành công của liệu pháp rétrovirus đã cho phép làm gia tăng hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm bởi HIV, ngày nay tương tự với hy vọng sống của những người lành mạnh”. Nguồn: (LE SOIR 7/10/2008)
3/ ROBERT GALLO, NGƯỜI CÙNG KHÁM PHÁ VIRUS HIV

Thường được giới thiệu như là người cùng khám phá ra virus HIV với Luc Montagnier, nhưng nhà nghiên cứu này của Hoa Kỳ đã không có tên trong danh sách của những người được giải thưởng của ủy ban Nobel Thụy Điển.
“Năm nay, công cuộc khám phá virus bệnh sida đã được tặng thưởng bởi giải Nobel y học”. Hôm chủ nhật, nhiều site thông tin khoa học đã đưa ra những tiên đoán, và mỗi lần như vậy đều nêu các tên của người Mỹ Robert Gallo và người Pháp Luc Montagnier. Khi đó không ai tưởng tượng rằng nhà nghiên cứu Hoa Kỳ sẽ không có tên trong danh sách của những người được giải thưởng Nobel. Tuy vậy, đó là điều đã xảy ra. Cũng không có ai đề cập đến tên của Françoise Barré-Sinoussi.
Ủy ban Nobel đã làm ngạc nhiên mọi người, công nhận sự khám phá của những người Pháp và chấm dứt vĩnh viễn một cuộc tranh cãi, phải nói là đã được giải quyết từ nhiều năm nay. Thật vậy, năm 2002, Gallo và Montagnier đã ký kết một thỏa thuận hợp tác nghiên cứu giữa hai cơ quan mà họ vẫn còn lãnh đạo cho đến hôm nay, đó là Viện virus học người, thuộc đại học Maryland và Cơ quan nghiên cứu và phòng ngừa bệnh sida thế giới. Vào tháng 12 cùng năm, cả hai đã ký một quan điểm về tương lai của nghiên cứu về HIV, trong tạp chí Hoa Kỳ Science. “Chúng ta đã trở nên khôn ngoan và chín mùi hơn”, cả hai nhà nghiên cứu đã tuyên bố như vậy với báo chí, rất đổi ngạc nhiên về sự thông hiểu nhau tốt đẹp này. Thật vậy, vào giai đoạn đầu tiên của những nghiên cứu về bệnh dịch, họ đã cộng tác chặt chẽ với nhau, Robert Gallo là một trong những chuyên viên giỏi nhất về các rétrovirus; HIV thuộc vào họ của những siêu vi trùng này.
Hôm qua, Robert Gallo, chơi đẹp, đã công nhận với thông tấn xã AP rằng ông ta “thất vọng” vì đã không được giải thưởng Nobel. Nhưng ông không chối cãi rằng “Barré- Sinoussi và Montagnier xứng đáng được phần thưởng của họ”. Tuy nhiên ông cũng chỉ rõ rằng nếu giải thưởng Nobel có thể được cấp cho ba người, thì có lẽ ông đã có thể có được một giải rồi. Tuy nhiên người ta ghi nhận rằng ủy ban Nobel Thụy Điển đã không hề đề cập đến Robert Gallo trong thông báo của họ. Robert Gallo, hơi gay gắt, đã cho biết rằng giải Nobel là một giải Châu Âu và rằng dưới mắt ông, ít nhất có những giải khác cũng uy tín như vậy trên thế giới. Nguồn: (LE FIGARO 7/10/2008)
4/ SIDA ĐÃ XUẤT HIỆN NGAY THẾ KỶ THỨ XIX

Bệnh Sida xuất hiện 50 năm sớm hơn người ta tưởng và virus đã biến dị nhiều lần trước khi tăng sinh.Virus chịu trách nhiệm 95% những lây nhiễm hiện nay có thể đã chào đời giữa năm 1884 và 1924. Virus, nguyên nhân của trận đại dịch sida trên thế giới ngày nay, được khám phá năm 1981 và đã làm lây nhiễm 55 triệu người vào cuối năm 2007, đã đến từ đâu ? Một công trình nghiên cứu mới, được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Congo, Pháp và Bỉ và được công bố bởi tạp chí Nature, mang lại một ánh sáng mới về nguồn gốc của HIV
Mãi đến ngày nay, người ta nghĩ rằng HIV, siêu vi trùng gây suy giảm miễn dịch nơi người, đã xuất hiện vào khoảng năm 1930, ở châu Phi, do sự truyền giữa các loài (transmission interespèce) của một biến thể của virus dạng khỉ, từ con tinh tinh (chimpanzé) qua người, có thể xảy ra trong lúc săn bắn hay lúc ăn phải thịt bị nhiễm trùng. Một công trình nghiên cứu di truyền “ khảo cổ học ”, mà các kết quả được công bố trong tạp chí Nature, đặt thời điểm truyền bệnh này ít nhất nửa thế kỷ trước đó, hoặc một thế kỷ trước khi virus trở nên một vấn để y tế công cộng quan trọng, vào năm 1981, tức hai năm trước khi Montagnier và Gallo nhận diện được virus.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành như thế nào để đạt được kết luận này ? Họ đã phân tích một mẫu nghiệm virus HIV, trích từ một bệnh phẩm của hạch bạch huyết được bảo quản trong paraffine và rất mới đây vừa được làm cập nhật. Bệnh phẩm này, được bảo quản ở khoa cơ thể bệnh học của Đại học Kinshasa, rồi được chuyển về Đại học Arizona, vốn đã được lấy từ một phụ nữ 48 tuổi ở Kinshasa vào năm 1960. Michael Worobey (đại học Tucson, Arizona) đã phân tích bệnh phẩm này và đã khám phá, trong một mẫu nghiệm sinh thiết của một hạch bạch huyết của người phụ nữ này, dấu vết của virus bệnh sida. Đó là các acide nucléique, hay nói một cách khác, là các mảnh của các gène của ADN, đã được bảo quản như thế trong 48 năm. Thế mà, mãi đến ngày nay, chỉ có một mẫu nghiệm duy nhất khác, có từ trước năm 1976, được khám phá vào năm 1959, cũng ở Kinshasa.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã phân tích di truyền hai giống gốc 1959 và 1960 (ZR59 và DRC60), và đã so sánh chúng với một trăm mẫu nghiệm mới đây, để quan sát những biến dị đã xảy ra. Kết quả ? Sự so sánh cho thấy rằng hai virus đã rất khác nhau, khiến có thể suy đoán rằng tổ tiên chung của virus này đã xuất hiện sớm hơn nhiều điều mà người ta đã nghĩ trước đây.
ADN của virus HIV biến dị một triệu lần nhanh hơn ADN của một loài động vật, BS Paul Sharp đã ước tính như thế trong một bài báo của Nature. Trong vài thập niên, một số không phải là ít những biến dị của virus bệnh sida đã được quan sát.
Theo các nhà nghiên cứu, nếu người ta tính đến tốc độ biến dị của virus bệnh sida, thì tổ tiên nguồn gốc của trận đại dịch thế giới ngày nay, ắt hẳn phải cổ hơn nhiều.Trong lịch sử của trận dịch nơi người, tổ tiên virus của HIV là một virus của sự giảm miễn dịch của khỉ (SIV). Virus cổ đại này đã gây nhiễm tự nhiên các con tinh tinh ở vùng Trung và Tây phi.
Những nghiên cứu khảo cổ học về một virus có ích lợi gì? “ Như đối với virus cúm năm 1918, một sự hiểu biết sâu rộng hơn về tiến triển của virus và phương cách mà nó biến dị từ những trường hợp đầu tiên ở châu Phi, có thể cho một cái nhìn chính xác hơn về độc lực và về tiến triển của những giống gốc hiện nay. Điều này có thể cho những hướng để ngăn ngừa trận dịch”, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như thế. 33 triệu người sống với virus HIV và 28 triệu người đã chết vì nó từ năm 1981. Nguồn: (LE SOIR 3/10/2008) (LE FIGARO 2/10/2008)
5/ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CẮT BAO QUY ĐẤU CHỐNG SIDA

Vào lúc mà hiệu quả của sự cắt bao quy đầu như là phương tiện phòng ngừa đang gây tranh cãi, những dữ kiện mới trên hiện trường vừa được trình bày ở Hội Nghị Quốc tế về sida lần thứ XVII, diễn ra ở Mexico. Chúng ta hãy nhớ rằng 33 triệu người bị nhiễm trùng bởi VIH vào cuối năm 2007 .
Từ tháng 12/ 2006, người ta biết rằng sự cắt bao quy đầu nơi nam giới làm giảm 60%. các nguy cơ truyền VIH. Thật vậy bao quy đầu được cấu tạo bởi những tế bào đặc biệt rất dễ bị thương tổn bởi virus. Đó cũng là một vùng mảnh dẻ, nơi các thương tổn vi thể có thể xuất hiện lúc giao hợp. Sau cùng, môi trường nóng và ẩm của nó làm dễ sự tồn tại của VIH sau khi bị lây nhiễm. Do đó, cắt bỏ bao quy đầu làm giảm những cửa đi vào của virus. Da của dương vật cứng lại, trở nên một hàng rào chắn tốt hơn. Vấn đề duy nhất : cắt bao quy đầu làm giảm nguy cơ, nhưng không có tác dụng bảo vệ.
Làm sao tránh những cảm giác an toàn giả tạo và nhiều hành vì nguy cơ hơn?.Một công trình nghiên cứu của Pháp, của cơ quan nghiên cứu quốc gia về bệnh sida, thực hiện trên 1.201 người đàn ông và 1.399 phụ nữ của quận Orange Farm ở Nam Phi, cho thấy rằng 55% đàn ông đã tuyên bố là đã được cắt bao quy đầu nhưng thực ra không phải là như vậy. Sự không hiểu biết này tăng cường ý tưởng rằng, để được chấp nhận và có hiệu quả, sự cắt bao quy đầu phải được thực hiện miễn phí và kết hợp với một mức cao về thông tin. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
6/ BISPHENOL A

Bisphénol A (BFA) , ngày nay có thể được phát hiện nơi hơn 90% dân số, dường như được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch. Được thêm vào polycarbone được sử dụng trong nhiều đồ vật, những bình sữa cho con bú cũng như trong những résines époxy hiện diện ở mặt trong các đồ hộp thực phẩm bằng sắt tây, BFA có mặt khắp nơi trong môi trường sống của chúng ta. Năm qua, các trung tâm kiểm tra và phòng ngừa bệnh tật đã tiết lộ rằng BFA đã được phát hiện trong nước tiểu của 93% những người tham dự vào công trình nghiên cứu National Health and Nutrition Examination Survey.
Những nồng độ cao bisphénol A (BPA), được sử dụng trong việc chế tạo các chai bằng plastique và bao bì thực phẩm, được liên kết với một nguy cơ cao hơn mắc phải bệnh tim mạch, bệnh đái đường và các bất thường gan, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong Jama.
Phân tích các dữ kiện, được thực hiện trên 1.455 người Mỹ, tuổi từ 18 đến 74, các tác giả của nghiên cứu đã khám phá rằng những nồng độ cao nhất của BPA trong nước tiểu được liên kết với một sự gia tăng trung bình 39% nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh đái đường loại 2 và những bất thường của các men gan. Các nhà nghiên cứu đã chia những người tham dự thành 4 nhóm ngang nhau, tùy theo nồng độ của BPA trong nước tiểu của họ. 15% những người tham dự có nồng độ BPA cao nhất, có một nguy cơ bị bệnh tim mạch gần 3 lần lớn hơn 25 % những người tham dự có nồng độ BPA thấp nhất. Đối với bệnh đái đường, nguy cơ được nhân lên 2,4 giữa hai nhóm này. Sự gia tăng của nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch được nhận thấy ngay cả khi sự tiếp xúc hàng ngày với những nồng độ BPA, 50 đến 100 lần thấp hơn những nồng độ đến nay được cho là an toàn. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện giữa năm 2003 và 2004 là công trình rộng rãi nhất được thực hiện trên người để đánh giá nguy cơ do BPA gây nên.
Công trình nghiên cứu này xác nhận những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, đã được thực hiện trên động vật và đã phát hiện những hiệu quả có hại của BPA với nồng độ thấp, đặc biệt vào lúc tăng trưởng . Như thế BPA có thể gây nên những biến đổi trong não bộ, tuyến tiền liệt, các tuyến vú và biến đổi tuổi dậy thì nơi các thiếu nữ.
BPA là một sản phẩm hoá học thuộc họ các hợp chất hữu cơ thơm (composés organiques aromatiques). Chất này cũng được xem như là một chất gây rối loạn nội tiết (un perturbateur endocrinien). BPA đã là đối tượng của nhiều nghiên cứu trong những năm 1930, khi người ta thấy đó là một oestrogène tổng hợp.Trên cơ sở những công trình nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi công nghiệp các chất plastique, từ lâu công nghiệp này lập luận rằng BPA không có một mối nguy cơ nào bằng đường ăn uống đối với loài người. Nhưng những nghiên cứu khác, độc lập, được tiến hành trên chuột và người, mới đây đã đi đến kết luận khác, đối với BPA lẫn phtalates. Những chất phtalates cũng hiện diện trong cac đồ plastique và có thể có một tác dụng âm tính lên những chức năng nội tiết, đã bị cấm chỉ trong Liên Hiệp Châu Âu. Được công bố năm 2007 trong tạp chí Environmental Health Perspective, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã xác lập nơi người những mối tương quan giữa các nồng độ phtalates trong nước tiểu và chứng béo phì vùng bụng (obésité abdominale).
Vào giữa tháng 4 năm nay, chính phủ Canada loan báo ý định cấm sự thương mại hóa các bình sữa (biberons), được cấu tạo bởi plastique chứa bisphénol A (BPA), từ nay được xem là chất độc bởi đất nước này. Ở Hoa Kỳ, nhiều người hữu trách thuộc đảng Dân Chủ vừa yêu cầu Cơ quan quản trị thực và dược phẩm hãy đánh giá lại những mức độ tiếp xúc có thể được xem là có thể chấp nhận được về phương diện y tế. Nguồn: (LE SOIR 29/9/2008) (LE JOURNAL U MEDECIN 2/10/2008) (LE MONDE 6/5/2008)
7/ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG : VACCIN BỊ ĐẶT VẤN ĐỀ.
Để biết xem việc tiêm chủng có sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong hay không là quá sớm. Cũng vậy, chúng ta không biết được bao lâu vaccin sẽ che chở cuộc sống của các phụ nữ được tiêm chủng.
Từ vài năm nay, cộng đồng y khoa và nhiều giới hữu trách y tế quốc gia đã tán dương vaccin chống lại vài papillomavirus, nguồn gốc của các ung thư cổ tử cung. Tuy vậy nhiều tiếng nói lạc điệu đã được nghe ở hội nghị thế giới về ung thư tổ chức ở Genève. Trong New England Journal of Medicine (21/8/2008) nhiều bài báo và một bài xã luận đặt những câu hỏi mà những kỹ nghệ gia lẫn các cơ quan y tế đều không thể trả lời được. Hiện nay, hai vaccin Gardasil (Sanofi Pasteur Merck Sharp Dome) và Cervarix (GlaxoSmithKline) được cho phép và khuyến nghị ở Pháp cũng như ở Hoa Kỳ và trong 61 nước khác. Chúng bảo vệ chống lại sự nhiễm trùng bởi hai giống gốc papillomavirus người (HPV 16 và 18), được lây truyền bằng đường sinh dục. Gần 80% các phụ nữ trưởng thành bị nhiễm trùng (có hàng trăm giống gốc virus, nhưng HPV 16 và 18 chịu trách nhiệm 70% các ung thư ). Những virus này gây nên sự xuất hiện các thương tổn tiền ung thư, không gây triệu chứng trong thời gian lâu, và các mụn cóc sinh dục (verrues génitales), cuối cùng lót đường cho ung thư cổ tử cung. Một nửa triệu những trường hợp ung thư mới xảy ra mỗi năm, trong đó 80% trong các nước nghèo, điều này biện minh cho chiến dịch chủng ngừa. Nhưng từ khi được thương mãi hóa tháng 6 năm 2006, nếu hàng chục triệu các thanh thiếu nữ và phụ nữ được chủng ngừa, và mặc dầu những mong đợi lớn và những kết quả thử nghiệm lâm sàng đầy hứa hẹn, nhưng nhiều câu hỏi vẫn không được trả lời .
Trước hết không ai biết được các thiếu nữ trẻ tuổi người Pháp (14 tuổi) được chủng ngừa, có sẽ tránh được một số lượng ung thư quan trọng hay không, cũng như không ai biết được tỷ lệ tử vong của ung thư này có sẽ được làm giảm bởi vaccin hay không ?
Câu hỏi khác: vaccin chống HPV có thể bảo vệ các phụ nữ trong bao lâu?
Câu hỏi khác : hai vaccin chỉ bảo vệ chống lại HPV 16 và 18, thế mà có nhiều papillomavirus khác, một vài thường ít gặp hơn. Thế thì, có thể có một nguy cơ tạo nên, do việc tiêm chủng, một áp lực chọn lọc làm xuất hiện những virus khác mà vaccin không có hiệu quả? Nguồn:
(LE FIGARO 29/8/2008)
8/ UỐNG MỘT VIÊN THUỐC NHỎ ASPIRINE MỖI NGÀY CÓ BẢO VỆ CHỒNG LẠI BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM ?
Trước hết phải xác nhận rằng việc điều chỉnh toàn bộ các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành phải là điều chủ yếu. Nếu không có những yếu tố nguy cơ thì việc uống aspirine mỗi ngày đã không được chứng tỏ là có một lợi ích gì, trong khi đó vẫn có những tác dụng phụ có thể xảy ra. Những phản ứng phụ này chủ yếu rối loạn dạ dày tá tràng và khả năng chảy máu kéo dài trong trường hợp bị vết thương hay nhổ răng. Nghiêm trọng hơn là xảy ra, nhưng hiếm, một loét dạ dày và, rất ngoại lệ, một xuất huyết dạ dày-ruột hay não .
Trái lại, nơi những người với tiền sử tai biến tim mạch (nhồi máu, tai biến mạch máu não, can thiệp trên các động mạch vành, viêm động mạch ngoại biên) hay có một nguy cơ gia tăng rõ rệt bị biến chứng động mạch vành căn cứ trên profil nguy cơ của họ, những lợi ích của vai trò bảo vệ của aspirine vượt trội những bất lợi liên quan với những tác dụng phụ này. Ngay ở những người với nguy cơ thấp, vai trò phòng ngừa những tai biến tim mạch bởi aspirine được chứng minh trên cơ sở những kết quả của một phân tích méta của 6 công trình nghiên cứu, với một sự giảm tỷ lệ nguy cơ bị nhồi máu 23%. Để làm giảm những tác dụng phụ, cần uống mỗi ngày một viên aspirine nồng độ thấp (từ 75 đến 100 mg). Liều lượng này đủ để kiểm soát tình trạng tăng đông huyết của máu, vừa làm giảm thiểu nguy cơ bị các biến chứng. Chúng ta cần biết rằng vài loại thuốc có thể cản tác dụng của aspirine, như vài chất kháng viêm. Chính vì lẽ đó luôn luôn cần hỏi ý kiến BS gia đình của mình.
Vẫn còn hai câu hỏi không được giải quyết :
Xét vì khả năng gây ra những phản ứng phụ tuy thấp nhưng có thật, thế thì có nên cho aspirine trong trường hợp nguy cơ tim mạch thấp hay không ? Chúng ta sẽ đợi những kết quả của một công trình nghiên cứu lớn (ARRIVE) hiện đang được tiến hành, rồi mới phát biểu.
Câu hỏi khác : Aspirine có phải uống một cách vô hạn định hay không ?
Có lẽ vâng, vì lẽ ngay ở những người mà những yếu tố nguy cơ được kiểm soát tốt, nguy cơ tai biến tim mạch còn lại vẫn cao so với những người không có yếu tố nguy cơ. Ngừng điều trị (thí dụ lúc phẫu thuật, nhổ răng, đục thủy tinh thể) sẽ không bao giờ được làm mà không có ý kiến của thầy thuốc, và không được quên uống trở lại aspirine ngay khi có thể được (thường ngay sáng hôm sau sau phẫu thuật).
Thật vậy, một phân tích méta trên 50.000 bệnh nhân đã cho thấy rằng những người ngừng điều trị một cách không cân nhắc có một nguy cơ tai biến tim mạch nhân lên 3 lần. Những kết quả tương tự có thể xảy ra trong trường hợp uống thuốc không đều đặn. Điều này đặc biệt đúng đối với những người mang một stent động mạch. Nguồn: (COEUR ET ARTERES 9/2008)
9/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : CHÚ Ý NHỮNG BÁO ĐỘNG THỊ GIÁC

Bệnh thiên đầu thống (migraine) được kèm theo bởi các dấu hiệu báo trước, nhất là thị giác, hay chứng thiên đầu thống với aura, gây bệnh cho khoảng 7% dân số, theo những thống kê mới nhất của Hoa Kỳ. Như những dữ kiện thu được trong công trình nghiên cứu nổi tiếng Women’s Health Study gợi ý, trong đó 26.000 phụ nữ đã tham dự và được theo dõi trong 11 năm, chẩn đoán thiên đầu thống với aura phải được theo sau bởi một bilan tim mạch chính xác. Thật vậy, sự hiện diện của một aura trong thiên đầu thống là một chỉ dấu tốt báo trước nguy cơ bị tai biến mạch máu não, ngay cả khi không có yếu tố nguy cơ huyết quản. Ngược lại, sự hiện hiện của một aura chỉ làm gia tăng khả năng xảy ra một nhồi máu cơ tim nếu đã có những yếu tố nguy cơ tim, và đặc biệt những nồng độ cao cholestérol. Về thiên đầu thống không có aura, trường hợp này dường như không làm gia tăng nguy cơ đột quỵ hay nhồi máu cơ tim. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 10/2008)
10/ BỆNH HƯ KHỚP VÙNG THẮT LƯNG ( ARTHROSE LOMBAIRE) : MỘT PHẪU THUẬT VI XÂM NHẬP MỚI.

Hỏi : Các hư khớp (arthroses) ở vùng các đốt sống thắt lưng có thường xảy ra không ?
BS Jean- François Lepeintre : Vâng, sau 60 tuổi, khoảng 25% dân số bị hư khớp ở cột sống thắt lưng.

Hỏi : Các triệu chứng của hư khớp thắt lưng là gi ?
BS J.F.L : Lúc đầu các triệu chứng được biểu hiện bởi những cơn đau đớn thuần vùng thắt lưng khi cử động hàng ngày, rồi sự đau đớn khó chịu này gia tăng với thời gian, càng ngày càng làm bệnh nhân trở nên mất năng lực. Nói chung, các hư khớp này sau cùng đưa đến những cơn đau loại đau dây thần kinh tọa trong các cẳng chân, gây nên do các rễ thần kinh bị đè ép nơi các đốt sống thắt lưng.
Hỏi : Thường thường một hư khớp vùng thắt lưng được điều trị như thế nào ?
BS J.F.L : Ngay khi chẩn đoán được xác lập, người ta xem xét ngay điều trị nội khoa bao gồm các chất chống viêm cho bằng đường miệng và tiêm ngấm tại chỗ (infiltrations locales), các thuốc chống đau và các chất làm duỗi cơ (décontractants musculaires). Thường thường người ta kết hợp thêm các buổi vật lý trị liệu pháp để phục hồi những cử động và sự cân bằng tĩnh của vùng thắt lưng. Nơi một số bệnh nhân, phương cách điều trị nội khoa này cho phép kềm chế các triệu chứng trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Tiếc thay, đối với những bệnh nhân khác, cách điều trị này không đủ hiệu quả và những cơn đau sẽ vẫn tồn tại kéo dài.
Hỏi : Trong những trường hợp nào, phải nghĩ đến phẫu thuật ?
BS J.F.L : Nơi những bệnh nhân vẫn tiếp tục đau mặc dầu sau nhiều tháng điều trị nội khoa. Quyết định này được thực hiện sau một cuộc hội chẩn giữa thầy thuốc khoa thấp khớp và một thầy thuốc ngoại khoa chuyên về bệnh cột sống. Mục đích của phẫu thuật là giải thoát các rễ thần kinh bị đè ép bởi các khớp bị thương tổn và gia tăng thể tích. Thường nhất, sự đè ép này được gia tăng bởi một sự thoái hóa đĩa liên đốt sống (mất chiều cao liên đốt và thoát vị đĩa liên đốt sống).
Hỏi : Với kỹ thuật quy ước, động tác ngoại khoa là động tác nào ?
BS J.F.L : Đó là một phẫu thuật khá nặng nề : nhà phẫu thuật cắt bỏ các cơ vùng thắt lưng để giải tỏa các đốt sống. Rồi thực hiện một sự giảm đè ép các rễ thần kinh để giải thoát chúng (lấy đi các khớp bị thương tổn và đĩa liên đốt sống). Sau đó cần phải thực hiện phẫu thuật làm ổn định cột sống bằng ghép xương.
Hỏi : Phương thức cổ điển để thực hiện phẫu thuật làm cứng khớp (arthrodèse) này ?
BS J.F.L : Phương thức bao gồm một sự tự ghép (autogreffe) với mảnh ghép (greffon) được lấy hoặc ở xương chậu, hay ở các miếng xương của cột sống đã được lấy đi.Tùy theo những trường hợp, nhà phẫu thuật cắm mảnh ghép vào nơi của đĩa liên đốt sống bị cắt bỏ hoặc thiết đặt hai bên cột sống hai loại cột xương nâng đỡ. Mặc dầu những kết quả tốt, phẫu thuật được thực hiện bằng đường cổ điển có vài bất tiện : trước hết cần một đường xẻ lớn từ 15 đến 20 cm, điều này dễ đưa đến nguy cơ xuất huyết trong lúc phẫu thuật không phải là ít (như vậy cần phải thường xuyên truyền máu). Những cơn đau sau phẫu thuật, thường mạnh, đòi hỏi điều trị bằng Morphine và nằm liệt giường 48 giờ. Thời gian nhập viện thay đổi từ 8 đến 10 ngày. Đời sống hoạt động chỉ có thể tái tục sau hai hoặc ba tháng.
Hỏi : Một kỹ thuật mới có cho phép làm giảm tính hung bạo của phẫu thuật này hay không ?
B.S J.F.L : Có một phẫu thuật ít xâm nhập hơn, trong đó người ta không cắt các cơ nữa và người ta thực hiện một đường xẻ nhỏ 20 mm ở hai bên đường chính diện ở vùng dưới của lưng. Qua đường xẻ này, nhà phẫu thuật, dưới sự kiểm tra của quang tuyến, trước hết đưa vào một ống có đường kính 1mm cho đến tận vùng cần được mổ. Nhưng để có thể có một phẫu trường đầy đủ, cần phải mở rộng lỗ mổ này. Nhà phẫu thuật sẽ thực hiện điều đó bằng cách đưa vào lần lượt các ống có đường kính tăng dần cho đến khi mở được một khoảng 20 mm.Vào giai đoạn kế tiếp, với những dụng cụ ngoại khoa được thích ứng một cách chuyên biệt, nhà phẫu thuật sẽ thực hiện cùng các động tác giải phẫu như trong kỹ thuật quy ước.
Hỏi : Những kỹ thuật mới vi xâm nhập qua cơ này có đáng phấn khởi không ?
B.S J.F.L : Ở Pháp, với một khoảng thời gian nhìn lại 2 năm rưỡi, các kết quả tỏ ra cũng tốt bằng những kết quả được quan sát sau một phẫu thuật cổ điển : 80% các bệnh nhân tuyên bố thỏa mãn với sự biến mất hoặc giảm rõ rệt các cơn đau và trở ngại lúc bước.
Hỏi : Những ưu điểm chính của giải phẫu vi xâm nhập này ?
B.S J.F.L : Có 6 ưu điểm quan trọng :
1. Đường xẻ nhỏ hơn làm giảm các nguy cơ nhiễm trùng và để lại một vết sẹo ít được thấy rõ.
2. Trong lúc phẫu thuật, những xuất huyết rõ rệt ít quan trọng hơn. 3. Vì người ta không cắt cơ nửa, nên những đau đớn hậu phẫu ít hơn.
4. Thời gian nhập viện ngắn hơn : khoảng 4 ngày.
5.Việc tái hoạt động trở lại nói chung nhanh hơn : một tháng sau phẫu thuật.
6. Do tính chất ít hung bạo hơn, kỹ thuật này có thể thích hợp với những người lớn tuổi hơn. Đối với những người này, các thầy thuốc thường do dự khi đề nghị phương pháp ngoại khoa cổ điển. Nguồn: (PARIS MATCH 4/9-10/9/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/10/2008 )


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học