Thời Sự Y Học số 94
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TẬT
Vào đầu thế kỷ thứ 7, Chao Yuanfang đã viết một cuốn sách trong đó ông làm sáng tỏ nguồn gốc của các căn bệnh.
Chúng ta biết tương đối ít về cuộc đời của Chao Yuanfang : theo truyền thuyết, ông quê ở Xihua và đã sống vào cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7 và đã là thầy thuốc hoàng tộc (médecin impérial) dưới triều Sui, từ năm 605 đến 615. Tuy vậy tên của ông đã không được nhắc đến trong sử biên niên của triều đại này ; do đó trong việc tiếp nhận thông tin cần có một sự thận trọng nào đó. Tuy nhiên người ta tìm thấy dấu vết của các hoạt động của ông cho nhà vua trong một truyện ngắn dành cho những công trình của Grand Canal, kể rằng người phụ trách dự án, bị đau khớp, được săn sóc theo lệnh của nhà vua, bởi một thầy thuốc của hoàng đế .
BỘ Y TẾ
Do việc không chắc chắn chung quanh sự hiện diện trong triều đình của Chao Yuanfang, các nhà sử học cũng không biết ông đóng vai trò gì trong sự thành lập “bộ của các thầy thuốc của hoàng đế” bởi triều đình Sui, một dự án đầy tham vọng nhằm quy tụ càng nhiều thông tin y học càng tốt trong mục đích giảng dạy y khoa. Hoàng đế và những người bà con thân thuộc của ông đã khuyến khích các người giỏi về nghệ thuật chữa bệnh mang lại tất cả các kiến thức, thu được từ 4 phương trời của đất nước, nhờ vậy cuối cùng ra đời một biên soạn khoảng 2.600 tập : “Sihai Leiju Fang” (“Thu thập các phương thuốc của toàn bộ đất nước”). Dường như Chao Yuangfang đã dựa trên bộ sưu tập các dữ kiện đồ sộ này để soạn thảo tác phẩm quan trọng của chính mình, “Zhu Bing Yuan Hou Lun” (Khái luận về căn nguyên và triệu chứng), được biên soạn theo lời yêu cầu của hoàng đế. Tác phẩm gồm 50 quyển, trong đó có những nguyên nhân và các triệu chứng của hơn 1.700 bệnh, được phân chia thành 67 loại. Đối với mỗi bệnh được đề cập đến, Chao Yuangfang xác định các triệu chứng và các phần của cơ thể bị bệnh. Ở một mức độ nào đó, các quan niệm được phát triển trong cuốn sách này còn được một sự tín nhiệm nào đó trong y học cổ truyền Trung hoa ngày nay. Một cách tóm tắt, các bệnh lý là do 2 loại nguyên nhân, các yếu tố ngoại tại gây nên những hậu quả bên trong (Liu Yin) và những hiện tượng xúc cảm và tâm lý bên trong cơ thể.
SÁU THÁI QUÁ
Lý thuyết Lui Yin căn cứ trên vị thế mà con người chiếm giữ trong vũ trụ vĩ mô : khí hậu, các thiên thể, núi và những yếu tố khác của trái đất, tất cả tác động lên chúng ta một ảnh hưởng quan trọng. Bằng cách chế ngự những sức mạnh ngoại tại này, ta có thể giới hạn được những tác dụng độc hại lên cơ thể. Theo đúng từng chữ, thuật ngữ Liu Yi chỉ 6 thái quá khả dĩ làm biến đổi sức khỏe của con người : gió (phong), nhiệt (shu), lửa (hoả), khô ráo (zao), lạnh (hàn) và ẩm (shi).
Những bệnh đáng sợ nhất trong Y học Trung Hoa là những bệnh gây nên bởi gió (phong), thuận lợi cho sốt, những thay đổi đột ngột và không kiểm soát được và những tình trạng bệnh lý khác. Ngoài ra, các Lui Yin tương tác với nhau : chúng có thể kích thích nhau hay trái lại, hạn chế lẫn nhau : người thầy thuốc sẽ cố gắng khai thác những mối tương tác này để chữa lành bệnh nhân.
BẢY CẢM XÚC
Các bệnh tật cũng có thể do những nguyên nhân nội tại.Thật vậy, cơ thể là nơi của một loạt các cảm xúc (qing), cần thiết cho sự hoạt động tốt của các chức năng của cơ thể. Đứng trước một biến cố đau buồn, cảm thấy buồn rầu là chuyện bình thường.Trở thành có vấn đề là khi các cảm xúc (qing) xảy ra một cách thái quá hay vào một lúc không thích đáng. Y học Trung hoa phân biệt 7 cảm xúc : vui (hỉ), giận (nộ), lo lắng (you), buồn bã (mélancholie) (si), buồn rầu (tristesse) (bei), sợ (kong) và sợ hãi (jing). Nguồn: (GENERALISTE 7/8/2008)
2/ ARSENIC VỚI LƯỢNG CỰC NHỎ GÂY BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG

Arsenic, một độc chất và một chất gây ung thư hiện diện tự nhiên trong nước, được liên kết với bệnh đái đường của người trưởng thành, ngay cả với những nồng độ được cho là không có nguy cơ. Hàng triệu người trên thế giới uống nước bị ô nhiễm bởi arsenic vô cơ, theo các tác giả của công trình nghiên cứu, được công bố trong Jama.
Ngay năm 1950, một mối liên hệ đã được gợi ý, giữa việc tiếp xúc với arsenic và bệnh đái đường loại 2, khi một bệnh nhân đã phát triển bệnh này sau khi đã được điều trị bởi arsenic tiêm tĩnh mạch để điều trị một bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục. Phải đợi đến những năm 1990 người ta mới nêu lên trong những công trình nghiên cứu, được thực hiện ở Đài Loan và Bengladesh, một mối liên hệ tiềm tàng giữa việc tiếp xúc mãn tính với những nồng độ arsenic cao, hiện diện trong nước uống và một tỷ lệ cao mắc bệnh đái đường loại 2. Lần đầu tiên, mối liên hệ này đã có thể được xác lập trong một công trình nghiên cứu được công bố trong JAMA.
Nước tiểu của 788 người trưởng thành đã được phân tích để biết nồng độ arsenic. 7,7% những người tham gia bị bệnh đái đường. Nhóm những người bị bệnh đái đường có nồng độ arsenic cao hơn 26%. Các tác giả đã tính toán rằng 20% các người tham dự có những nồng độ arsenic cao nhất (16,5 microgramme), có nguy cơ 3,6 lần cao hơn phát triển một bệnh đái đường loại 2, so với 20% những người tham dự với nồng độ thấp nhất (3 microgramme). Theo các thầy thuốc này, arsenic cũng có thể có một tác dụng lên các yếu tố di truyền làm cản trở tính nhạy cảm của cơ thể con người đối với insuline và những quá trình khác góp phần vào sự viêm nhiễm làm tổn hại hoặc phá hủy các tế bào. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 5/9/2008) (LE SOIR 21/8/2008)
3/ THUỐC CHỒNG CHOLESTEROL: MỘT GÈNE CÓ LIÊN QUAN TRONG SỰ PHÁT SINH CÁC BIẾN CHỨNG
Đau cơ sau khi sử dụng statines có thể được làm dễ bởi một biến thể di truyền (un variant génétique).
Những nhà nghiên cứu Pháp và Anh đã nhận diện một biến thể di truyền có liên hệ trong sự xuất hiện các thương tổn cơ, trong trường hợp điều trị bởi các liều lượng cao statines (New England Journal of Medicine, 21/8/2008). Các statines được cho để chống lại sự thặng dư “ cholestérol xấu ” (LDL) trong máu, một trong những yếu tố nguy cơ của các tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim. Statines phong bế sự tạo thành cholestérol trong gan bởi cơ thể.
Các Statines rất được ưa chuộng bởi các thầy thuốc người Pháp, đã cho toa 5 triệu người trong năm 2.005. Nhưng trong những trường hợp hiếm hoi (1 bệnh nhân trên 10.000) , khi statines được cho với liều lượng chuẩn (20-40 mg simvastatine mỗi ngày), thuốc có thể gây nên các bệnh cơ (myopathie), đó là các đau nhức cơ, và chứng co rút (crampe), với sự gia tăng một vài loại men. Những tác dụng không được mong muốn này gia tăng với những liều lượng cao hơn.
Nghi là có một thành phần di truyền trong hiện tượng này, nhóm nghiên cứu của centre national de génotypage được điều khiển bởi Mark Lathrop và nhóm của đại học Oxford ở Anh đã so sánh hai nhóm các bệnh nhân được điều trị : nhóm 85 người gồm những nạn nhân bị thương tổn cơ do điều trị bởi statines, một nhóm khác 90 người không bị chứng bệnh cơ này. Họ đã phát hiện một biến thể di truyền (un variant génétique) trên nhiễm sắc thế 12, liên kết với những biến chứng này. Biến thể di truyền này hiện diện nơi 15% dân số.
Những bệnh nhân mang biến thể di tuyền và được điều trị với các liều mạnh thuốc statines có nguy cơ phát triển bệnh cơ 4 lần cao hơn so với những người không mang biến thể di truyền này. Nguồn: (LE FIGARO 27/8/2008)
4/ CHÈ XANH CÓ LỢI CHO TIM

Uống chè xanh làm cải thiện nhanh chóng chức năng nội mô (fonction endothéliale) của các tế bào của hệ tuần hoàn.
Chè (hay trà) được liên kết với một sự giảm nguy cơ tim mạch. Sự giãn mạch tùy thuộc vào lưu lượng (Flux-Mediated Dilatation : FMD) của động mạch cánh tay có liên quan với chức năng nội mô động mạch vành (fonction endothéliale coronaire), và là một yếu tố tiên đoán độc lập về nguy cơ tim mạch. Chè đen có một tác dụng có lợi ngắn hạn và dài hạn, lên chức năng nội mô, nhưng tác dụng của chè xanh lên sự tái hoạt hóa động mạch cánh tay đã chưa được xác định.
Một nhóm nghiên cứu Hy Lạp đã nghiên cứu 14 người lành mạnh (tuổi trung bình 30) và không có những yếu tố nguy cơ tim mạch. Vào 3 thời điểm khác nhau, họ đã tiêu thụ 6g chè xanh, rồi 125 mg caféine (hoặc tương đương với 6g chè), và sau cùng nước nóng (placebo).
Các nhà nghiên cứu đã đo FMD trước mọi can thiệp, rồi 30, 90 và 120 phút sau mỗi can thiệp. Các kết quả cho thấy rằng FMD của động mạch cánh tay gia tăng đáng kể với chè xanh, với một đỉnh cao gia tăng 3,69% sau 30 phút. Điều này không được nhận thấy với caféine (1,72% sau 30 phút) hoặc với nước nóng.
Đối với BS Nilolaos Alexopoulos và các cộng sự viên ( Đại học Y Khoa Athène, Hy Lạp), đây là lần đầu tiên người ta chứng minh rằng sự tiêu thụ chè xanh có một tác dụng dương tính ngắn hạn lên các động mạch lớn. Một công trình nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng chè xanh cho phép làm hồi phục sự loạn năng nội mô (dysfonction endothéliale) nơi những người hút thuốc lá.
Làm sao giải thích tác dụng này ? Chè xanh là một chè ít được oxy-hóa khi chế tạo. Cũng như chocolat đen và rượu đỏ, những tính chất tim mạch của các loại chè được quy cho flavonoides và khả năng chống oxy hóa của chúng. “ Người ta nghĩ rằng các flavonoides của chè xanh là chống oxy hóa hơn các flavonoides của chè đen bởi vì chúng không bị hiện tượng oxy hóa. Sự khám phá của chúng tôi có một hàm ý quan trọng về mặt lâm sàng. Sự tiêu thụ chè được liên kết với sự giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong tim mạch trong nhiều công trình nghiên cứu. Chè xanh (thé vert) ít được ưa chuộng hơn chè đen (thé noir) trong các nước phương Tây, nhưng chè xanh có thể có lợi ích hơn do tác dụng lên chức năng nội mô (fonction endothéliale). Ngoài ra, những công trình nghiên cứu khác đã phát hiện tiềm năng chống ung thư của chè xanh ” , BS Charalambos Vlachopoulos đã xác nhận như thế. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2008)
5/ ĐÁNH RĂNG : TỐT CHO TIM

Những chiếc răng trong tình trạng xấu, một vệ sinh răng không đầy đủ và những lợi răng chảy máu, có thể đưa thẳng đến một bệnh tim, theo những nghiên cứu được công bố tuần này.
“ Bạn có sức khỏe tốt và dáng người mảnh dẻ, điều đó không hệ trọng mấy, nhưng bạn sẽ tăng thêm các khả năng bị một bệnh tim nếu các chiếc răng của các bạn ở trong tình trạng xấu ”, Howard Jenkinson, thuộc đại học Bristol đã chỉ rõ như vậy. Không đánh răng đều đặn dẫn đến chảy máu các lợi răng, điều này sẽ mở cửa cho hàng trăm vi khuẩn định cư ở miệng đi vào cơ thể.
“Miệng có lẽ là nơi bẩn nhất của cơ thể con người”, BS Steve Kerrigan, thuộc Collège des chirurgiens đã ghi nhận như thế. Các lợi răng chảy máu cho phép các vi khuẩn đi vào các mạch máu, ở đây chúng sẽ dán vào các tiểu cầu (plaquettes) và gây nên một sự đông máu bên trong các huyết quản. Điều này một phần ngăn cản máu trở về tim và làm dễ bị một nguy cơ nhồi máu cơ tim đe dọa.
Một công trình nghiên cứu thứ hai tập trung vào mối liên hệ đặc biệt giữa các vi khuẩn phát xuất từ một tình trạng vệ sinh kém của miệng và chứng xơ mỡ động mạch (artériosclérose). Nhiều người bị các bệnh tim mạch nhưng không có một trong những yếu tố nguy cơ thông thường như nghiện thuốc lá, chứng béo phì hay tăng cholestérol-huyết. Trong những năm qua, những nhiễm trùng mãn tính đã được liên kết với chứng xơ mỡ động mạch. Bệnh cận răng (maladie parodontale) là một trong những nhiễm trùng thông thường nhất nơi người, thế mà hiện nay có hơn 50 công trình nghiên cứu liên kết bệnh cận răng này với các bệnh tim và các tai biến mạch máu não. Một trong những lý thuyết được đưa ra cho rằng vài protéine được sản xuất bởi vi khuẩn làm phát khởi xơ mỡ động mạch và làm dễ sự tiến triển của nó. Các nhà nghiên cứu Tây Tây Lan chú ý đến vai trò của các protéine du stress, được sản sinh lúc các tế bào bị một stress, như một viêm nhiễm hay sự hiện diện của các độc tố. Thì ra các protéine du stress phát xuất từ các vi khuẩn trong miệng gây nên một phản ứng toàn thân. “ Trong trường hợp này, các bạch cầu có thể tích tụ trong các mô của các huyết quản, gây nên xơ mỡ động mạch ”, tác giả đã giải thích như vậy. Nguồn: (LE SOIR 12/9/2008) (LE JOURNAL DU MEDECIN 16/9/2008)
6/ CÁC HƯƠNG THƠM ĐÁNG NGHI NGỜ

Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tờ báo American Cancer , chứng tỏ rằng việc sử dụng nhựa hương trong một thời gian dài làm gia tăng nguy cơ bị ung thư các đường hô hấp. Công trình nghiên cứu quốc tế này, kết quả của một sự cộng tác giữa trung tâm nghiên cứu về ung thư của Đại Học Minnesota và Statens Serum Institut ở Đan Mạch, đã lưu ý đến một cộng đồng to lớn người Hoa ở Singapour. Phải nói rằng hương là một bộ phận của đời sống hàng ngày của nhiều người Á Châu. Khốn thay, thắp đốt hương tạo nên sự sản xuất nhiều phân tử nhỏ và khói hương chứa nhiều chất gây ung thư khác nhau : hydrocarbures polyaromatiques, benzène, carbonyles…
Do đó các tác giả, Jeppe Friborg và các cộng sự viên mong muốn biết có một mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với loại đốt cháy này và sự phát sinh một ung thư hay không. Giữa năm 1993 và 1998, 61.320 người Hoa, không bị ung thư và tuổi từ 45 đến 74, đã điền một bảng câu hỏi về các thói quen sống và dinh dưỡng của họ. ¾ trong số những người này sử dụng hương (92,7% những người tham dự thắp hương mỗi ngày và 83,9% với thời gian tiếp xúc hương khói hơn 40 năm).
Năm 2005, trong lúc theo dõi, sự xuất hiện ung thư đã được ghi nhận : 325 carcinome của đường hô hấp trên và 821 carcinome phổi . Việc đốt hương đã được liên kết với một sự gia tăng đáng kể nguy cơ ung thư những đường hô hấp trên, trong khi đó không có một mối quan hệ được quan sát với ung thư phổi. Thời gian và cường độ sử dụng hương được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ carcinome à cellules squameuses của toàn bộ đường hô hấp, nhưng không có sự liên kết đáng kể với các carcinomes à cellules non-sqameuses.
Như thế theo những kết quả này, những người đã đốt hương trong hơn 40 năm, có 70% nhiều hơn, nguy cơ phát triển một vài loai ung thư của những đường hô hấp.
Hít thở bất cứ “ hương thơm ” nào không phải nhất thiết là tốt. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 5/9/2008)
7/ NHỮNG HÌNH ẢNH Ở ĐẦU CÁC BÀN TAY

Ở phòng mổ của bệnh viện Washington, các thầy thuốc ngoại thần kinh lay động bàn tay mang găng trước màn ảnh, không sử dụng ngôn ngữ của các dấu hiệu (langue des signes), mà dùng một hệ thống nhận biết các động tác (système de reconnaissance gestuelle), cho phép làm xuất hiện trên một màn ảnh khổng lồ những hình ảnh mong muốn của cuộc phẫu thuật, mà không phải tiếp xúc trực tiếp với máy. Logiciel này đã được hiệu chính bởi nhóm Juan Wachs, ở đại học Ben Gourion (Israel).
Được đặt tên là Gestix, thiết bị này được cấu tạo bởi một caméra vidéo, được nối với một màn ảnh và một máy vi tính. Máy phát hiện và giải thích những cử động của bàn tay của phẫu thuật viên mong muốn quan sát tốt hơn một vùng cơ thể học nào đó trong lúc phẫu thuật. Trước hết máy được điều chỉnh để có thể nhận biết những cử động của người sử dụng. Những người này đã học vài cử động đơn giản của bàn tay (hướng lên trên, xuống dưới, về phía trái, về phía phải ). Quay bàn tay theo chiều kim đồng hồ cho phép nhà phẫu thuật đến gần một hình ảnh, quay theo chiều ngược lại, rời xa hình ảnh này. Và những hình ảnh diễn hành theo các xê dịch của các bàn tay của phẫu thuật viên, được mang găng và thường đầy máu. Được trắc nghiệm trong một phẫu thuật thần kinh với sinh thiết, thiết bị đã được đánh giá là thỏa mãn 96%. Một hệ thống tinh xảo cho phép tránh những thủ thuật tiệt trùng và khử nhiễm thông thường của các máy hình ảnh hiện diện ở phòng mổ. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
8/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA HẠ NHIỆT NHÂN TẠO

Ngày nay, hạ nhiệt nhân tạo ( hypothermie provoquée) được sử dụng thành công trong hồi sức trẻ sơ sinh, trong khoa thần kinh và trong hồi sức tim (ngừng tim do một rối loạn nhịp, nhồi máu cơ tim). Những cố gắng đầu tiên “làm đông lạnh toàn bộ” (réfrigération généralisée) sau khi ngừng tim hay chấn thương sọ đã có từ năm 1943. Nếu những thí nghiệm này đã cho những kết quả không rõ ràng, đó là bởi vì nhiệt độ cơ thể bị hạ quá thấp (30 độ C).
Để được hiệu quả, hạ nhiệt phải được thực hiện nhanh chóng, nhiệt độ tối ưu nằm trong khoảng 32 độ C và 35 độ C. Hạ nhiệt tác động có lợi bằng nhiều cơ chế : làm giảm chuyển hóa, cải thiện các chức năng thể hạt (fonctions mitochondriales), giảm sản xuất các gốc tự do (radicaux libres), làm chậm những vận chuyển qua tế bào nơi hàng rào huyết-màng não (barrière hémato-ménigée) và ức chế sự chết được chương trình hóa của các tế bào (apoptose). Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
9/ OXYTOCINE, HORMONE CỦA LÒNG TIN, CỦA SỰ TRUNG THÀNH... VÀ CỦA ÂN ÁI

Tại sao chúng ta tin vào những người mà chúng ta không quen biết? Điều gì có thể khiến chúng ta tin vào lòng trung thành của người mà chúng ta đã không bao giờ gặp mặt trước đây? Oxytocine, một hormone được biết làm phát khởi chuyển dạ nơi phụ nữ có thai, đóng một vai trò thiết yếu trong các cơ chế não bộ về lòng tin, về sự cộng tác và về sự gắn bó tình dục.
Oxytocine là một protéine nhỏ, chỉ được tạo bởi 9 acide aminé. Oxytocine được sản xuất trong vùng dưới đồi (hypothalamus) và được vận chuyển rồi tích trữ trong thùy sau tuyến yên (neurohypophyse). Cơ quan này phóng thích oxytocine vào trong tuần hoàn máu.
Oxytocine tác dụng lên nhiều cơ quan, nhưng chủ yếu lên tử cung, làm gia tăng sức mạnh và tần số của những co bóp. Trong thời kỳ thai nghén, sự gia tăng các thụ thể oxytocine của tử cung làm cơ quan này càng ngày càng nhạy cảm đối với sự hiện diện của nó.
Trong tuyến vú, oxytocine làm co bóp các ống dẫn sữa (canal galactophore), như thế làm dễ sự phóng sữa.Với liều lượng cao, oxytocine cũng có một tác dụng giãn mạch. Sau cùng, oxytocine được sử dụng để kích thích và tăng cường các co bóp tử cung trong lúc sinh, và đôi khi trong trường hợp xuất huyết tử cung sau khi sổ thai.
NGAY Ở LOÀI VẬT
Theo các nhà sinh học về tiến hóa, ocytocine đã xuất hiện ở cá cách nay khoảng 100 triệu năm, làm dễ sự sinh sản sinh dục bằng cách làm giảm mối e ngại của các con cái, như vậy khiến cho các con đực dễ đến gần hơn. Cơ chế này được duy trì và phát triển trong giới động vật bởi vì, với sự làm dễ việc sinh đẻ, cơ chế này thể hiện một ưu thế tiến hóa rõ ràng.
Ở một vài động vật có vú, oxytocine làm dễ sự hợp tác, có nghĩa là lòng tin cậy.
Ở LOÀI NGƯỜI CŨNG VẬY
Vai trò của oxytocine trong những quan hệ động vật, đặc biệt là trong những hành vi hợp tác xã hội, hẳn phải gợi ý rằng oxytocine cũng có thể có liên hệ trong những quan hệ của con người. Người ta chấp nhận rằng có một cơ sở sinh học cho cuộc gặp gỡ yêu đương. Người ta biết rằng ở đàn ông và phụ nữ, sự tiết oxytocine đạt mức tối đa vào lúc khoái lạc cực độ (orgasme) và góp phần làm quyến luyến lẫn nhau.
Ocytocine cũng đóng một vai trò dương tính trong những giao thiệp và những trao đổi căn cứ trên lòng tin. Đo lường mức độ tin cậy của hai người không quen biết nhau không phải là chuyện dễ, bởi vì những phản ứng giữa họ tùy thuộc vào nhiều yếu tố (dạng vẻ bên ngoài, hành vi động tác, lời nói, quần áo, v...v). Nhưng đó cũng là một vấn đề sinh học.
Các nhà kinh tế học đã tưởng tượng những tình huống thí nghiệm, được gọi là “ những trò chơi lòng tin ” (jeux de confiance) và căn cứ chủ yếu trên những hoạt động đầu tư tài chánh trong đó oxytocine đóng một vai trò quan trọng. Người ta đã có thể chứng tỏ rằng một số khá nhiều người sau khi đã được cho oxytocine dưới dạng spray, đã giao phó tiền bạc, và với những lượng quan trọng hơn, so với những người chỉ nhận một spray placebo. Ngoài ra, ngược lại, người ta đã nhận thấy oxytocine được tiết với số lượng quan trọng hơn nơi những người đã được giao phó những số tiền. Sự gia tăng tiết oxytocine này có thể được xem như một đáp ứng với lòng tin cậy, bởi vì tình cảm này không hiện diện nơi những người nhận tiền mà không có một chút quan hệ tin cậy nào. Những trắc nghiệm tương tự đã được lập lại bằng cách đặt những người này trước một máy vi tính, thay vì trước một chủ ngân hàng, như thế hủy bỏ khung cảnh giao tiếp. Lần này, khái niệm về lòng tin biến mất, và spray ocytocine không có hiệu quả đáng kể. Như vậy, oxytocine thúc đẩy người ta chấp nhận những mối nguy cơ, nhưng cũng thúc đẩy người này dấn thân vào trong một mối quan hệ giữa người với người.
MỘT THUỐC NHIỆM MÀU
Những sự kiện này sẽ không tạo nên những hy vọng hảo đối với các người mưu mô muốn lừa phỉnh khách hàng bằng cách cho họ oxytocine mà họ không hay biết, như thế làm cho các khách hàng lạc quan hơn về những điều khoản trao đổi : trộn với thức ăn hay nước uống, chất oxytocine sẽ bị phá hủy bởi dịch tiêu hóa. Được phun trong không khí bao quanh, các nồng độ oxytocine thu được sẽ rất không được đầy đủ. Trái lại, càng đáng lo ngại: có thể các hình ảnh quảng cáo gây nên những kích thích có thể làm gia tăng lượng oxytocine và sản sinh một cách gián tiếp một hiệu quả tương tự với spray được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu. Nguồn: (LE GENERALISTE 11/9/2008)
10/ VIÊM MŨI BÁO TRƯỚC HEN PHẾ QUẢN

Những người bị viêm mũi có nguy cơ trở thành hen phế quản 3,5 lần cao hơn và viêm mũi có thể là một yếu tố tiên đoán của hen phế quản, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong The Lancet. Công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên gần 6.500 người trưởng thành của 14 nước châu Âu trong hơn 9 năm. Trong hen phế quản, chính những đường hô hấp dưới ( phế quản và các phế nang ) là bị thương tổn, trong khi trong viêm mũi, chính những đường hô hấp trên, mũi, miệng và hầu mới bị thương tổn. Nguồn: (LE SOIR 25/9/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/9/2008 )


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học