 |
Thời
Sự Y Học số 90
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/
NGƯỜI THẦY THUỐC ĐẦU TIÊN CỦA TRUNG HOA
Thường được xem như là người thầy thuốc thật sự đầu tiên của lịch sử Trung
Hoa, Bian Que đã sống 500 năm trước công nguyên. Tên thật là Qui Yue,
“người thầy thuốc thật sự đầu tiên của Trung Hoa” có biệt danh Bian Que.
Câu chuyện về ông được kể lại trong “Hồi ký của một nhà sử học lớn”, đặc
biệt đề cập đến sự giúp đỡ mà một vị thần linh đã mang lại cho ông trong
khi ông làm việc trong một quán trọ: ở đây ông làm quen với một lão già,
vui thích vì đã được ông phục vụ, đã cho ông một hỗn hợp các loại cỏ và
khuyên ông đun sôi. Sau khi đã uống thuốc lá sắc được chế tạo như thế,
Bian Que khám phá ra rằng ông có khả năng thấy xuyên qua thân thể con
người, một khả năng mang lại cho ông các tài năng chẩn đoán lạ kỳ. Mạch
và châm cứu cũng không có gì là bí mật đối với ông.
NHIỀU TÀI NĂNG
Người ta gán cho Bian Que là tác giả của “Bian Que Neijing”, một “thánh
kinh” thật sự đối với các thầy thuốc thời nhà Hán. Tác phẩm quan trọng
này, tiếc thay đã bị mất đi trong những tình tiết lắc léo của lịch sử,
bàn về tất cả các khía cạnh khả dĩ và có thể tưởng tượng được của y học,
điều này tương ứng đúng với hình ảnh mà chúng ta có về Bian Que, người
thầy thuốc thực hành nhiều tài năng, chuyên gia về đàn bà và trẻ em.
Theo một trong những huyền thoại nổi tiếng nhất được lưu hành về chủ đề
này, Bian Que đã báo trước cho vị vua của nhà nước phong kiến Qi rằng
một căn bệnh, mặc dầu còn tiềm tàng, đã len lỏi vào dưới da, khuyên ông
ta trị nó trước khi bệnh trở thành nặng ra. Vì không cảm thấy một triệu
chứng nào, nhà vua phớt lờ lời khuyên khôn ngoan này, nghi ngờ Bian Que
làm ông lo sợ một bệnh tưởng tượng để tìm cách làm giàu. Sau đó mỗi lần
gặp lại nhà vua, người thầy thuốc này đều lập lại lời cảnh cáo của ông,
báo cho nhà vua biết rằng căn bệnh đã tấn công vào máu, rồi vào các cơ
quan nội tạng. Lần gặp tiếp theo, vừa mới thấy mặt nhà vua là ông đã xoay
lưng ; ông giải thích với một trong những công bộc của nhà vua là căn
bệnh đã trở nên bất trị. Ngày hôm sau nhà vua qua đời.
BỐN GIAI ĐOẠN
Một câu chuyện khác kể rằng Bian Que đi đến nước Guo, ở đây ông thấy dân
chúng đang chịu tang sau khi con của một lãnh chúa địa phương vừa mới
chết. Vị thầy thuốc đã vào cung để điều tra về cái chết này, và chẳng
bao lâu kết luận rằng vị hoàng tử trẻ tuổi thật ra chỉ bị hôn mê sâu.
Bian Que làm vị hoàng tử này tỉnh lại nhờ châm cứu, rồi kê đơn các thuốc
làm hoàng tử bình phục lại hoàn toàn trong vài ngày. Bian Que dạy cho
các môn đồ tôn trọng 4 giai đoạn trong việc thiết lập chẩn đoán : trước
hết nhìn vào lưỡi và diện mạo bên ngoài của bệnh nhân, sau đó nghe giọng
nói và hơi thở của bệnh nhân ; tiếp đến là khám các triệu chứng và bắt
mạch, điều mà ông khuyên cần thực hiện một cách có hệ thống. Nguồn:
(LE GENERALISTE 24/7/2008)
2/ TỶ LỆ SỐNG SÓT SAU MỘT
UNG THƯ THAY ĐỔI NHIỀU TÙY THEO MỖI NƯỚC
Nước Pháp đứng hàng thứ sáu đối với tỷ lệ sống sót (taux de survie) sau
khi phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, và đứng hàng thứ 7 đối với ung
thư vú.
Nước Pháp là một trong những nước trong đó những bệnh nhân bị một vài
loại ung thư trong số những ung thư thường xảy ra nhất, có những cơ may
sống sót (chance de survie) tốt nhất, 5 năm sau khi chẩn đoán căn bệnh
ung thư của họ. Đó là một trong những kết luận của một công trình nghiên
cứu y học quốc tế rộng lớn, được công bố hôm thứ năm 17/7, trên site của
tạp chí Anh The Lancet Oncology. Được mệnh danh là Concord, công trình
nghiên cứu này, do quy mô của nó, là một công trình đầu tiên.
Công trình này so sánh, trên gần 2 triệu người trưởng thành trong 31 nước
trên 5 lục địa, các tỷ lệ phần trăm những bệnh nhân vẫn còn sống 5 năm
sau một chẩn đoán ung thư, về những loại ung thư thông thường nhất : ung
thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại tràng hay ung thư trực tràng.
Được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Michel P. Coleman (London School of
Hygiene and Tropical Medicine) và John L.Young (Emory University, Atlanta),
công trình này căn cứ trên các dữ kiện thống kê của 31 nước của 5 lục
địa. Các chẩn đoán ung thư đã được thực hiện giữa năm 1990 và 1994 và
những dữ kiện sau cùng về tỷ lệ sống còn có từ năm 1999.
Một cách tổng quát, các tỷ lệ sống còn tốt nhất ghi nhận được ở Bắc Mỹ,
tiếp theo sau là Úc, Nhật Bản và các nước Tây Âu. Pháp đứng vị trí hàng
đầu đối với ung thư đại-trực tràng nam ( 61,5%) và thứ năm đối với ung
thư đại-trực tràng nữ ( 55,6%), đứng hàng thứ sáu đối với ung thư tiền
liệt tuyến (73%) và đứng hàng thứ 7 đối với ung thư vú (77,8%).
Nếu những khác nhau về mặt thống kê là nhỏ giữa các nước có những kết
quả tốt nhất được quan sát, thì những cách biệt lại đáng kể đối với những
nước thu được những kết quả kém tốt hơn. Đó là trường hợp Algérie có tỷ
lệ sống sót sau 5 năm đối với ung thư vú là 38,8% và đối với ung thư tuyến
tiền liệt là 21,4%. Đó cũng là trường hợp đối với Ba Tây (với tỷ lệ lần
lượt 58,4% và 49,3%) cũng như trong phần lớn các nước Đông Âu. Với 69,7%
và 51,1%, Anh thu được một trong những kết quả ít tốt nhất của các nước
Tây Âu. Đan Mạch chỉ nhận được 38,4% tỷ lệ sống còn đối với ung thư tiền
liệt tuyến.
Đối với Hoa Kỳ, công trình nghiên cứu này cũng làm sáng tỏ những thay
đổi quan trọng giữa người da đen đối với những người da trắng. Những dị
biệt này là 7% đối với ung thư tiền liệt tuyến và 14% đối với ung thư
vú. Tình hình này, theo các nhà nghiên cứu, có nguồn gốc thật sự nơi sự
bất bình đẳng về mặt cơ hội được chẩn đoán và điều trị cũng như trong
những đầu tư được thực hiện
XẾP HẠNG CÁC NƯỚC
Những nước chiếm vị trí đầu tiên có tỷ lệ sống sót tốt nhất 5 năm sau
khi một ung thư được chẩn đoán.
1/ Ung thư vú : 1.Hoa Kỳ 2. Canada 3. Thụy Điển…7.Pháp.
21.Anh...
2/ Ung thư tuyến tiền liệt : 1. Hoa Kỳ 2. Áo 3. Úc …
6. Pháp … 18.Anh… 28. Đan mạch.
3/ Ung thư đại-trực tràng nam : 1.Nhật Bản 2. Hoa Kỳ
3.Úc 4. Pháp 20.Anh 28.Cọng hòa Tiệp 29.Ba Lan
4/ Ung thư đại-trực tràng nữ : 1.Pháp 2. Hoa Kỳ 3.Canada...
21.Anh
Nguồn: (LE MONDE 19/7/2008) (LE FIGARO 17/7/2008)
3/ MỘT LOGICIEL ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH ALZHEIMER
Vào các giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer, thùy hải mã (hippocampe), một
phần của não bộ dành cho các quá trình ghi nhớ, bị teo lại. Đo lường sự
giảm thể tích của nó một cách tự động với IRM, cho phép chẩn đoán sớm
bệnh Alzheimer. Từ nay, đó là điều có thể thực hiện được nhờ một logiciel
xử lý các hình ảnh, được phát triển bởi các nhà nghiên cứu của CNRS. Dụng
cụ này cho phép, từ IRM, tái tạo theo 3 kích thước những cấu trúc não
bộ và tính toán thể tích của chúng. Những thử nghiệm đầu tiên, được tiến
hành với sự cộng tác của các nhà nghiên cứu Inserm và được công bố trong
tạp chí Radiology, đã chứng minh lợi ích của nó trong chẩn đoán sớm bệnh
Alzheimer. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 8/2008)
4/ ALZHEIMER : MỘT LOẠI THUỐC ĐẦY HỨA HẸN
ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM
Nhờ cơ chế tác dụng, thuốc này làm chậm lại sự tiến triển của bệnh.
Số người bị bệnh Alzheimer gia tăng mỗi năm ở Pháp, do sự gia tăng tuổi
thọ, trong khi đó các điều trị vẫn không có hiệu quả và dầu sao cũng không
ngăn chặn được sự thoái hóa dần dần của các chức năng của não bộ. Trong
hội nghị quốc tế về bệnh Alzheimer diễn ra ở Chicago, các thầy thuốc người
Anh đã trình bày hôm thứ ba các kết quả đầy hứa hẹn của một thử nghiệm
lâm sàng trên 321 bệnh nhân với một thứ thuốc có một cơ chế tác dụng đổi
mới. Trong căn bệnh này, mỗi thử nghiệm điều trị gây nên nhiều hy vọng
trong khi các chuyên gia nói chung vẫn thận trọng, trong lúc chờ đợi các
bằng cớ chính thức.
Các kiến thức sinh lý bệnh lý về bệnh Alzheimer đã tiến triển nhiều với
dòng thời gian, phát hiện những mục tiêu trị liệu mới. Một cách rất giản
lược, chúng ta biết rằng bệnh Alzheimer được đặc trưng trong não bộ bởi
một sự thiếu hụt acétylcholine (chất dẫn truyền thần kinh của não bộ),
bởi những lắng đọng của các mảng protéine được gọi là bêta-amyloide và
sau cùng bởi sự hiện diện của các neurofibrille giàu protéine được gọi
là TAU trong các tế bào thần kinh. Vài thứ thuốc trên thị trường nhằm
ngăn cản sự phá hủy của acétylcholine, với những hiệu quả được xem là
thứ yếu. Các dược phẩm đang được đánh giá như là các kháng thể đơn dòng
(anticorps monoclonaux) hay sự chủng ngừa nhằm ngăn cản sự tích tụ của
các mảng amyloide. Sau cùng, một phương thức thứ ba nhằm vào protéine
TAU để ức chế sự tích tụ của nó trong các tế bào thần kinh.
CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU RẤT ĐƯỢC MONG ĐỢI
Chính phương cách thứ ba này đã được mô tả ở Chicago, với một loại thuốc
được đặt tên là Rember (hay méthylthiominium). “ Các dữ kiện này rất được
mong đợi, giáo sư Françoise Forette ( bệnh viện Broca, Paris) đã giải
thích như vậy, bởi vì đây là lần đầu tiên protéine TAU là mục tiêu của
một điều trị. ”
Tổng cộng, 321 bệnh nhân bị một thể nhẹ hay trung bình, đã được chia thành
4 nhóm ; những nhóm này nhận 30, 60 hay 10 mg Rember và những nhóm khác
nhận một placebo.
Các kết quả cho thấy rằng sau 19 tháng, những bệnh nhân đã dùng thuốc
với liều lượng 60 mg, không có sự thoái hóa thần kinh và các triệu chứng
của họ vẫn ổn định, trái với những bệnh nhân dùng placebo, có chức năng
nhận thức tiếp tục bị suy đồi.
“ Nếu những kết quả đầy lý thú này được công nhận, đây sẽ là lần đầu tiên
người ta chứng tỏ rằng một loại thuốc có thể làm chậm lại sự phát triển
của chứng bệnh này, giáo sư Bruno Dubois (bệnh viện Pitié- Salpêtrière)
đã phát biểu như vậy. Nhưng nói chung, tốt hơn là nên thận trọng. Chúng
ta đã thấy các loại thuốc có vẻ tỏ ra hứa hẹn lúc thử nghiệm giai đoạn
2 nhưng không có một hiệu quả nào lúc được nghiên cứu với quy mô lớn ”
Cùng hưởng ứng về phía Françoise Forette : “ Các kết quả sơ khởi này là
đầy hứa hẹn, nhưng chỉ được thực hiện trên một số rất nhỏ các bệnh nhân.
Và bây giờ phải chờ đợi những kết quả nghiên cứu nhiều trung tâm quan
trọng hơn”. Nguồn: (LE FIGARO 31/7/2008)
5/ TRÀ ĐEN LÀM CHẬM SỰ SUY THOÁI CỦA NĂNG
LỰC NHẬN THỨC
Công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm dường như cho thấy rằng trà
có một tác dụng bảo vệ lên chức năng thần kinh nhận thức (fonction neurocognitive).
Tuy nhiên các kết quả này chưa được chứng tỏ nơi người. Một nhóm nghiên
cứu của Singapour đã cố gắng chứng tỏ điều đó. Tze-Pin Ng và các cộng
sự viên đã đo lường mức độ tiêu thụ trà của một nhóm người Hoa (2.501
người) 55 tuổi trở lên, vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và 1 đến
2 năm sau. Họ cũng bắt các người tham gia chịu một trắc nghiệm Mini mental
state, hay Test de Folstein.
Các kết quả cho thấy rằng việc tiêu thụ toàn bộ trà được liên kết một
cách đáng kể với tỷ lệ thấp hơn bị rối loạn nhận thức (trouble cognitif).
Những tác dụng này rõ ràng hơn đối với trà đen (thé noir) (được lên men)
hay oolong (được lên men một nửa), là những thứ trà chủ yếu được uống
bởi những người này. Trái lại, các nhà nghiên cứu không tìm thấy mối liên
hệ giữa cà phê và tình trạng nhận thức. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 12/8/2008)
6/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG VÀ NGUY CƠ GIA TĂNG BỊ
LAO PHỔI
Những người kiểm soát tồi bệnh đái đường của họ có nguy cơ bị bệnh lao
nhiều hơn so với những người khác. Một công trình nghiên cứu xác nhận
điều đó nơi 42.000 người tham dự, trong đó có 5000 người bị bệnh đái đường,
căn cứ trên một chất chỉ dấu (indicateur) đặc biệt đáng tin cậy : nồng
độ hémoglobine glycosylée. Mặc dầu có xét đến tuổi và giới tính cũng như
các yếu tố có thể làm dễ sự biểu hiện của một nhiễm trùng tiềm ẩn bởi
BK, người ta chứng nhận sau 5 năm số trường hợp bệnh lao nơi những người
bị bệnh đái đường 3 lần nhiều hơn so với những người không bị đái đường.
Nguy cơ gia tăng này chỉ liên hệ đến lao phổi và chỉ được quan sát nếu
bệnh đái đường được kiểm soát kém, với nồng độ hémoglobine glycosylée
hơn 7%. Những dữ kiện này đáng chú ý khi ta biết rằng tỷ lệ mắc bệnh lao
phổi ở Pháp, mặc dầu nhìn toàn bộ vẫn ổn định, nhưng 13 lần nhiều hơn
mức trung bình nơi các nhóm dân có đời sống khó khăn, đặc biệt là các
dân nhập cư đến từ châu Á hay Châu Phi dưới Sahara. Nguồn:
(SCIENCES ET AVENIR 8/2008)
7/ THỊT LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ UNG THƯ
Theo công trình nghiên cứu Epic, những người ăn hơn 160 g thịt đỏ (viande
rouge) mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư đại trực tràng gia tăng 30% so với
những người tiêu thụ ít hơn 20g. Những người này cũng có nhiều nguy cơ
hơn bị ung thư thực quản, tụy tạng, phổi và gan. Những tác dụng này là
do fer héminique, khi quá nhiều có thể làm tổn hại mật mã di truyền (code
génétique) và làm dễ, bằng một cơ chế khác, sự xuất hiện các hợp chất
nitrés sinh ung thư. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 8/2008)
8/ TIẾP XÚC VỚI THUỐC TRỪ SÂU CÓ THẾ LÀM
DỄ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Việc tiếp xúc với thuốc trừ sâu kéo dài làm gia tăng nguy cơ phát triển
bệnh đái đường. Đó là điều được chứng tỏ bởi một trong những công trình
nghiên cứu mới đây về chủ đề này, nơi người trưởng thành, bởi National
Institutes of Health của Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ
kiện của 31.787 những người sử dụng thuốc trừ sâu mà lúc đầu không có
người nào trong số những người này bị bệnh đái đường. Họ đã thực hiện
một điều tra để đánh giá mức độ tiếp xúc với các chất hóa học và đã theo
dõi họ trong 5 năm. Sau thời kỳ này, 1171 trong số những người này đã
phát bệnh đái đường. Các nhà khoa học khi đó đã so sánh các thuốc trừ
sâu mà những người này đã tiếp xúc với các thuốc được sử dụng bởi những
người vẫn lành mạnh. Kết quả, 7 hợp chất chlorés ( aldrine, chlordane,
haptachlore, dichlorvos, trichlorfon, alachlore và cyanazine) làm gia
tăng nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường loại 2, cũng như béo phì, thiếu
hoạt động vật lý hay các tiền sử gia đình. Như thế, sự tiếp xúc với thuốc
trừ sâu càng lập đi lập lại trong cuộc sống, thì nguy cơ bị bệnh đái đường
càng gia tăng. Nguồn: (SCIENCE ET VIE 8/2008)
9/ MỘT VACCIN CHỐNG H5N1 TỎ RA ĐẦY HỨA HẸN
Được trắc nghiệm nơi gần 300 người tình nguyện ở Áo và Singapour, một
vaccin mới đã gây nên một đáp ứng miễn dịch tốt chống lại 3 giống gốc
virus H5N1 sau hai liều tiêm mông. Không có tác dụng phụ nghiêm trọng
nào đã được quan sát.Trái với những vaccin trước đây chống cúm gia cầm,
được sản xuất trên trứng gà, thuốc chủng này chứa toàn bộ virus đã được
điều chế từ các canh cấy tế bào. Trong trường hợp đại dịch, một cách chế
tạo như vậy có lợi là không phụ thuộc vào sự sản xuất. Nguồn: (SCIENCE
ET VIE 8/2008)
10/ INDONESIE TẬP TRUNG NHỮNG YẾU TỐ NGUY
CƠ ĐỂ LÀM XUẤT HIỆN MỘT TRẬN ĐẠI DỊCH CÚM NGHIÊM TRỌNG
Indonésie ngày nay là tâm điểm của dịch (épizootie) cúm gia cầm do virus
H5N1. Đó cũng là nước có tỷ lệ tử vong người cao nhất sau nhiễm virus
này. Chính vì thế, giới hữu trách của Veille sanitaire virologique internationale
ước tính rằng Indonésie tập trung tất cả các yếu tố nguy cơ cho sự xuất
hiện một trận đại dịnh cúm có khả năng gây bệnh cao.
Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu được điều hành bởi Toni,
tổng giám đốc kiểm tra bệnh tật và sức khỏe môi trường của Bộ y tế Indonésie,
và được công bố trong The Lancet. Giữa tháng 6 năm 2005 và tháng 2 năm
2008, 127 trường hợp nhiễm trùng bởi virus H5N1 ở người đã được thống
kê ở Indonésie. Các cuộc điều tra đã được thực hiện cho thấy rằng, trong
103 trường hợp, nhiễm trùng có một hậu quả chết người trung bình sau 6
ngày nhập viện, phần lớn là những bệnh nhân có những rối loạn chức năng
hô hấp xảy ra chậm. OMS thống kê tổng cộng 385 trường hợp nhiễm trùng
trên thế giới, trong đó có 283 trường hợp tử vong.
H9N2, KẺ TÌNH NGHI MỚI
Các dữ kiện dịch tể học của Indonésie xác nhận rằng hiệu quả của một trong
hai thuốc kháng virus được chính thức khuyên sử dụng (oseltamivir, hay
Tamiflu của hãng Roche) liên kết chặt chẽ với việc cho thuốc sớm. Đối
với các tác giả của công trình nghiên cứu này, cũng như đối với những
người hữu trách của Tổ chức y tế động vật thế giới, các dữ kiện này nhấn
mạnh sự cần thiết phát triển trong các nước nghèo nhất, đồng thời bị tiếp
xúc nhất, hệ thống theo dõi y tế thú y.
Chính trong bối cảnh này mà một nhóm các chuyên gia được điều khiển bởi
Daniel Perez (đại học Mariland) đã công bố ngày 12/8 trên site của tạp
chí PloS, các kết quả của một nghiên cứu thí nghiệm được tiến hành trên
các chồn sương (furet) gợi ý rằng một giống gốc khác của của một virus
gia cầm ( H9N2 đã xuất hiện nơi gia cầm năm 1988) từ nay cũng có thể đã
trở nên một tác nhân tiềm năng mới của đại dịch cúm chết người. Nguồn:
(LE MONDE 18/8/2008)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/08/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |