 |
Thời
Sự Y Học số 93
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ AUGUSTA DEJERINE KLUMPKE
(1859-1927): MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ MỸ Ở PARIS
B.S Augusta Klumpke, gốc Mỹ, là người phụ nữ đầu tiên đã có thể được chấp
nhận vào làm Nội Trú các Bệnh Viện Paris năm 1887, sau một cuộc đấu tranh
kéo dài gây náo động, đến độ các sinh viên nam phải xuống đường biểu tình
để bảo vệ những đặc quyền của họ.
Augusta Klumpke chào đời ở San Francisco, Hoa Kỳ ngày 15 tháng 10 năm
1859. Augusta là đứa con thứ hai của một gia đình có 6 người con.
Những vấn đề sức khỏe của cô con gái trưởng, bị tật nguyền sau khi bị
té ngã xảy ra trong thời thơ ấu, đã khiến bố mẹ của cô đi thăm khám các
thầy thuốc châu Âu. Vào thời đó, châu Âu có tiếng là đi đầu tiến bộ về
mặt săn sóc y tế. Bà Klumpke đi châu Âu với 4 cô con gái, trước hết đến
Paris khám Giáo Sư Nelaton, rồi đi Berlin, ở đó cô con gái nhỏ sẽ được
điều trị trong 18 tháng bởi Giáo sư Langenbeck. Điều trị này không mang
lại kết quả mong đợi và gia đình sau đó trở lại. San Francisco. Sau khi
sinh 2 đứa con khác, một gái và một trai, cặp vợ chồng ly dị. 6 đứa con
được giao phó cho mẹ giữ và bà quyết định trở lại sống ở châu Âu. Trước
hết trú ngụ tại nhà một người em họ của Bà Klumpke ở Gottingen và sau
đó định cư ở Lausanne năm 1871.
LÀM SAO MỘT
THIÊN CHỨC KHOA HỌC RA ĐỜI TỪ MỘT TẠP CHÍ THỜI TRANG
Bà Klumpke muốn cho tất cả các con mình nhận được một nền giáo dục tốt
nhất có thể có được. Về phần mình, Augusta, mặc dầu đã đậu tú tài, nhưng
ý nghĩ lại hướng về ngành giảng dạỵ một cách không tin tưởng lắm. Nhưng
rồi một hôm, trong lúc đọc tờ tạp chí Paris “La mode illustrée”, bà mới
hay biết rằng một phụ nữ, Madeleine Brès, đã nhận được văn bằng Tiến sĩ
y khoa ở Paris. Do đó bà Klumpke quyết định mang gia đình bà đến sống
ở Paris, vì lẽ không có trường đại học y khoa ở Lausanne. Rõ ràng là họ
không hay biết rằng phân khoa y của Zurich đã mở cửa cho các phụ nữ từ
năm 1865. Nhưng Paris có những ưu điểm khác như ở trường y đề nghị cả
một loạt khả năng đào tạo, kể cả trong lãnh vực nghệ thuật. Cô con gái
trưởng hướng theo ngành hội họa, hai cô gái thứ theo học âm nhạc. Anh
của Augusta sẽ trở thành kỹ sư và cô em gái thứ tư sẽ là tiến sĩ khoa
học đầu tiên phái nữ ở Sorbonne. Do đó gia đình dời về Paris năm 1875.
“CÔ TA CÓ
THẬT SỰ BIẾT THẾ NÀO LÀ LIỀU LĨNH KHÔNG?"
Sau khi đã nhận được các tương đương văn bằng tú tài với tư cách là học
sinh tự do (các phụ nữ không được chấp nhận vào các trường trong đó được
đào tạo để thi văn bằng này), Augusta được chấp nhận vào phân khoa y khoa
Paris năm 1876. Cô phải nhận những lời cảnh cáo của giáo sư khoa trưởng
Vulpian, rõ rệt là ít thuận lợi đối với phụ nữ hơn người tiền nhiệm của
ông là Giáo Sư Wurtz. Vị giáo sư này, trong lúc tiếp nhận Madeleine Bres
năm 1868, đã tạo một kẽ hở trong bức tường chống đối của nam giới. Y khoa
là một đặc quyền của nam giới: các phụ nữ chỉ được chấp nhận vào đó một
cách đắn đo. Xã hội sẽ đi về đâu nếu các phụ nữ từ chối công việc chủ
yếu mà vì nó họ đã được sáng tạo ra, để trở thành những kẻ ngang hàng
với nam giới? Làm thế nào mà các thiếu nữ lại có thể bị quyến rủ bởi những
môn học gớm ghiếc này? Tuy nhiên khía cạnh gớm ghiếc của săn sóc y khoa
không được nêu lên nữa khi các phụ nữ chịu bằng lòng học để trở thành
y tá.
MỘT CUỘC GẶP
GỠ MAY MẮN VÀ QUYẾT ĐỊNH
Ngay vào năm thứ hai, Augusta bắt đầu thực tập bệnh viện ở La Pitié, ở
Saint Louis, ở Lariboisière, tham gia những buổi khám bệnh, theo các bài
học lâm sàng của BS Charcot ở Bệnh viện La Salpêtrière. Năm 1881, cô thực
tập ở BV La Charité, là nơi BS Déjerine là trưởng bộ môn lâm sàng trong
khoa của Giáo Sư Hardỵ Ở đó cô bắt đầu nghiên cứu khoa học và sự nắm vững
nhiều ngoại ngữ của cô được đánh giá. Giáo sư Déjerine thán phục công
việc và nhân cách của Augusta đến độ cuối cùng ông cưới cô năm 1888.
CUỘC CHIẾN
ĐỂ ĐƯỢC NHẬN LÀM NỘI TRÚ
Năm 1882, Augusta thi đậu bằng tiến sĩ y khoa một cách xuất sắc. Do đó
cô có thể thi vào Ngoại trú (Externat), nhưng cô bị từ chối. Augusta không
phải là người phụ nữ duy nhất của khoá học trong năm đó. Cũng có Blanche
Edwards, một phụ nữ trẻ gốc người Anh, mà ông bố là con của một vị bộ
trưởng. Blanche Edwards có nhiều quen biết và nhất là có nhiều năng lực
và sau khi cố sức chạy vạy, sau khi đã thăm viếng khoảng 1.500 người có
thế lực, cô đã giành được cho cô và Augusta quyền được dự thi vào Ngoại
trú của các bệnh viện (Externat des hôpitaux). Cả hai cô đều đậu kỳ thi
này. Augusta thi ở BV Hôtel Dieu. Giai đoạn tiếp theo là Nội trú (Internat):
mặt khác, nội quy, quy định rằng tất cả các Ngoại trú cam kết thi Nội
trú ngay năm thứ hai. Nhưng ông Khoa trưởng phân khoa y khoa, Hiệp hội
y khoa các bệnh viện, Hiệp hội các thầy thuốc ngoại khoa của các bệnh
viện Paris, hội đồng giám thị của Cơ quan cứu tế công cộng và hội của
các cựu nội trú của các bệnh viện Paris, chống đối quyết liệt việc ghi
danh của các phụ nữ vào kỳ thi tuyển này. Thế là Blanche Edwards lại bắt
đầu chạy chọt và tháng 7 năm 1885, theo lệnh của ông Bộ trưởng Bộ giáo
dục công cộng, ông tỉnh trưởng đã buộc phân khoa y của Paris phải chấp
nhận đơn ứng thi của các phụ nữ. Augusta và Blanche dự kỳ thi tuyển tháng
10 năm 1885, gây nên những phản ứng dữ dội: các sinh viên sau một cuộc
biểu tình đã đốt hình nộm thể hiện Blanche trong buổi khiêu vũ. Augusta
có điểm tốt nhất trong kỳ thi viết (29/30) nhưng hỏng kỳ thi nói. Cô cùng
với Blanche thi lại năm 1886 (người ta phải nhốt các cô trong một thính
phòng để bảo vệ các cô) và lần này vẫn có điểm tốt nhất trong kỳ thi viết,
cô thi đậu với vị thứ 16 trên 52 thí sinh. Blanche Edwards chỉ làm Nội
trú tạm thời.
Năm 1885, Augusta đã đăng trong Tạp chí y học một báo cáo khoa học về
một trường hợp bại liệt toàn bộ của rễ thần kinh của tùng cánh tay (paralysie
radiculaire totale du plexus brachial) với những rối loạn nhãn cầu-đồng
tử (troubles oculo-pupillaires), được gọi từ đó là “paralysie de Déjerine-Klumpke”.
Với báo cáo khoa học này cô đã nhận được một giải thưởng của Hội hàn lâm
y học. Như vậy, vào năm 1887, Augusta bắt đầu năm nội trú đầu tiên, trong
một bầu không khí thù địch: người ta từ chối không cho cô vào phòng trực.
MỘT NGHỀ NGHIỆP
DƯỚI SỰ CHE CHỞ CỦA CHỒNG
Năm 1888, Augusta cưới BS Déjerine và có một cô con gái. Năm 1889, bà
trình luận án tiến sĩ truớc Giáo Sư Charcot: “Các viêm đa thần kinh nói
chung và những bại liệt và teo cơ do trúng độc chì nói riêng. Nghiên cứu
lâm sàng và cơ thể bệnh lý lâm sàng”. Với luận án này bà được huy chương
bạc của Phân khoa Paris và giải thưởng Lallemand của Viện hàn lâm khoa
học. Bà cộng tác vào những công trình nghiên cứu thần kinh học của chồng
bà và làm việc trong nhiều bệnh viện khác nhau, nơi chồng bà hành nghề
vì thiếu một nhiệm sở chính thức. Hai vợ chồng cùng công bố “Cơ thể học
các trung tâm thần kinh ” và bà cộng tác trong sự biên tập “Triệu chứng
học của các bệnh của hệ thần kinh”.
CHIẾN TRANH
VÀ DANH DỰ
Trong thế giới đại chiến lần thứ nhất, trước hết bà thiết lập một khoa
để điều trị những thương binh ở Bệnh viện Salpêtrière và năm 1917 sau
khi chồng mất, bà được giao phó khoa của những người bị tật nguyền nặng
ở Hôpital des Invalides. Năm 1921, bà được Bộ chiến tranh thưởng Bắc Đẩu
Bội tinh (Légion d’Honneur) vì đã hết mình phục vụ. Để ghi nhớ chồng và
các công trình của ông, Augusta Klumpke cũng đã thành lập viện bảo tàng
Déjerine để thiết đặt ở đó những sưu tập về cơ thể học của ông.
Augusta mất năm 1927 vì một ung thư vú. Nguồn: (SEMAINE
MEDICALE 2/5/2008)
2/ SỮA LÀM MẠNH XƯƠNG
Sữa và các sản phẩm sữa khác được khuyên dùng từ nhiều năm nay bởi vì
chúng có một tác dụng có lợi lên sự cấu tạo xương nơi các trẻ em. Tuy
nhiên những hiệu quả lâu dài chưa được rõ ràng. L.Moore (Hoa Kỳ) và các
cộng sự viên đã theo dõi 106 trẻ em tuổi từ 3 đến 5 cho đến khi chúng
đạt đến tuổi từ 15 đến 17. Vào những thời điểm khác nhau trong quá trình
theo dõi, các bố mẹ đã cung cấp những dữ kiện về các thói quen ăn uống
của các đứa bé.Vào cuối thời kỳ theo dõi, một scanner xương đã được thực
hiện. Các tác giả đã có thể xác lập rằng các thiếu niên trong suốt thời
kỳ thơ ấu đã uống ít nhất hai sản phẩm sữa mỗi ngày, có một mật độ xương
(densité osseuse) lớn hơn các trẻ cùng lứa tuổi nhưng đã theo một chế
độ ăn uống ít sữa hơn. Những kết quả này vẫn không thay đổi sau khi đã
điều chỉnh một số yếu tố nguy cơ khác có khả năng ảnh hưởng (trọng lượng,
kích thước). Mặc dầu các yếu tố di truyền một phần lớn có thể có tính
chất quyết định đối với lượng khối xương nơi các thanh niên, nhưng sự
dinh dưỡng và cử động vẫn là những yếu tố chủ yếu. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2008)
3/ NƯỚC ÉP CỦA TRÁI CÂY CÓ THỂ LÀM GIÁM
HIỆU QUẢ CỦA THUỐC
Uống nước ép của bưởi hay cam có thể có những hiệu quả âm tính khi bệnh
nhân đang được điều trị. Nước bưởi vắt, nước cam vắt và ngay cả nước táo
tây vắt, tính đến ngày nay, có tất các những hiệu năng, nhưng lại không
thuận hòa với vài loại kháng sinh, các thuốc chống cao áp, các thuốc làm
suy giảm miễn dịch, thậm chí kể cả vài loại thuốc chống ung thư. Thật
vậy, vì chúng làm giảm sự hấp thụ của những loại thuốc này trong ruột,
nên chúng sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả của chúng, theo những công trình
được trình bày ở hội nghị vừa qua của American Chemical Society ở Philadelphie,
bởi nhóm nghiên cứu Canada của BS David Bailey. Nếu thông tin này được
xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khác, thì ắt hẳn điều này sẽ
làm biến đổi những thói quen ăn uống đặt ưu tiên cho việc tiêu thụ nước
trái cây vắt hay đóng chai, nhân danh nguyên tắc thần thánh của những
lợi ích của các vitamine.
Vào đầu những năm 1990, cùng nhóm nghiên cứu Canada đã chứng tỏ điều trái
ngược lại, nhưng đối với các loại thuốc khác. Thật vậy họ đã xác nhận
rằng nước bưởi vắt có thể làm gia tăng sự hấp thụ của vài loại thuốc như
các statines ( thường được kê toa để chống lại sự thặng dư cholestérol
trong máu), đến độ gây nên những phản ứng phụ quan trọng, hoặc độc hại.
Ví dụ: một statine, không uống với nước bưởi vắt, được hấp thụ kém (khoảng
5%) bởi cơ thể. Được uống với nước bưởi vắt, sự hấp thụ của statine là
15 lần nhiều hơn. Điều này như thể bệnh nhân dùng liều lượng 15 lần cao
hơn.
Lần này, các nhà nghiên cứu đã phát hiện điều ngược lại, đó là sự giảm
hiệu quả của một loạt của nhiều thứ thuốc, được cho trong trường hợp bị
những bệnh nghiêm trọng, nếu chúng được dùng với các nước ép trái cây
này: các bêta-bloquants (aténolol, céliprolol và talinolol) được cho trong
trường hợp cao huyết áp, cyclosporine để tránh sự thải bỏ của các cơ quan
được ghép, các kháng sinh (ciprofloxacine, levofloxacine) và một thuốc
chống lại các bệnh về nấm, itraconazole (Sporanox). Một thuốc chống ung
thư, étoposide cũng bị liên hệ bởi những “mối liên kết nguy hiểm” này.
“Chúng tôi đã khám phá ra rằng các nước vắt của bưởi, cam và táo tây sẽ
làm giảm rõ rệt sự hấp thụ của những loại thuốc này trong ruột”, BS David
Bailey, giáo sư dược lý học lâm sàng thuộc đại học Western Ontarion, Canada
và là tác giả chính của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
NHỮNG CẢNH CÁO TRÊN LỜI CHỈ DẪN
“Nước bưởi và nước cam vắt làm giảm rõ rệt sự hấp thụ của thuốc trong
đường ruột”, BS Bailey, giáo sư dược lý học lâm sàng của đại học Western
Ontario ở Canada đã giải thích như vậỵ Đối với ông “Những kết quả này
hẳn khiến chúng ta phải khuyên những bệnh nhân đang được điều trị hãy
tránh uống nước vắt trái cây. Bởi vì có nguy cơ đánh mất tính hiệu quả
của điều trị mà họ đang theo đuổi”.
Các thuốc được hấp thụ bằng đường miệng phải đi xuyên qua ruột. Ở ruột
có nhiều men có thể cản trở sự chuyển hóa của các thuốc này.
Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng một thành phần hoạt tính
của bưởi (naringine) và các chất tương cận được chứa trong cam và táo
tây phong bế một vecteur chủ chốt của các thuốc điều trị. Những vecteur
này cho phép các thuốc được hấp thụ ở ruột non. Các thuốc bị hấp thụ kém
và do đó đánh mất tính hiệu quả của chúng. Trong trường hợp uống statines,
nước bưởi vắt phong bế một men khác gọi là CYP3A4 và cho hiệu quả ngược
lại, đó là làm gia tăng nồng độ của chúng.
Một lời khuyên: khi vị thầy thuốc kê đơn một trong những thứ thuốc điều
trị này, cần khuyên bệnh nhân hãy tránh uống nước trái cây vắt. Một lời
cảnh cáo đã được xác định rõ trong lời chỉ dẫn dùng của một vài loại thuốc.
Nguồn: ( LE FIGARO 21/8/2008); (LE SOIR 21/8/2008)
4/ TƯ DUY DƯƠNG TÍNH BẢO VỆ CHỐNG
LẠI UNG THƯ VÚ?
Theo một công trình nghiên cứu của Israel, các phụ nữ trẻ đã trải qua
nhiều nghịch cảnh trong suốt cuộc đời của họ, có nguy cơ phát triển ung
thư vú nhiều hơn. Sự thỏa mãn và tư duy dương tính có những tác dụng bảo
vệ.
Ronit Peled (Ben-Gurian University of The Negev, Israel) đã thăm dò lối
sống của 255 phụ nữ bị một ung thư vú và 367 phụ nữ kiểm chứng, tất cả
dưới 45 tuổi. Các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến mức độ thỏa mãn, lạc
quan và lo âu, đặc trưng của thời kỳ trước chẩn đoán ung thư. Họ đã đi
đến kết luận rằng những phụ nữ đã bị nhiều nghịch cảnh (thí dụ mất một
người thân) phải được xem như một nhóm có nguy cơ phát triền một ung thư
vú, cần một điều trị đặc biệt.
Ronit Peled công nhận rằng các phụ nữ đã được phỏng vấn ngay sau khi chẩn
đoán được loan báo, điều này không thể không ảnh hưởng họ về mặt tình
cảm. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu nghĩ rằng việc đối đầu với nhiều biến
cố âm tính tạo nên một yếu tố nguy cơ phát triển một ung thư vú. Trái
lại, một cảm giác chung thỏa mãn và lạc quan có một tác dụng bảo vệ.
Cơ chế cho phép các hệ thần kinh trung ương, nội tiết và miễn dịch tương
tác với nhau cũng như phương cách mà 3 hệ thống này bị ảnh hưởng bởi các
yếu tố bên ngoài còn cần phải được làm sáng tỏ. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 5/9/2008)
5/ CÁC KHỐI U NÃO ĐƯỢC LOẠI BỎ BẰNG LASER
Những thầy thuốc ngoại thần kinh có trình độ rất cao của Pháp đã thành
công phá hủy các di căn não bộ nhờ laser được điều khiển bằng hình ảnh.
Đó là một đầu tiên trên thế giới. Một nhóm nghiên cứu Paris, được điều
khiển bởi Giáo Sư Alexandre Carpentier, thầy thuốc ngoại thần kinh (Pitié-Salpêtrière
Paris), đã loan báo hôm qua trong tạp chí Neurosurgery đã thành công phá
hủy các khối u di căn trong não bộ, nhờ một laser, dưới sự kiểm soát của
IRM. Và điều này không cần phải mở hộp sọ nơi những bệnh nhân vẫn tỉnh
táo cho đến cùng.
“Đây là lần đầu tiên mà chúng tôi sử dụng một kỹ thuật laser trong sọ,
có nghĩa là hộp sọ hoàn toàn được đóng kín, liên kết với một kiểm tra
bằng IRM để tránh những thiệt hại do kỹ thuật” , Giáo Sư Alexandre Carpentier
đã xác nhận như vậy. Can thiệp diễn ra dưới gây tê tại chỗ. Bệnh nhân
nằm dài trong máy, không cảm thấy một đau đớn nào cả.
Trên thực tiễn, sau khi đã định vị rất chính xác khối u cần phá hủy nhờ
IRM, các thầy thuốc ngoại thần kinh đã đưa xuyên qua một lỗ nhỏ 3 mm,
sợi quang học (fibre optique) được trang bị ở đầu mút bởi một laser. Một
khi đã đặt đúng đắn vào vị trí, tiếp xúc với khối u cần tiêu huỷ, laser
được khởi động. Điều này làm mô của khối u nóng lên và làm hoại tử chúng.
Rất độc đáo, được phát triển cộng tác với trung tâm chống ung thư MD Anderson
de Houston, máy laser này có đặc tính thường trực "được làm lạnh”,
điều này tránh sự tạo thành những đông kết lúc tiếp xúc nó.
SỐNG CÒN KHÔNG TÁI PHÁT
Tổng cộng, 15 bệnh nhân bị di căn não sau khi bị các ung thư phổi hoặc
vú và đề kháng với tất cả những khả năng điều trị khác (hóa học hay phóng
xạ trị liệu, giải phẫu quang tuyến) đã được đưa vào thử nghiệm, dưới sự
chỉ đạo của Agence franẫaise de sécurité sanitaire des produits de santé.
Mục đích là để đánh giá tính vô hại và hiệu quả của phép trị liệu mới
này.
Trong khi hy vọng sống của những bệnh nhân bị di căn não thường không
vượt quá 3 tháng, phương pháp điều trị mới này đã cho phép 6 bệnh nhân
mà các di căn đã có thể được phá hủy hoàn toàn, được sống ít nhất 6 tháng
mà không bị tái phát
“Bệnh nhân không cảm thấy gì hết trong lúc điều trị khối u não bằng laser
và có thể xuất viện nói chung 14 giờ sau đó, vào buổi chiều hay buổi sáng
sau giờ phẫu thuật”, BS Alexandre Carpentier đã nói như vậy. Nguồn:
(LE FIGARO 30-31/8/2008); (LE SOIR 1/9/2008)
6/ UNG THƯ KHÔNG PHẢI CHỈ DÀNH CHO CÁC NƯỚC
GIÀU
2.500 chuyên gia về ung thư đã đến Genève để họp Hội nghị của Hội quốc
tế chống ung thư (UICC). Franco Cavalli, chuyên gia về Ung thư học và
chủ tịch của UICC trình bày quan điểm của ông.
Hỏi: Ông đã là chủ tịch của UICC trong 2 năm qua và năm
nay ông sẽ trao ngọn đuốc thay thế cho David Hill. Điều gì đã thay đổi
trong thời gian qua?
Đáp: Trái với điều mà người ta tưởng, ung thư không phải là bệnh của các
nước giàu. Trong những năm qua, chúng ta đã nhận thức rằng ung thư trở
nên một vấn đề to lớn. Đặc biệt trong những nước nghèo, là nơi người ta
nhận thấy một sự bùng nổ của các trường hợp ung thư. Người ta tính rằng
75% các tử vong do bệnh này xảy ra trong các nước đang phát triển. Mặt
khác, Tổ chức y tế thế giới đã đặt việc chống ung thư vào hàng ưu tiên
cuối năm 2005. Trước đây, OMS nhấn mạnh vào cuộc đấu tranh chống lại các
bệnh truyền nhiễm. Thế mà ung thư giết còn hơn bệnh sida, bệnh lao và
bệnh sốt rét hợp lại. Chính vì thế mà UICC đã quyết định dành nỗ lực chính
vào các nước đang phát triển. Và hội nghị kỳ tới của chúng ta sẽ tổ chức
ở Pékin.
Hỏi: phải chăng sự phòng ngừa đã có nhiều tiến bộ ?
Đáp: chúng ta đã luôn luôn biết rằng một nửa những trường hợp ung thư
có những nguyên nhân có thể tránh được. Nhưng mới đây hơn, người ta đã
nhận thức rằng sau thuốc lá và các bệnh nhiễm trùng (gây nên 1/3 các trường
hợp ung thư trong những nước nghèo), chứng béo phì và sự thiếu hoạt động
vật lý chịu trách nhiệm phần lớn các trường hợp ung thư.
Hỏi: Vậy thì những vấn đề này có liên quan đến những
nước giàu có phải không?
Đáp: Hoàn toàn không phải vậy. Chính đặc biệt trong các nước nghèo, được
kỹ nghệ hóa mới đây, mà chứng béo phì mới gây những tàn phá, như các ung
thư, nhưng còn cả bệnh đái đường và những vấn đề tim nữa. Tất cả xảy ra
như thể, trong những nước này, thân thể con người đáp ứng ít tốt hơn đối
với chứng béo phì.
Hỏi: còn thuốc lá thì sao.
Đáp: Chúng ta đã ghi nhận những tiến bộ quan trọng. Đặc biệt trong chiến
dịch của OMS chống thuốc lá, được ký bởi 178 nước. Trong các nước giàu
có, tần số của các ung thư phổi đã giảm nơi đàn ông nhưng vẫn còn gia
tăng nơi các phụ nữ. Nhưng người ta đã tính toán rằng nếu các người Hoa
vẫn tiếp tục hút thuốc theo cùng nhịp độ như hiện nay, thì vào năm 2020
sẽ có 3 triệu người chết vì ung thư mỗi năm. Ở châu Phi hiện nay có ít
các nạn nhân của ung thư này, nhưng công nghiệp thuốc lá đang ra sức để
phát triển hoạt động trên lục địa này.
Hỏi: thế thì giải pháp cần phải thực hiện là giải pháp
nào?
Đáp: Vào năm 2000, đã có 11 triệu trường hợp ung thư ; vào năm 2020, sẽ
có 18 triệu trường hợp ; và năm 2030 số trường hợp sẽ là 27 triệụ Đó là
không nói về sự gia tăng của các mối nguy cơ. Chúng ta sẽ ra một tuyên
bố nói rằng các kế hoạch quốc gia là vũ khí tốt nhất để chống lại sự tiến
hóa này, đặc biệt là trong các nước nghèo.
Hỏi: Còn về các thuốc men thì sao?
Đáp: Đó là một trong những vấn để lớn cần phải thảo luận. Tổn phí các
điều trị đang bùng nổ ngay cả ở Tây Âu, khó mà kham nỗi. Trong các nước
có lợi tức giới hạn, thì không có khả năng trả nỗi. Điều này đặc biệt
nghiêm trọng đối với vaccin cho phép phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Một
nửa triệu ung thư cổ tử cung được chẩn đoán mỗi năm và 300.000 phụ nữ
chết vì những ung thư này. Điều này cũng gần giống với sida, là bệnh mà
hàng triệu người mắc phải và không thể trả nỗi những điều trị.
Chính Financial Times mới đây đã xác nhận rằng công nghiệp dược phẩm không
thể biện minh giá của các thuốc mới chống ung thư bằng phí tổn sản xuất.
Nguồn: (LE SOIR 28/8/2008)
7/ NHỮNG TÁI PHÁT CỦA UNG
THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN CÓ THỂ ĐƯỢC TIÊN ĐOÁN CHÍNH XÁC HƠN
Để nhận diện các tái phát mà các bệnh nhân đã bị ung thư tiền liệt tuyến
(cancer de la prostate) có thể là nạn nhân, các thầy thuốc từ trước đến
nay thực hiện sự đo lường nồng độ PSA, một xét nghiệm chính xác 70%. Ngày
nay, thầy thuốc khoa niệu Shahrokh Shariat và các đồng nghiệp của đại
học Dallas làm tốt hơn. Thật vậy, sự theo dõi 423 bệnh nhân đã cho phép
họ nhận diện 7 protéine, tiên đoán sự tái phát của khối u trong 86% các
trường hợp. Trong số 423 bệnh nhân này, 75 bệnh nhân đã bị một tái phát;
tất cả đều có một sự gia tăng của nồng độ trong máu của nhiều trong số
những chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur). Nguồn: (SCIENCE
ET VIE 8/2008)
8/ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG: NGHĨ GÌ VỀ CÁC VACCINS?
Trong khi các vaccin chống ung thư cổ tử cung luôn luôn gây nên những
cuộc tranh cãi, và mặc dầu một ý kiến bất thuận lợi của Haute autorité
de santé, Bảo hiểm bệnh tật vào tháng 7 năm 2008 đã quyết định bồi hoàn
lại tiền mua thuốc đến 65% cho thuốc chủng Cervarix. Thuốc chủng cạnh
tranh duy nhất của Cervarix là Gardasil cũng đã được cho quyền này cách
nay một năm. Cả hai thuốc chủng Cervarix và Gardasil bảo vệ chống lại
các HPV (papillomavirus humain) sérotype 16 và 18, các virus được lây
nhiễm bằng đường sinh dục, gây ra hơn 70% trường hợp các ung thư của cổ
tử cung. Chúng được tiêm chủng thành 3 liều và dành cho các thiếu nữ 14
tuổi, với một liều tiêm nhắc lại vào lúc 23 tuổi đối với những thanh nữ
đã chưa có những quan hệ tình dục hoặc chậm lắm trong năm sau lần giao
hợp đầu tiên. Ngoài ra Gardasil nhắm vào các HPV 6 và 11, chịu trách nhiệm
các khối u sinh dục lành tính, các u lồi (condylome). Mặc dầu các chiến
dịch thông tin mạnh mẽ, ở Pháp sự thành công trong việc tiêm chủng ít
rõ rệt hơn.
CẦN LÀM FROTTIS
Giữa tháng 11/2006 và tháng 6/2008, 800.000 phụ nữ đã được tiêm chủng,
theo Cơ quan an ninh y tế các sản phẩm y tế của Pháp (Afssaps), 400.000
người đã nhận một liều tiêm chủng, 200.000 người đã nhận hai liều, và
chỉ 200.000 là đã nhận ba liều mà thôi. Hầu hết là những liều tiêm chủng
“ đuổi ” (rattrapage) nơi các thanh thiếu nữ 15-23 tuổi, và một số ít
(14%) nơi các thiếu nữ 14 tuổi. Thành tích nửa mùa này được giải thích
một phần bởi giá thuốc cao (khoảng 135 Euro một liều đối với Gardasil,
112 Euro đối với Cervarix). Nhưng những vaccin này gây ra những mối dè
dặt khác. Đầu năm 2008, hai thiếu nữ chết ở châu Âu sau khi được tiêm
một liều Gardasil. Vaccin này cuối cùng không được quy cho trách nhiệm
gây ra tử vong, và các dữ kiện mới nhất của pharmacovigilance của Afssaps
có tính chất trấn an. Vấn đề còn lại là vấn đề hiệu quả. “ Chúng ta không
biết rõ sau 5 năm vaccin có còn tác dụng bảo vệ không ? ”, Haute autorité
de santé đã ghi nhận như vậy. Nhất là việc tiêm chủng không miễn trừ một
sự theo dõi bằng frottis. “ Khoảng 30% các ung thư cổ tử cung được liên
kết với các loại HPV sinh ung thư khác với những loại được bảo vệ bởi
vaccin. Nếu những phụ nữ ít đi thăm khám để được phảt hiện bệnh hơn, một
sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của những ung thư này sẽ có
thể xảy ra ”, Haute autorité de santé đã nhấn mạnh như vậy. Do đó việc
tiêm chủng phổ biến có được biện minh hay không ? “ Tương lai, đó là tiêm
chủng kèm theo frottis, Pierre Coursaget (nghiên cứu HPV từ 1992) đã đánh
giá như vậy. Chỉ có chiến lược này mới có thể cải thiện được tình hình
hiện nay, và làm giảm một nửa nguy cơ tử vong về lâu về dài”. Nguồn:
(SCIENCE ET VIE 9/2008)
9/ NGƯỜI TA BIẾT CÁCH LÀM TĂNG SINH TRỞ
LẠI BAO MYELINE
Các chú chuột bị bệnh thần kinh đã tìm lại một hoạt động não bộ gần như
bình thường nhờ được tiêm vào các tế bào gốc phát xuất từ phôi thai người
! Những động vật này bị một thoái hóa myéline, một chất mỡ bao các sợi
thần kinh nhằm bảo vệ sự liên lạc giữa các nơ ron. Được điều trị bởi nhóm
nghiên cứu Hoa Kỳ, do Steven Goldman lãnh đạo, 4 trên 26 chú chuột bị
bệnh đã hầu như được chữa lành. Các tế bào gốc đã tái tạo myéline của
toàn bộ não bộ và của tủy sống ! Những kết quả này mở ra những triễn vọng
mới đối với những bệnh do bị thoái hóa myéline, như bệnh xơ cứng rải rác
(sclérose en plaques) và các bệnh loạn dưỡng chất trắng (leucodystrophies).
“Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ bắt đầu những thử nghiệm lâm sàng trên người
trong vòng 2 năm nữa”, giáo sư Goldman đã đánh giá như vậy. Nguồn:
(SCIENCE ET VIE 8/2007)
10/ TRISOMIE 21: MỘT ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN
SỚM HƠN
Nước Pháp có thể trở nên một trong những nước hiếm hoi đề nghị một xét
nghiệm máu để phát hiện trisomie cho tất cả các phụ nữ có thai, ngay tam
cá nguyệt đầu tiên của thai nghén.
Hầu hết các phụ nữ, ngay tuần lễ thứ 12 của thai kỳ, đều có thể được đánh
giá chính xác về nguy cơ mang một đứa trẻ bị trisomie (hiện tượng thể
ba), thay vì theo lệ thường phải chờ đợi đến tuần lễ thứ 18, nhiều chuyên
gia họp hội nghị ở Hôpital américain de Paris, ở Neuilly-sur-Seine, đã
xác nhận như thế. Lấy máu xét nghiệm, được thực hiện ngay trước khi làm
siêu âm đầu tiên là đủ : kết quả định lượng hai hormone của nhau, bêta
hCG và PAPP-A, cho phép xác định rõ ràng nguy cơ bị trisomie 21. “Bằng
cách phối hợp xét nghiệm máu này với tuổi của người mẹ và với sự đo độ
sáng của cổ của thai nhi được xác lập bằng siêu âm, chúng tôi đã chứng
tỏ rằng 80% các phụ nữ có thai không cần đến những xét nghiệm bổ sung”,
giáo sư Yves Ville, của bệnh viện Poissy (Yvelines) đã phát biểu như vậy.
Xét nghiệm này dĩ nhiên không miễn trừ siêu âm bắt buộc của tháng thứ
hai.
Nếu có nghi ngờ lúc làm siêu âm lần đầu, thì nghi ngờ này có thể được
loại bỏ với thăm khám sâu hơn của thai nhi bởi một người lành nghề ; trong
thăm khám này, những bất thường khác của nhiễm sắc thế cũng có thể được
phát hiện. Và nếu nguy cơ có vẻ cao tức thời, một sinh thiết trong nhau
có thể được thực hiện cùng ngày để xác định bất thường di truyền. Phương
pháp nhanh hơn nhiều này, đã được sử dụng trong vài nước châu Âu, như
Đan Mạch, cũng như ở Hôpital américain de Paris, đã được xác nhận năm
vừa qua bởi Haute Autorité de santé, như là phương pháp tốt nhất để phát
hiện trisomie.
Ngoài sự việc xét nghiệm máu tránh được hầu hết các trường hợp chọc màng
ối (amniocentèse) vào tam cá nguyệt thứ hai, nó cho phép mỗi năm nhiều
trăm phụ nữ làm gián đoạn thai nghén sớm hơn, nếu như họ mong muốn, và
như thế trong những điều kiện sinh lý và y khoa tốt hơn. “ Sự định lượng
nồng độ PAPP-A và của bêta hCG sẽ cũng hữu ích để phát hiện những nguy
cơ khác còn thường xảy ra hơn, như các nguy cơ bị tiền sản giật (prééclampsie)
nơi người mẹ và nguy cơ bị sinh non rất sớm hay bị chậm tăng trưởng nơi
thai nhi”. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/9/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |