 |
Thời
Sự Y Học số 92
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ “VỊ VUA CỦA NỀN Y HỌC
TRUNG HOA”
Trong thời kỳ tương đương với thời kỳ trung cổ ở Tây Âu, nền y học Trung
Hoa đã trải qua một giai đoạn tương đối trì trệ, tuy nhiên được đánh dấu
bởi vài thầy thuốc xuất sắc, đứng đầu là Sun Simiao, “vị vua của nền y
học”.
Với các thầy thuốc như Zhang Zhongjing và Hua Tuo, triều đại nhà Hán là
một thời kỳ rạng rỡ đối với sự phát triển của nền y học Trung Hoa, được
mở đầu bởi Bian Que vài thế kỷ trước đó. Vào cùng thời kỳ, dưới những
chân trời khác, kết quả của tình cờ hay do sự giao cảm huyền bí, các thầy
thuốc Hy Lạp và La Mã đã đặt những mốc quan trọng trên con đường của nền
y học Tây phương hiện đại. Sau khi Đế quốc La mã sụp đổ, nghệ thuật điều
trị ở Tây phương trải qua một giai đoạn ít đổi mới ; trong suốt thời kỳ
tương ứng với thời kỳ Trung Cổ của Tây Phương, nền y học Trung Hoa cũng
đã sống những thời kỳ đã không ghi dấu ấn vào trí nhớ, mặc dầu không phải
là không có những tiến bộ.
NGÀN TIỀN VÀNG
Ảnh hưởng của Phật giáo lên y học (kể cả lên những thầy thuốc Lão giáo),
trong suốt thời kỳ này, là một dữ kiện mà chúng ta không thể không biết
đến. Các tác phẩm Phật giáo Trung hoa và Tây tạng trình bày chi tiết những
phương pháp trị liệu bằng thuốc và thể dục, đã đặc biệt ảnh hưởng nhiều
lên Sun Simiao (581-682), chắc chắn là một trong những thầy thuốc Lão
giáo lớn nhất của thời kỳ này, về mặt góp phần cho nền y học Trung Hoa
và về những điều trị mang lại cho những bệnh nhân. Chúng ta biết hai tác
phẩm do ông viết, Qian Jin Yao Fang (“Những đơn thuốc đáng giá ngàn vàng”)
và “Qian Jin Yi Fang” (“Những đơn thuốc phụ đáng giá ngàn vàng”). Cả hai
tác phẩm này, như tên sách chỉ rõ, chứa chủ yếu những phương thuốc nhằm
điều trị các bệnh lý khác nhau. Trong những tác phẩm của mình, Sun Simiao
phân biệt những bệnh tổng quát và những bệnh đặc hiệu cho trẻ em và phụ
nữ.
LỜI THỀ HIPPOCRATE TRUNG HOA
Bản văn có lẽ đáng chú ý nhất của “Vị vua của nền y học” là một bản thảo
trong đó ông ta nêu lên sự lương thiện tuyệt đối của người thầy thuốc
lớn, một bản văn mà đôi khi người ta gọi là “lời thề của Hippocrate Trung
Hoa”. “ Một thầy thuốc lớn không được bận tâm đến cương vị xã hội, sự
giàu sang và tuổi tác. Người thầy thuốc này cũng không được lo âu muốn
biết một người là đẹp hay xấu, bạn hay thù, người Hoa hay người nước ngoài,
có học hay vô học. Người thầy thuốc phải điều trị tất cả các bệnh nhân
cùng một cách như nhau, và luôn luôn hành động như thể các bệnh nhân là
bà con ruột thịt của mình,” đoạn văn quan trọng nhất đã xác định như thế.
Nguồn: (LE GENERALISTE 7/8/2008)
2/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG VÀ RĂNG MỌC SỚM
Hiện tượng răng mọc chậm nơi trẻ em được biết rõ hơn là răng mọc sớm .
Theo những kết quả của một công cuộc điều tra quy tụ 700 trẻ từ 6 đến
18 tuổi, hiện tượng răng mọc sớm thường xảy ra hơn nơi các bệnh nhân đái
đường trẻ tuổi, so với những trẻ không bị đái đường. Chính giữa 10 và
14 tuổi, tốc độ mọc răng dường như gia tốc trong trường hợp đái đường.
Những yếu tố đồng thời tại chỗ (lợi răng) và tổng quát (nội tiết và chuyển
hóa) giải thích hiện tượng này. Sự mọc răng được thực hiện với những tốc
độ thay đổi tùy theo mỗi người. Nguồn: (SCIENCES ET
AVENIR 9/2008)
3/ CÀ
PHÊ VÀ SỨC KHOẺ TIM MẠCH
Có rất nhiều thành kiến về cà phê lên sức khỏe tim mạch. Phải chăng những
thành kiến này có căn cứ ? Để làm sáng tỏ vấn đề, Giáo sư Christian Brohet,
thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc các Bệnh viện đại học Saint-Luc của UCL
sẽ trình bày những kinh nghiệm cá nhân về vấn đề này.
Hỏi : Giáo sư Brohet, trong kinh nghiệm lâm sàng của
ông, cà phê có làm biến đổi chức năng tim và mạch máu hay không ?
Giáo sư Brohet : Tôi đã không bao giờ chứng thực một điều như vậy trong
công tác của tôi. Trong quá khứ, người ta sợ rằng một sự tiêu thụ quan
trọng cà phê dẫn đến loạn nhip tim hay làm dễ một loạn năng tâm thất trái
hay làm gia trọng một suy tim. Ngày nay sự việc rõ ràng : không phải là
như vậy. Cà phê không phải là một yếu tố nguy cơ như nghiện thuốc lá hay
uống rượu. Nó cũng không làm gia trọng những yếu tố nguy cơ tim mạch được
biết đến khác. Một công trình nghiên cứu về suy tim đã chứng tỏ rằng tiêm
tĩnh mạch caféine (4mg/kg) cải thiện sự chịu đựng của các bệnh nhân đối
với gắng sức. Một công trình nghiên cứu khác đã gợi ý sự trở nặng của
suy tim trong trường hợp tiêu thụ cà phê quá nhiều, nhưng nghiên cứu này
hoàn toàn riêng lẻ và chúng ta đã không bao giờ tìm thấy điều xác nhận
trong những công trình khác. Trong tài liệu y học cũng không có những
dữ kiện cho phép cho rằng có một tác dụng âm tính lên chức năng mạch máu.
Nếu là một tác dụng lên các động mạch ngoại biên, thì đó đúng hơn là tác
dụng giãn mạch, điều này có thể là một điều tốt nơi bệnh nhân bị xơ mỡ
động mạch.
Hỏi : Phải hiểu như thế nào là tiêu thụ quá nhiều cà
phê ?
Giáo sư Brohet : Điều này tùy theo mỗi cá nhân bởi vì nhiều yếu tố có
thể ảnh hưởng lên chuyển hóa của các thành phần của cà phê. Chỉ số khối
lượng cơ thể (BMI : body mass index) có thể là một trong những yếu tố
này. Những đặc điểm chuyển hóa của mỗi cá thể (ví dụ chuyển hóa chậm hoặc
nhanh), chức năng gan, sự nhạy cảm của mỗi cá nhân, v..v cũng có tính
chất quyết định.Người ta thường khuyên không nên uống quá 4-5 tách cà
phê mỗi ngày. Lại nữa, điều này phụ thuộc vào cách mà cà phê được pha
chế. Đối với cà phê “américain”, chúng ta có thể uống nhiều hơn nhưng
đối với “expresso”, tốt hơn là đừng uống đến 5 tách mỗi ngày, mặc dầu
sự vượt quá này không hẳn đã là tai họa. Tư tưởng chủ đạo là tránh vượt
quá một cách có hệ thống những liều lượng caféine khoảng 400-500 mg/ngày.
Hỏi : Cần khuyên gì nơi người bình thường và bệnh nhân
bị bệnh tim có sự tiêu thụ quan trọng cà phê ?
Giáo sư Brohet : Cái sợ của người dân là cái sợ bị hồi hộp. Thật vậy,
người ta ghi nhận một sự tăng nhẹ nhịp xoang trong trường hợp trên 5 tách
mỗi ngày. Nhưng, xin nhắc lại, không có nguy cơ loạn nhịp, rung nhĩ, cũng
không có ngoại tâm thu nhĩ hay thất. Và những loạn nhịp đã có trước không
bị biến đổi bởi cà phê.
Công chúng cũng sợ những vấn đề mất ngủ. Đúng là cà phê tăng cường sự
chăm chú. Nhưng điều đó có lợi trong vài trường hợp. Ngoài những trường
hợp này ra, cần quản lý lượng cà phê và lúc tiêu thụ .
Hỏi : Nơi những người cao huyết áp và đái đường thì sao
?
Giáo sư Brohet : Người ta cũng chứng thực một sự tăng cao nhẹ và tức thời
của huyết áp trong trường hợp tiêu thụ quan trọng cà phê. Nhưng về lâu
về dài thì đúng hơn là một sự giảm huyết áp xảy ra. Trái lại, đúng hơn,
chính sự tiêu thụ rượu và nhất là muối mà chúng ta sẽ khuyên người cao
huyết áp nên thận trọng.
Về bệnh đái đường, người ta đã ghi nhận một sự liên kết nghịch giữa việc
tiêu thụ đều đặn cà phê và nguy cơ bị bệnh đái đường. Vậy chính đó mà
cà phê sẽ có một tác dụng thuận lợi. Nguồn: (LE MAGAZINE
DES GLEMS 4/2008)
4/ CÁC CƠN GIÔNG VÀ NHỮNG NGƯỜI BỊ HEN PHẾ
QUẢN
Chúng ta đã biết rằng mùa xuân và mùa của các phấn hoa là có hại cho những
người bị hen phế quản. Nhưng mùa hè, cũng không tốt gì hơn, nhất là lúc
trời lên cơn giông. Nếu bạn bị bệnh hen phế quản, thế thì tốt hơn bạn
nên ở nhà. Một công trình nghiên cứu được thực hiện trong 10 năm, trên
41 bệnh viện của vùng Atlanta (Hoa Kỳ), chứng tỏ rằng những trường hợp
nhập viện vì các cơn hen phế quản gia tăng 3% trong những ngày sau một
cơn giông. Lời giải thích? Theo các tác giả của công trình nghiên cứu
được công bố trong tạp chí Thorax, sự dữ dội của các cơn mưa và của gió
sẽ gây vỡ các hạt phấn hoa. Những hạt này sẽ rải ra trong không khí những
chất gây dị ứng cao bởi vì những hạt bị vỡ có kích thước nhỏ hơn và do
đó có thể đi vào sâu trong phổi. Ngoài ra các dị ứng nguyên (allergène)
sẽ được phân tán rộng rãi bởi các cơn gió mạnh, thường nổi lên trong những
giờ đầu sau cơn giông. Hiện tượng này đã được quan sát ở Birmingham, Londres,
Melbourne, Naples, nhưng ở Pháp thì không (vì chưa có một công trình nghiên
cứu nào đã được thực hiện). Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR
9/2008)
5/ CÁC NHÂN VẬT NỔI TIẾNG VÀ BỆNH ADDISON
Văn sĩ người Anh Jane Austen (1775- 1817), tác giả của các tác phẩm nổi
tiếng “Raison et Sentiments” và “Orgueil et Préjugés”, đã là đối tượng
của nhiều phim ci-nê, có lẽ đã bị bệnh Addison ; bệnh này có lẽ đã đưa
đến cái chết của bà vào năm 41 tuổi. Căn bệnh này chưa được nhận biết
vào thời kỳ đó, chẩn đoán chỉ được thực hiện về sau từ bối cảnh lâm sàng
do nhà văn mô tả, đặc biệt là về màu da. Nhân vật nổi tiếng nhất đã bị
bệnh Addison vẫn là tổng thống Hoa Kỳ John Fitzgerald Kennedy (1917-1963).
Căn bệnh Addison của Kennedy dường như đã được chẩn đoán vào lúc ông lưu
trú ở Luân Đôn năm 1947. Mặc dầu bề ngoài có vẻ mạnh khỏe một phần nhờ
sắc da rám nắng (vì bệnh Addison mà phải phơi nắng!) nhưng thật ra JFK
có một sức khỏe yếu ớt hơn. Ông đã bị nhiều cơn nhiễm trùng, đường hô
hấp và đường tiết niệu , cần sử dụng nhiều loại kháng sinh khác nhau.
Ông bị đau lưng và phải chịu nhiều phẫu thuật ở cột sống không mang lại
thành công cho lắm. Cột sống của ông ở trong tình trạng xấu, ít nhất một
phần, là do chứng loãng xương, sau khi điều trị thay thế bởi các corticoides.
Ông cũng được chích đều đặn procaine để trị các cơn đau lưng, để có thể
đảm bảo những công việc mà chức vụ tổng thống của ông đòi hỏi. Từ lúc
tuổi ấu thơ, ông đã bị nhiều cơn ỉa chảy (viêm đại tràng) và ông đã dùng
élixir parégorique để điều trị. Các thầy thuốc đã điều trị ông bằng các
hormone tuyến giáp, các chất làm giãn cơ, các stéroides (testostérone),
các barbituriques. Để điều chỉnh một vài tác dụng của cái coctail giết
người này, ông đã sử dụng amphétamines. Trong quân đội, mà JFK là tổng
tư lệnh với tư cách tổng thống Hoa Kỳ, mọi sĩ quan, dầu chỉ sử dụng một
phần của một chế độ thuốc men như thế, đều bị cách chức ngay tức khắc.
BS Kelman, người đã có thể tiếp cận với hồ sơ bệnh án của JFK, ước tính
rằng trong nhiệm kỳ của ông, Kennedy đã uống mỗi ngày từ 10 đến 12 loại
thuốc, tuy nhiên vị thầy thuốc này xác nhận rằng điều này dường như đã
không ảnh hưởng ông trong lúc thi hành nhiệm vụ.
Người thầy thuốc này nói đến cái tính chất anh hùng của tổng thống, khi
xét đến cái phương cách mà Kennedy đã đảm bảo những bổn phận do chức vụ
ông đòi hỏi và điều này mặc dầu tất cả những nỗi “khốn cùng” mà ông đã
phải chịu đựng. Nguồn: (LE GENERALISTE 4/9/2008)
6/KHÔNG CÓ VITAMINE D, TỶ LỆ TỬ VONG LEO
THANG
Những nhà nghiên cứu của đại học y khoa Johns Hopkins đã phân tích một
nhóm mẫu 13.000 người đàn ông và phụ nữ có sức khoẻ tốt. Trong số 1.800
người tham dự và chết vào ngày 31/12/2000, có gần 700 người là do hậu
quả của bệnh tim mạch, còn 400 người thì do bị thiếu vitamine D, hoặc
một nguy cơ tử vong 26% cao hơn.
Số trường hợp tử vong do một nhồi máu cơ tim không đủ cao để có thể thiết
lập một cách khoa học một mối liên hệ nhân quả, các tác giả đã giải thích
như vậy trong công trình được công bố trong Archives of Internel Medicine
số 11/8. Những công trình nghiên cứu này chỉ rõ một mối liên hệ giữa các
nồng độ vitamine D thấp trong máu và sự gia tăng ung thư vú cũng như chứng
trầm cảm nơi các người già. Một nghiên cứu khác đã xác lập mối liên hệ
khả dĩ với một sự gia tăng 80% nguy cơ bệnh động mạch. Một nghiên cứu
của Áo thực hiện trên 3.258 bệnh nhân 62 tuổi đã được công bố cuối tháng
6 trong Jama và tiết lộ rằng những người có nồng độ vitamine D thấp nhất
có nguy cơ tử vong hai lần cao hơn những người với nồng độ cao nhất. Theo
các tác giả, ít nhất một nửa những người trưởng thành trên 50 tuổi trên
thế giới có một nồng độ vitamine D thấp trong máu và vấn đề này cũng ảnh
hưởng một bộ phận quan trọng của những người trẻ tuổi hơn. Sự giảm các
hoạt động bên ngoài, sự ô nhiễm và sự lão hóa là những lý do khả dĩ giải
thích sự thiếu hụt này. Nguồn chủ yếu của vitamine là một sự tiếp xúc
với ánh sáng mặt trời 10-15 phút mỗi ngày. Những nguồn thực phẩm là các
loại cá béo (cá hồi, cá ngừ, hareng...)
Viện y học Hoa Kỳ khuyến nghị 200 đơn vị vitamine D mỗi ngày cho các người
trẻ và những người lớn cho đến tuổi 50.Trên lứa tuổi này, Viện khuyên
400-600 đơn vị mỗi ngày.Nhưng những khuyến nghị này đang là đối tượng
của những tranh cãi trong thế giới khoa học. Nguồn:
(LE SOIR 13/8/2008)
7/ VITAMINE D VÀ GÃY XƯƠNG HÁNG
Các phụ nữ mà nồng độ vitamine D trong máu cao có ít nguy cơ bị gãy xương
háng hơn. Điều chứng nhận này ủng hộ ý nghĩ cho rằng dùng bổ sung vitamine
D là một cách đơn giản và ít tốn kém để ngăn ngừa những gãy xương háng,
J.Cauley (Hoa Kỳ) đã đánh giá như vậy. Mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine
D và nguy cơ gãy xương háng có vẻ càng ngày càng rõ rệt. Vitamine D có
thể bảo vệ chống lại các gãy xương bằng nhiều cách khác nhau : không những
bởi vì vitamine D làm mạnh xương, mà còn bởi vì cải thiện sự cân bằng
và sức mạnh của cơ, điều này có thể giúp ngăn ngừa té ngã. Các nhà nghiên
cứu đã khảo sát mối liên hệ giữa các nồng độ vitamine D trong máu và nguy
cơ gãy xương bằng cách so sánh 400 phụ nữ bị gãy xương háng với 400 phụ
nữ đã không bao giờ bị vấn đề này. Các phụ nữ này đã tham gia vào Women’s
Health Initiative Observational Study, trong thời kỳ mãn kinh và không
dùng oestrogène, cũng như những thuốc ảnh hưởng lên sự cấu tạo xương.
Nồng độ trung bình của vitamine D thấp hơn nhiều trong nhóm đã bị gãy
xương. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2008)
8/ STRESS QUAN TRỌNG
TRONG TỬ CUNG, YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
Một sự căng thẳng quan trọng có thể làm rối loạn sự phát triển của não
bộ của thai nhi và khiến cho thai nhi sau này chịu nguy cơ mắc phải bệnh
loạn tâm thần này. Các phụ nữ chịu một stress đặc biệt dữ dội trong những
tháng đầu của thai nghén sẽ có nhiều nguy cơ hơn sinh ra những đứa bé
về sau sẽ trở nên tâm thần phân liệt, theo một điều tra được công bố mới
đây trong BioMed Central Psychiatry. “Loại stress nơi đây thuộc loại căng
thẳng mà chúng ta chịu đựng lúc có một tai họa thiên nhiên, một tấn công
khủng bố, một cơn bão hay một tình trạng tang chế đột ngột”, tác giả chính
của công trình nghiên cứu, BS Dolores Malaspina của Khoa Tâm Thần thuộc
Đại Học Nữu Ước đã xác nhận như vậy. Ông nói thêm : “Một tình trạng stress
suốt trong đời sống trong tử cung có thể ảnh hưởng lên sự phát triển thần
kinh của thai nhi, như các công trình thí nghiệm trên động vật đã chứng
tỏ điều đó.
Nhiều giả thuyết đã được đưa ra về nguồn gốc của chứng bệnh loạn tâm thần
bi thảm này, xảy ra vào tuổi thiếu niên hay vào lúc khởi đầu của đời sống
trưởng thành và có nguy cơ làm rối loạn nghiêm trọng cuộc sống của những
thanh niên bị bệnh và của gia đình họ. Được đặc trưng bởi các ảo giác,
mê sảng, những lo âu, một sự rối loạn lời nói và tư tưởng, căn bệnh này
liên kết với sự mất đời sống tình cảm và xúc cảm.
Rất nhiều yếu tố đã được quy kết để giải thích sự xuất hiện của những
rối loạn này, ảnh hưởng đến 1% dân chúng. Đặc biệt sự di chuyển của những
nơ ron liên hệ trong chức năng của các vùng não bộ liên tưởng (régions
cérébrales associatives) : tính chất dễ bị tổn thương về mặt di truyền,
các biến chứng tiền và chu sinh (nhiễm trùng bởi virus cúm trong thời
kỳ thai nghén, v...v) và những yếu tố tâm lý xã hội.
Trong công trình nghiên cứu này, Dolores Malaspina khảo sát những quan
sát về dân Israel trong thời kỳ chiến tranh chớp nhoáng 6 ngày, tháng
6 năm 1967. Nhóm nghiên cứu đã xem xét các dữ kiện y khoa của 89.000 người
sinh ra ở Jerusalem giữa năm 1964 và 1976.
CON GÁI DỄ BỊ THƯƠNG TỔN HƠN
Trong thời kỳ này, 637 trường hợp tâm thần phân liệt đã được liệt kê,
theo sổ ghi chép nhà nước về bệnh tâm thần của Israel. “Vào tháng sáu
năm 1967, những đứa trẻ được sinh ra từ các phụ nữ khi đó ở vào tháng
thứ hai của thai kỳ, đã phát triển một số lượng bệnh lý tâm thần phân
liệt lớn hơn”. Các nhà nghiên cứu chỉ rõ “một cửa sổ dễ bị thương tổn
tương đối hẹp vào tháng thứ hai của thai kỳ”. Đặc tính khác cần được nhấn
mạnh, một sự khác nhau rõ rệt giữa trai và gái của tác động stress của
người mẹ. Trong chiến tranh 1967, nguy cơ phát triển một bệnh loạn tâm
thần như thế là 4,3 đối với các thai nhi nữ (khi đó ở vào tháng thứ hai
của đời sống trong tử cung), so với 1,2 đối với các thai nhi nam tính.
Những kết quả này thêm vào những quan sát khác đã nhấn mạnh về vai trò
quan trọng của một stress tiền sinh. Van Os và Selten năm 1998 đã chứng
tỏ rằng sự xâm lăng và sự sụp đỗ phủ phàng của nước Hoà Lan vào lúc Đức
tấn công năm 1940 đã tạo những điều kiện cho một stress cấp tính và ồ
ạt lên toàn bộ dân chúng. Với hậu quả là 20 sau, một sự gia tăng những
trường hợp tâm thần phân liệt nơi những người mà mẹ đã bị một sốc như
thế trong lúc mang thai. Nguồn: (LE FIGARO 1/9/2008)
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2008)
9/ DẦU CÁ CÓ LỢI CHO TIM
Để điều trị các bệnh nhân bị suy tim, một bệnh lý xảy ra khi tim phì đại
không thể đảm bảo một cách hiệu quả vai trò bơm của mình, một bổ sung
dầu cá giàu oméga-3 có thể có hiệu quả như một loại thuốc chống lại sự
thặng dư cholestérol, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong
tạp chí Lancet.
Một nhóm các nhà nghiên cứu Ý trước hết đã cho một viên oméga-3, dẫn xuất
của dầu cá, nơi 3.500 bệnh nhân mỗi ngày. Đối với các thầy thuốc, lợi
ích cũng giống với những bệnh nhân ăn nhiều cá mỡ hơn, như cá hồi (saumon).
Một nhóm thứ hai bao gồm những bệnh nhân đã nhận một placebo. Tất cả các
bệnh nhân đã được theo dõi 4 năm.
Trong nhóm dùng dầu cá, 1.981 bệnh nhân bị chết vì suy tim hay đã được
đưa vào phòng cấp cứu vì vấn đề này. Trong nhóm placebo, 2.053 bệnh nhân
chết vì suy tim, như vậy có một sự cải thiện của nguy cơ là 8% đối với
những người tiêu thụ dầu cá.
Những axit béo oméga-3 phát xuất từ cá như cá hồi (saumon) hay cá ngừ
(thon) đã chứng tỏ bằng cớ về những lợi ích của chúng lên tim và não bộ,
mặc dầu các nhà khoa học không biết được một cách chính xác tại sao. Một
giả thuyết là các màng tế bào, vì cấu tạo bởi mỡ, nên các dầu cá, do mang
lại oméga-3 mà chúng chứa, có thể đổi mới các màng tế bào và làm cho chúng
chắc chắn hơn.
Trong một nghiên cứu song song, cùng nhóm các thầy thuốc người Ý dường
như đã chứng tỏ rằng dầu cá làm giảm tốt hơn Crestor, một loại thuốc làm
giảm nồng độ cholestérol.
Nguồn: (LE SOIR 2/9/2008) (LE FIGARO 3/9/2008)
10/
NÔN MỬA Ở ĐÀN BÀ CÓ THAI CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ EM BÉ
Đối với 2/3 các phụ nữ, chứng nôn mửa trong thời kỳ thai nghén thể hiện
một thích nghi đối với chế độ ăn uống rất thay đổi, nhằm bảo vệ em bé
chống lại độc tính của các thức ăn như thịt và vài loài thực vật. Đó là
kết luận của hai nhà nghiên cứu Hoa Kỳ sau khi phân tích 2.000 trường
hợp thai nghén trên thế giới.
Trong số 7 xã hội có truyền thống tiêu thụ các thực vật “ nhạt ” (ngũ
cốc) và không có thịt, rất ít phụ nữ có thai bị nôn mửa trong thời kỳ
thai nghén, trái với các phụ nữ của các xã hội phương Tây, tiêu thụ nhiều
thịt và thực vật có mùi vị rõ rệt. Sự hiện diện của tất cả các men, cần
thiết để khử độc mọi hợp chất khả dĩ tấn công phôi thai, vì không thể
có trên phương diện sinh lý, nên nôn mửa là một cách bảo vệ có hiệu quả
vào lúc khởi đầu thai nghén, là lúc mà các cơ quan thai nhi đang trên
đà phát triển, trong khi hệ miễn dịch của người phụ nữ bị suy yếu. Nguồn:
(SCIENCE ET VIE 9/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(12/9/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |