Thời Sự Y Học số 95
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ VỊ THẦY BÁCH KHOA
Chính trong triều đại nhà Minh mà nền y học Trung Hoa đã trải qua thời kỳ vàng son. Vào năm 158, gương mặt tiêu biểu của thời kỳ này, Li Shizhen, đã hoàn thành kiệt tác của mình, “ Bencao Gangmu ”, một tác phẩm tham khảo mô tả chi tiết gần 2000 loại thuốc.
Không phải là tình cờ khi Li Shizhen (1518-1593) đã dấn thân vào sự nghiệp y khoa. Ông nội của ông đã đi khắp vùng thôn quê Trung Hoa để phục vụ điều trị nhân dân. Đến lượt ông bố ông cũng bắt đầu theo nghệ thuật chữa trị ; là nhà giáo, ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm có ảnh hưởng và đã thành công vương lên trên các nấc thang xã hội. Ông khuyên con mình theo nghề nghiệp công chức...nhưng, sau khi thi hỏng 3 lần kỳ thi tuyển chọn, Li Shizhen cuối cùng quyết định tiếp nối ngọn đuốc của gia đình.
ƯỚC MƠ
Li Shizhen trong suốt 4 năm theo cha học nghề. Sau khi đã điều trị thành công một ông hoàng bị bệnh trong vùng, ông trở thành thầy thuốc riêng của nhà vua trước khi được thăng, vài năm sau, làm phụ tá của giám đốc viện hoàng gia y học ở Bắc kinh. Những giấc mơ mà cha ông đã hằng ấp ủ về ông liệu có khả năng trở thành hiện thực với vài năm bị chậm trễ hay không ? Không ! Chán nghề y khoa, một năm sau ông lại thay đổi ý định.
Tuy nhiên dường như rằng việc ông chuyển qua ngạch công chức không phải là không có tầm quan trọng ; chức vụ này đã cho phép ông tham khảo nhiều tác phẩm y học, thường là hiếm và quý, và ông ngạc nhiên bởi những suy lý thuờng mâu thuẫn nhau trong những cuốn sách này. Chính như vậy mà tư tưởng của kiệt tác của ông “ Bencao Gangmu ” (“ Những khía cạnh chính của nghiên cứu rễ và cỏ ”) được nẩy mầm, một loại Materia Medica mô tả tất cả các thuốc có thể có và có thể tưởng tượng ra, nói tóm lại, một tự điển bách khoa về cỏ và cây thuốc.
CÔNG VIỆC CÔNG PHU
Li Shizhen làm việc trong 27 năm cho tác phẩm đồ sộ này, huyền thoại thuật lại rằng suốt trong 6 năm ông không rời khỏi nhà. Tuy nhiên sức khỏe của ông bị suy sụp đến độ ông không còn có cơ hội nữa để thấy tác phẩm của ông được công bố, vì ông đã chết trước đó, do bị suy kiệt bởi cái công trình thật sự công phu này.
Tuy nhiên cống hiến của Li Shizhen cho nền y học Trung Hoa không chỉ giới hạn vào khía cạnh lý thuyết ; ông cũng góp phần vào thực hành, bởi vì ông là người đầu tiên nhận diện các sỏi thận, và cũng dùng nước đá để làm hạ nhiệt. Ông cũng khám phá sự sử dụng hơi nước trong điều trị các bệnh nhiễm trùng.
BENCAO GANGMU
Mặc dầu 6 bản của ấn bản nguyên thủy Bencao Gangmu của Li Shizhen còn đến với chúng ta ngày nay, tuy vậy tác phẩm đã được tái bản nhiều lần... điều này không có gì là đáng ngạc nhiên, bởi vì cho đến năm 1959, tác phẩm này là “ Materia Medica ” dược học chính thức của nước Trung Hòa. Có thể nói đó là một cuốn sách, và là một tác giả, có tầm quan trọng lịch sử và khoa học quan trọng.
Ngay đến ngày nay, Bencao Gangmu được xem như là tác phẩm hoàn chỉnh nhất và rõ ràng nhất đã từng được biên soạn, về nền y học cổ truyền Trung Hòa. Trong 53 tập, tác giả đã liệt kê tất cả các thực vật, động vật, chất khoáng và những vật khác có đặc tính điều trị. 4 cuốn đầu bao gồm một bảng tra (index) và một danh sách các thực vật, được sử dụng để điều trị các bệnh thông thường nhất ; các tập khác tạo thành phần chính của tác phẩm. Có mặt trong đó là 1.892 cỏ thuốc (herbes médicinales), trong đó 374 loại được khám phá bởi chính Li Shizhen, với sự mô tả hình dáng, mùi và những đặc tính trị liệu, cũng như 11.096 đơn thuốc và điều trị. Nguồn: (GENERALISTE 21/8/2008).
2/ TẬP THỂ DỤC CÓ THỂ LÀM CHẬM LẠI SỰ MẤT TRÍ NHỚ

Tập thể dục sẽ có một tác dụng thuận lợi lên sự mất trí nhớ của các người già, theo những công trình nghiên cứu của Úc. Nhiều công trình nghiên cứu quan sát đã cho thấy rằng tập thể dục làm giảm nguy cơ sa sút các chức năng nhận thức.
Các nhà nghiên cứu người Úc đã thực hiện một công trình nghiên cứu để kiểm chứng xem việc tập thể dục có thể thật sự làm chậm lại sự sa sút các chức năng nhận thức nơi một nhóm người già đã từng báo cáo về những vấn đề trí nhớ hay không . 170 người tham dự, từ 50 tuổi trở lên, đã chịu một chương trình nhằm khuyến khích họ tập thể dục ở nhà, trong một thời kỳ 24 tuần. Sau 18 tháng, các nhà nghiên cứu đã có thể chứng nhận một sự cải thiện các điểm số, được đo theo ADAS-Coq (Alzheimer Disease Assessment Scale-Cognitive Subscale) trong nhóm tập thể dục, trong khi cùng những điểm số này tỏ ra ít tốt hơn trong nhóm kiểm tra, tức nhóm của những người không hoạt động. Các tác giả kết luận rằng tập thể dục có thể có một tác dụng thuận lợi trên sự thoái hóa chức năng nhận thức trong nhóm các người lớn tuổi này. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 12/9/2008)
3/ PATCH ANTITURISTA

Một miếng thuốc cao (patch) đang được điều chế chống lại bệnh turista, bệnh được biết rõ bởi khách du lịch và đặc trưng bởi những đợt tiêu chảy, được gây nên bởi một độc tố của vi khuẩn Escherichia Coli. Được đặt trên da trước khi đi du lịch, miếng thuốc cao này làm phân tán một ít độc tố của Escherichia Coli vào trong cơ thể, điều này cho phép cơ thể tạo miễn dịch chống lại vi khuẩn này. Được trắc nghiệm trong giai đoạn 2 (độ dung nạp) trên 178 người Mỹ đi du lịch ở Mexique hay Guatemala, miếng thuốc cao này đã cho phép 84% các du khách tránh được những đợt tiêu chảy có mức độ trung bình và nặng hay làm giảm thời gian bị tiêu chảy. Nguồn: (LA RECHERCHE 9/2008)
4/ CHẠY ĐỂ LÀM NGỪNG LẠI THỜI GIAN
Theo các nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ, chạy bộ đều đặn làm chậm lại những tác dụng của tuổi già.
Chúng ta biết rằng hoạt động vật lý được liên kết với sự gìn giữ sức khỏe trong mọi loại tuổi tác, nhưng còn hiệu quả của chúng với thời gian thì sao ? Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã thực hiện một công trình nghiên cứu dài hạn (20 năm) nơi những người trưởng thành, môn đồ của môn chạy bộ. Eliza Chakravarty và các cộng sự viện (Stanford University, California) đã gởi các bảng câu hỏi hàng năm cho 538 thành viên của một câu lạc bộ bóng đá và 423 người chứng ở Californie. Tất cả đều 50 tuổi hoặc hơn vào lúc đầu công trình nghiên cứu năm 1984. Những dữ kiện thu lượm được liên quan đến việc chạy bộ và mức độ thường xuyên tập thể dục, chỉ số khối lượng cơ thể và những tình trạng mất năng lực vật lý (khả năng mỗi ngày bước, mặc quần áo, rửa ráy, đứng dậy từ ghế ngồi, lấy các đồ vật) cho đến năm 2005. Tổng cộng, 284 người chạy bộ và 156 người chứng đã điền tất các các bảng câu hỏi. Khởi đầu, những người hoạt động chạy trung bình 4 giờ mỗi tuần, sau 21 năm theo dõi, thời gian này đã giảm xuống còn khoảng 76 phút mỗi tuần.
Những kết quả cho thấy rằng vào năm 1984, những người chạy bộ trẻ hơn, mảnh dẻ hơn và ít có khuynh hướng hút thuốc hơn những người chứng. Những người chứng này cũng có nhiều tình trạng mất năng lực vật lý hơn những người thể thao, và điều này ở trong mọi thời kỳ theo dõi. Tinh trạng mất năng lực này gia tăng với tuổi tác trong hai nhóm, nhưng ở một mức độ hơi ít hơn đối với những người hoạt động nhất, khoảng 16 năm sau. Mặt khác người ta không nhận thấy tỷ lệ hư khớp (ostéoarthrite) cũng như khớp đầu gối giả (prothèse du genou) cao hơn nơi những người chạy bộ.
Sau 19 năm theo dõi, 15% những người chạy bộ đã chết, so sánh với 34% những người chứng. Những tàn phế vật lý và đường cong sống sót đã tiếp tục phân ly giữa hai nhóm sau 21 năm theo dõi, khi những người tham dự đạt đến tuổi 90.
CHUNG KẾT TỐT ĐẸP
Đối với các tác giả, việc tập thể dục mạnh mẽ (thí dụ chạy bộ) nơi những người tuổi trung niên và đứng tuổi được liên kết với một sự giảm số các tàn phế vật lý trong tuổi già và một chất lượng sống tốt hơn sau 90 tuổi. Do đó, làm sao bảo vệ sức khỏe lúc về già ? Bằng cách tập thể dục. Đối với một trong các tác giả, James Fries, điều này minh họa hoàn toàn lý thuyết sự giảm tỷ lệ mắc bệnh (théorie de compression de morbidité) : việc tập thể dục đều đặn làm kéo dài những năm sống không tàn phế và do đó một cuộc sống có chất lượng cao. “ Tiếp tục một luyện tập thể thao không nhất thiết sẽ kéo dài tuổi thọ, nhưng điều này sẽ giới hạn thời kỳ cuối đời trong đó chúng ta sẽ không còn có khả năng tự mình thực hiện những hoạt động hàng ngày được nữa. Những kết quả cũng tương quan với những thói quen sống tốt hơn nơi những người thể thao nói chung ” .
Nói một cách khác, những người chạy bộ lâu năm có thể lực tốt hơn, có một thời kỳ sống còn lại “ tích cực ” (une espérance de vie active) lớn hơn và có nguy cơ chết sớm, hai lần ít hơn so với những người không hoạt động thâm niên. Dầu đó là những bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh thần kinh, bệnh nhiễm trùng hay những bệnh khác. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 29/8/2008)
5/ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP : DẦU CÁ CÓ LỢI, THUỐC LÁ VÀ STRESS CÓ HẠI

Các kết quả của công trình nghiên cứu Thụy Điển (Epidemiological Investigation of Rheumatoid Arthritis), chưa được công bố những đã được trình bày ở EULAR 2008, hội nghị hàng năm của European League Against Rheumatism, ở Paris, cho thấy rằng dầu cá có thể bảo vệ chống lại viêm khớp dạng thấp (arthrite rhumatoide). Stress tâm lý-xã hội và nghiện thuốc lá trái lại có thể làm dễ sự xuất hiện chứng bệnh này. Người ta ghi nhận rằng công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên 1.899 bệnh nhân bị bệnh viêm khớp dạng thấp. Nguồn: (LA SEMAINE MEDICALE 11/9/2008)
6/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : HƯỚNG VỀ MỘT XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU .
Phòng bào chế bioMérieux chuẩn bị một xét nghiệm có khả năng làm đơn giản hóa sự phát hiện các ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate). Một xét nghiệm di truyền, đáng tin cậy hơn nhưng tốn kém hơn, hiện đã có để sử dụng.
Từ hai phía Đại Tây dương, cuộc tranh cãi về công tác phát hiện đại trà ung thư tuyến tiền liệt đang nở rộ từ một năm nay. Chính trong bối cảnh này, hãng bào chế bioMérieux ở Lyon hôm qua loan báo đã ký kết một thỏa thuận phát triển với một hãng sinh kỹ thuật của Đức (proteosys AG) để hiệu chính một xét nghiệm mới phát hiện ung thư tiền liệt tuyến trong nước tiểu. Cần nhắc lại rằng ung thư tiền liệt tuyến là ung thư phổ biến nhất, đứng hàng thứ 4 trên thế giới. Những chiến lược điều tra phát hiện thay đổi tùy nơi, nhưng tất cả đều căn cứ trước hết trên sự phát hiện một chất được sản xuất bởi tuyến tiền liệt và đi vào trong máu và nước tiểu. Đó là chất PSA (antigène prostatique spécifique). Tùy theo các kết quả của nhiều xét nghiệm định lượng PSA, được thực hiện nhiều lần trong thời gian, nơi cùng một người, khi đó có thể quyết định đề nghị làm một hay nhiều sinh thiết tuyến tiền liệt. Phân tích kết quả những sinh thiết này sau đó sẽ quyết định cần phải phẫu thuật hay không?
Những xét nghiệm mới thường được cho là đáng tin cậy hơn PSA, nhưng người ta vẫn không thay thế xét nghiệm cũ. Trong trường hợp bio-Mérieux, đó là đo nồng độ một protéine trong nước tiểu của bệnh nhân được khám nghiệm bằng một phương pháp phát hiện miễn dịch men tự động hóa (Elisa) cổ điển. Protéine “ chỉ dấu ” này, đó là annexine A3, thuộc một họ protéine có một vai trò quan trọng “ kiểm tra thường quy ” các phân tử trong tế bào. Ít nhất có khoảng 15 annexine và đây không phải là lần đầu tiên sự hiện diện của chúng trong các tế bào của các ung thư tiền liệt tuyến đã được xác lập.
Tại sao người ta tìm kiếm những chỉ dấu mới của ung thư tiền liệt tuyến ? Đó là bởi vì có một vùng xám (zone grise), một fourchette, trong đó trị số PSA được định lượng không cao một cách rõ rệt nhưng cũng không tuyệt đối bình thường. Do đó trong trường hợp này thầy thuốc khoa niệu rất muốn làm ngay một sinh thiết “để xem ” : nhưng hiệu quả cũng không tối ưu và động tác thủ thuật hơi nặng nề.
“QUẢN LÝ KHÔN NGOAN CHIẾN LƯỢC CỦA PSA”
“ Người ta ước tính rằng hiệu năng của sinh thiết là 30% đến 40% ”, G.S Claude Abbou (bệnh viện Henri-Mondor, Créteil) đã giải thích như vậy. Trên 100 bệnh nhân có một nồng độ PSA tăng cao, người ta chỉ phát hiện 30 đến 40 trường hợp ung thư. Ở Hoa Kỳ hiệu năng này còn thấp hơn, khoảng 15%.
Những thầy thuốc khoa niệu giỏi nhất chắc chắn đảm bảo là “ không vội phải làm một sinh thiết ”. Nếu xét nghiệm PSA đầu tiên nằm trong vùng xám, người ta có thể đợi 3 tháng rồi làm lại. Nếu vẫn ở cùng trị số, người ta vẫn còn có thể chờ đợi. Chỉ khi đường cong của PSA được nâng cao lên, khi đó nhà ngoại khoa sẽ đề nghị bệnh nhân phải chịu một thủ thuật sinh thiết.
Ở Đức, mỗi năm 300.000 sinh thiết đã được thực hiện đối với những bệnh nhân “ trong vùng xám ” của PSA. Chúng ta đã có một thói quen quản lý một cách khôn ngoan chiến lược của PSA vì vậy một trắc nghiệm mới phải có một hiệu năng rõ rệt mới có thể thay thế trắc nghiệm đang được sử dụng, G.S Guy Vallencien (Institut mutualiste Montsouris, Paris) đã đánh giá như vậy. “Trước khi vứt bỏ PSA, phải có những lý lẽ vững vàng”, G.S Jean-Marc Cosset (Institut Curie, Paris) cũng đồng ý như vậy.
Phải nói rõ rằng annexine A3 không phải là chất chỉ dấu duy nhất mà người ta muốn kết hợp với định lượng PSA. Ví dụ có một xét nghiệm di truyền đã có sẵn sử dụng trong hai phòng xét nghiệm phân tích của Pháp : Pasteur Cerba o Cergy và Biomnis ở Ivry. Xét nghiệm này cho phép định lượng trong nước tiểu, đồng thời với PSA, sự hiện diện của chất liệu di truyền (ARN messager), được biểu hiện bởi gène của ung thư tiền liệt tuyến PCA3. Mặc dầu chúng ta không biết gì hết về vai trò tự nhiên của gène này, người ta đã chứng nhận rằng nó được quá biểu hiện trong những tế bào ung thư (từ 60 đến 100 lần cao hơn những tế bào bình thường).
Điểm số PCA3 càng cao, khả năng làm sinh thiết để phát hiện một ung thư càng lớn ( đến 50% các trường hợp). Yếu tố khác rất quan trọng : điểm số càng cao, ung thư càng hung hãn. Hiện nay tổn phí của xét nghiệm là 300 Euro. Nguồn: ( LE FIGARO 26/9/2008)
7/ MỘT GEL CHỐNG CẬN THỊ

Có lẽ là một tin vui đối với những người bị bệnh cận thị. Theo một công trình nghiên cứu được công bố trong AAPOS, tạp chí của Hiệp hội Hoa Kỳ về Nhãn Khoa và Tật Lé mắt trẻ em, một thuốc gel mắt vừa chứng tỏ lợi ích trong bệnh cận thị (rối loạn nhìn các vật ở xa). Mỗi ngày, trong hai năm, các thầy thuốc nhãn khoa của đại học Oklahoma đã đặt nơi các trẻ em bị chứng cận thị mức độ vừa, một gel chứa pirenzépine. Kết quả : sự tiến triển của bệnh được làm chậm lại nơi những trẻ em được điều trị. Sự tiến bộ này đối với các trẻ em được điều trị là 0,58 dioptrie so với 0,99 dioptrie trong nhóm placebo. Cần ghi nhận rằng 11% các trẻ em đã phải ngừng điều trị vì những tác dụng phụ tại chỗ. Những thử nghiệm khác dự kiến sẽ cho phép đánh giá những hiệu quả của điều trị về lâu về dài. Rối loạn thị giác này, do một khuyết tật điều tiết, nói chung được phát hiện trong tuổi ấu thơ, để rồi gia trọng dần trong suốt cuộc sống. Khoảng ¼ dân số thế giới bị liên quan bởi rối loạn thị giác này. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 10/2008)
8/ SỰ CHUNG THỦY VỢ CHỒNG CŨNG LÀ MỘT VẤN ĐỀ GÈNE

Một công trình nghiên cứu của Thụy Điển xác định vai trò gène của vasopressine. Vài người đàn ông mang biến thể của một gène khiến họ có những quan hệ yêu đương đầy giông tố và ít gắn bó hơn với những người bạn đường của họ. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu được tiến hành bởi những nhà nghiên cứu Thụy Điển của Viện Karolinska (Stockholm), được công bố trong Annales de l’Académie Américaine des Sciences. Tên của thủ phạm? Allèle 334. Từ nhiều năm nay, các nhà nghiên cứu trên hướng tìm ra gène của chung thủy tình yêu (fidélité amoureuse). Ở chuột đồng (le compagnol des prairies), câu trả lời đã được biết từ năm 1993 : các nhà khoa học Hoa Kỳ đã cho thấy rằng sự chung thủy vợ chồng ở con chuột đực tùy thuộc vào vasopressine, một hormone có khả năng tác động đặc biệt lên não bộ. Thế thì ở loài người, nơi nam giới, một hormone như thế có một tác động hay không ?. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Thụy Điển đã tự hỏi như thế.
Mặc dầu không che dấu tính chất phức tạp của vấn đề chung thủy nơi con người, tuy vậy, Hasse Walum, Lars Westberg và các đồng nghiệp, trong Báo cáo của Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoa Kỳ, đã cho rằng hướng di truyền là đáng theo đuổi.
Chắc hẳn, những bất ngờ trong cuộc sống của con người, những ngẫu nhiên của những cuộc tình gặp gỡ, những điều cấm kỵ xã hội và tôn giáo chi phối những hành vi yêu đương của con người. Nhưng không gì ngăn cản khi giả định rằng tất cả điều đó có thể được chi phối bởi những yếu tố di truyền.
Do đó các nhà nghiên cứu đã so sánh gène của thụ thể đối với vasopressine nơi 900 người đàn ông đã sống với tư cách là chồng từ ít nhất 5 năm và là bố của một đứa trẻ tuổi thiếu niên. Ngoài ra những người tình nguyện này đã chấp thuận trả lời một bảng câu hỏi chi tiết về cuộc sống lứa đôi của họ. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập một mối tương quan giữa vài dạng gène của vasopressine và hành vi chồng vợ (comportement conjugal). Người ta nhận thấy dạng gène được gọi là 334 xuất hiện hai lần nhiều hơn nơi những người đã trải qua những khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống vợ chồng. Và dạng gène này được tìm thấy 2 lần nhiều hơn nơi những người không cưới hỏi.
CƠ CHẾ GIẢI THÍCH
Những câu trả lời của các người vợ (hay bạn gái) về chất lượng của quan hệ lứa đôi (tần số của dấu hiệu yêu thương, thời gian cùng chung hoạt động) tiết lộ rằng những điểm số xấu nhất được liên kết với những người đàn ông có dạng gène 334 của thụ thế đối với vasopressine. Do tôn trọng tính chất thầm kín, các nhà nghiên cứu đã không hỏi các ông về những quan hệ ngoại tình.
“Những công trình nghiên cứu có quy mô này được thực hiện tốt, Catherine Belzung (điều khiển nhóm Inserm imagerie et cerveau ở Tour) đã xác nhận như vậy. Mặc dầu chúng ta chưa biết cơ chế giải thích, nhưng hướng nghiên cứu mới này có lẽ đầy lý thú”. Các tác giả cho rằng dạng di truyền này hẳn phải thường thấy hơn nơi các người độc thân chai sạn“. Công trình của chúng tôi đã gợi ý rằng các cơ chế não bộ liên quan với hành vi đôi lứa nơi người đàn ông dường như tương tự với những cơ chế, đã rất được nghiên cứu, của chuột đồng, Lars Westberg xác nhận như thế. Mục tiêu của chúng tôi bây giờ là lập lại những kết quả này và trắc nghiệm nơi người hiệu quả của những liều vasopressine được tiêm vào mũi.”
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu, tác dụng của biến thể của dạng gène này là nhỏ.Vậy chẳng có ích gì phải tranh cãi về tính tội lỗi của cái “ gène gây rối ” này mỗi khi có những cơn khủng hoảng chồng vợ. Nguồn: (LE FIGARO 4/9/2008) (LE SOIR 16/9/2008)
9/ HÀNH NÀO MŨI ĐÓ

Hành khứu giác (bulbe olfactif) là một cơ quan não bộ mà chức năng là nhận diện và giải thích những tín hiệu phát xuất từ vùng tiếp nhận các mùi. Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu kết hợp hình ảnh bằng IRM với những trắc nghiệm khách quan tri giác khứu giác, chứng tỏ rằng có một mối tương quan chặt chẽ giữa cấu trúc và thể tích của hành khứu giác, và khả năng xử lý thông tin của nó. Những người cảm thấy mùi tinh vi nhất có một hành khứu giác to tướng, trong khi thể tích của vùng này của não bộ giảm nhiều nơi những người bị chứng giảm khứu giác (hyposmie) hay không cảm thấy gì hết. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
10/ NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG NGHE KÉM
Theo các kết quả của một cuộc điều tra trong đó có hơn 5.000 người tuổi từ 20 đến 70 tham dự, nguy cơ bị điếc mức độ từ nhẹ đến vừa phải là 2 đến 3 lần quan trọng hơn nơi những người bị bệnh đái đường, so với phần còn lại của dân chúng. Sau khi đã điều chỉnh theo tuổi, nguy cơ độc lập với những yếu tố làm dễ khác như một môi trường ồn ào thái quá hay sử dụng các thuốc có độc tính đối với tai.Thương tổn vi huyết quản của ốc tai (cochlée) đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển các rối loạn thính giác này. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 10/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/10/2008)


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học