 |
Thời
Sự Y Học số 89
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NỘI KINH CỦA HOÀNG ĐẾ
Tác phẩm quan trọng nhất của tài liệu y học Trung Hoa chắc chắn đó là
“Huang Di Neijing” hay “Nội kinh của Hoàng Đế” (Canon interne de Huangdi)
“Nội kinh của Hoàng Đế” từ lâu là tác phẩm tiêu biểu nhất mà tất cả những
ai muốn chuyên về y học Trung Hoa đều đã phải đọc đến. Theo truyền thống,
tác phẩm này được đặt viết bởi Hoàng Đế (Empeureur jaune), muốn nó phản
ánh những buổi mạn đàm của ông ta với các quan lại và những người thân
tín, đặc biệt là thầy thuốc Qi Bo của ông. Tuy nhiên người ta ít biết
về những nguồn gốc thật sự của cuốn sách này, mà vài phần, theo các nhà
sử học, đã có từ năm 1000 trước công nguyên.
Trong triều đại nhà Tống (thế kỷ thứ 8 sau công nguyên), một Wang Ping
nào đó đã xác nhận sở hữu một ấn bản nguyên thủy, mà ông ta đã nghiên
cứu và gia công lại trong suốt 12 năm, thu thập những bản văn thường bị
phân tán khắp 4 phương trời và tái tạo 81 chương tạo thành 2 tập của tác
phẩm. Những lời ghi chép, được thực hiện bằng mực đỏ, sau đó đã được nhập
vào bản văn nguyên thủy bởi những người sao chép.
CHAMANISME
Đại khái, “Nội kinh của Hoàng Đế” gồm 2 phần có đầu đề là ''Suwen"
(những vấn đề đơn giản) và “Ling Shu” (cột trụ tinh thần), nguyên thủy
bao gồm 81 chương mỗi phần. Cuốn sách này không phải là cuốn sách đầu
tiên thuộc loại này, những trích dẫn những tác phẩm đã có trước đó chứng
tỏ điều đó. Bằng cách tham khảo những nguồn kiến thức đã có, rồi làm phong
phú bởi những quan điểm mới, cuốn sách triển khai một thang luận chứng,
đôi khi mâu thuẫn lẫn nhau. Cuốn sách dựa theo tín ngưỡng saman (croyance
chamanique) cho rằng căn bệnh được gây nên bởi một loạt các ảnh hưởng,
trong đó những ảnh hưởng chính yếu là chế độ ăn uống, lối sống, các cảm
xúc, môi trường, tuổi tác và di truyền.
DƯƠNG VÀ ÂM
Một định đề khác của tập chuyên luận là thế giới của chúng ta là một vũ
trụ gồm những lực và những nguyên lý được xác định. Chúng ta biết các
lực đối kháng nhau dương và âm, những khái niệm ngũ hành (thủy, kim, mộc,
hỏa và thổ) cũng quan trọng. Mỗi hành (élément) được liên kết với một
mùa, nhưng cũng liên kết với một phần của cơ thể con người. Mộc (mùa xuân)
liên kết với gan, hỏa (mùa hè) liên kết với trái tim, thổ (mùa hè Ấn Độ)
liên kết với lá lách, kim (mùa thu) liên kết với các lá phổi và thủy (mùa
đông) liên kết với thận. Kẻ nào hiểu và giải thích một cách đúng đắn những
mối liên kết này sẽ có sức khoẻ tốt.
Mặc dầu tác phẩm ở trong một bối cảnh triết học nào đó, tuy vậy tác phẩm
chủ yếu có tính cách thực tiễn. Thí dụ, chúng ta tìm thấy trong tác phẩm
những chỉ dẫn để thăm khám bệnh nhân, nhưng cũng nhận thấy sự mô tả một
loạt các bệnh, nguyên nhân và cách điều trị. Ngoài ra, cuốn “Nội kinh”
này dành một phần trọng tâm vào châm cứu, và cũng một phần lớn cho moxathérapie
(hay moxibustion), một điều trị dựa trên thực vật. Phòng ngừa nhiều lần
được nêu lên như là lý tưởng cần đạt đến: theo Hoàng đế, một thầy thuốc
giỏi phải can thiệp trước khi một vấn đề có thể phát ra.
2/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN NÃO
BỘ
Trong công chúng, cà phê được cho là ngăn cản giấc ngủ. Nhưng một vài
người nói rằng đối với họ lại là điều trái lại. Các công trình nghiên
cứu có khuynh hướng nói rằng cà phê và caféine tác động lên sự chăm chú,
giấc ngủ và những chức năng nhận thức (fonctions cognitives). Cà phê cải
thiện tính khí nhưng dường như không gây nên tính dễ bị kích thích (nervosité)
hay lo âu. Cà phê dường như bảo vệ chống lại bệnh Parkinson và làm chậm
lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer.
Cà phê tác động lên sự vận hành của não bộ. Cũng như những đồ uống khác
chứa caféine, cà phê tác dụng một cách dương tính lên các giác quan như
thính giác, thị giác, khướu giác, vị giác và xúc giác. Nhờ caféine, việc
xử lý các dữ kiện giác quan nhận được bởi não bộ của chúng ta được nhanh
chóng hơn. Một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng caféine cho phép
phân biệt những thông tin đáng lưu ý và những thông tin không đáng quan
tâm. Uống cà phê cho phép cải thiện mối tương quan giữa tín hiệu và tiếng
động.
SỰ CHÚ Ý, SỰ THỨC TỈNH VÀ GIẤC NGỦ
Một người trong tình trạng chăm chú hay tập trung nếu anh ta kiểm soát
được việc xử lý thông tin. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ những
lợi ích của cà phê lên sự cải thiện chức năng của não bộ. Các tác dụng
của caféine thường được nghiên cứu trong những trường hợp đòi hỏi một
sự chú ý duy trì (hành trình xe hơi kéo dài, làm việc dây chuyền, những
dịch vụ theo dõi...) cũng như với các simulateur và nơi những quân nhân:
một sự cải thiện năng suất hay một sự bù trừ các hậu quả của sự rút ngắn
thời gian giấc ngủ đã được quan sát. Những tác dụng có lợi của cà phê
rõ rệt hơn ngay cả nếu người thực hiện các công tác bị mệt mỏi. Chắc chắn
là cà phê có thể giúp một người luôn luôn ở trong tình trạng thức tỉnh.
Điều này đã được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu, kết luận
rằng caféine là một phương tiện hiệu quả để duy trì mức độ thực hiện những
công tác trong trường hợp bị mất ngủ. Một công trình nghiên cứu được thực
hiện về sự rối loạn của nhịp ngày đêm (rythme circadien) (24 giờ) đã xác
nhận rằng hấp thụ một liều lượng nhỏ caféine chống lại một cách hiệu quả
trạng thái ngủ gà (somnolence) và bù trừ sự thoái biến trong lúc thực
hiện công tác. Thì ra cà phê làm giảm tình trạng ngủ gà và bù trừ sự suy
giảm các hiệu năng làm việc về đêm.
Tuy nhiên chúng ta có thể tự hỏi việc khuyên dùng cà phê một cách có hệ
thống có đúng đắn hay không và trong những điều kiện nào. Cà phê chắc
chắn là giúp chúng ta trong trường hợp mệt mỏi nhưng cà phê cũng được
uống trong những trường hợp khác, nhưng không có một nghiên cứu thực tiễn
nào đã được thực hiện về lượng tối ưu và sơ đồ lý tưởng để tiêu thụ cà
phê trong những trường hợp thiếu ngủ. Mặt khác, mối liên hệ giữa việc
tiêu thụ cà phê và giấc ngủ gây nhiều tranh cãi. Nơi vài người, cà phê
có thể khiến cho thời gian thiu thiu ngủ (temps d’endormissement) bị kéo
dài. Tác dụng này thay đổi theo từng cá nhân, tùy theo chuyển hóa, sự
dung nạp và nhiều yếu tố khác. Vậy rất là khó cho một ý kiến về lúc tốt
nhất để ngừng uống cà phê trước khi đi ngủ, trong mục đích tránh tác dụng
của nó lên sự thiu thiu ngủ
ĐỨNG TRƯỚC NHỮNG CÔNG VIỆC PHẢI THỰC HIỆN
Tác dụng của cà phê lên các chức năng nhận thức cũng là đối tượng của
nhiều công trình nghiên cứu. Các nghiên cứu này đã khảo sát tác động của
caféine lên thời gian phản ứng, tốc độ quyết định và nhiều khía cạnh khác
của đời sống tinh thần. Hầu hết các công trình nghiên cứu đã chứng tỏ
rằng caféine làm giảm thời gian phản ứng, tuy vậy không phân biệt giữa
thời gian phản ứng đơn giản (SRT : temps de réaction simple) và thời gian
phản ứng lựa chọn (CRT : temps de réaction de choix). Những công trình
khác không luôn luôn chứng thực tác dụng này. Tác dụng dương tính của
caféine rõ rệt hơn trong giai đoạn bắt đầu của quá trình xử lý thông tin.
Ngoài ra, caféine làm giảm số lỗi lầm phạm phải. Lại trong những nghiên
cứu khác, caféine đã cho phép cải thiện một cách gần như nhất quán tốc
độ và sự chính xác của lập luận logic và bù trừ sự mệt mỏi tinh thần gây
nên bởi các công việc này. Ngược lại sự tiêu thụ caféine với số lượng
lớn có hại trong việc thực hiện tốt công việc.Trong trường hợp các công
việc có thời gian kéo dài, caféine cho phép bù trừ sự mệt mỏi vật lý và
tinh thần. Sau cùng, những công trình nghiên cứu khác chỉ rõ rằng caféine
có một tác dụng có lợi lên khí chất và không gây nên trạng thái bị kích
thích (nervosité) hay lo lắng. Sự nhạy cảm đối với cà phê thay đổi tùy
theo từng người và có thể được liên kết với những yếu tố di truyền. Những
cá nhân rất lo âu có khuynh hướng thổi phồng các cảm giác vật lý của họ,
vì vậy các phản ứng của họ, gồm cả đối với caféine, dường như rõ rệt hơn
đối với những người khác.
KHI NÃO BỘ BỊ ẢNH HƯỞNG
Nhiều ghi nhận khác nhau khiến nghĩ rằng bệnh Parkinson thường xảy ra
ít hơn nơi những người tiêu thụ cà phê so với những người khác. Ngoài
ra, năm 2002, một bản sao kê có hệ thống 13 công trình nghiên cứu đã chứng
tỏ rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp hơn 1/3 nơi những người
tiêu thụ cà phê. Mới đây, hai công trình nghiên cứu được thực hiện ở Phần
Lan đã xác nhận điều chứng thực này.Tuy nhiên, một sự khác nhau đã được
nhận thấy giữa phụ nữ và đàn ông. Năm 2003, một công trình nghiên cứu
đã chứng tỏ rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson giảm nếu phụ nữ không
sử dụng điều trị hormone thay thế sau thời kỳ mãn kinh. Ngược lại, các
phụ nữ theo điều trị hormone thay thế trên cơ sở œstrogène và tiêu thụ
cà phê và caféine, có nguy cơ phát triển bệnh Parkinson hơn.Tuy nhiên
các dữ kiện này cần các nghiên cứu sâu rộng khác. Cà phê ảnh hưởng lên
quá trình nhận thức (processus cognitif), đó là điều được xác nhận. Ví
dụ, nơi người già, việc tiêu thụ cà phê giúp chống lại chứng lãng quên.
Ngay cả một vài công trình nghiên cứu đề xuất rằng caféine có thể góp
phần làm chậm lại bệnh Alzheimer và hoặc là làm chậm lại sự phát triển
của nó.Thật vậy, một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Lindsay
và các cộng sự viên trên 6000 người tuổi 65 hoặc hơn, đã cho thấy rằng
nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer giảm với sự tiêu thụ cà phê hoặc với
việc tập thể dục đều đặn. Cà phê cũng làm giảm những nguy cơ sa sút trí
nhớ, công trình nghiên cứu HALE (Healthy Aging : a longitudinal study
in Europe) đã báo cáo như vậy. Nguồn: (LE MAGAINE DES
GLEMS 4/2008)
3/ VI
KHUẨN LÀM GIẢM TỶ LỆ HEN PHẾ QUÁN Ở TRẺ EM
Các vi khuẩn thông thường sống trong dạ dày người trong nhiều thế hệ,
được liên kết với tỷ lệ bị hen phế quản trẻ em thấp hơ, các nhà nghiên
cứu đã báo cáo như vậy.
Công trình nghiên cứu của họ, sẽ được công bố ngày 15/8 trong The Journal
of Infectious Diseases, không chứng tỏ rằng Helicobacter pylori giúp bảo
vệ trẻ em khỏi bị hen phế quản. Có thể là các bệnh nhân bị hen phế quản
không chứa vi khuẩn vì những lý do khác.
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện bởi các nhà nghiên
cứu ở New York University School of Medicine đã nhận thấy rằng các trẻ
em mang Helicobacter pylori có khả năng 40% ít hơn mắc phải hen phế quản
trước 5 tuổi. Và các trẻ em từ 3 đến 13 tuổi đã mang vi khuẩn này, có
60% khả năng ít hơn báo cáo rằng chúng đã bị hen phế quản vào lúc thực
hiện công trình nghiên cứu. Công trình nghiên cứu dựa trên các phỏng vấn
các cá nhân và gia đình của họ để xác định các đứa trẻ đã bị hen phế quản
hay không.
Các thuốc kháng sinh giết chết các vi khuẩn có ích cũng như các vi khuẩn
có hại, và các nhà nghiên cứu trước đây đã liên kết việc sử dụng kháng
sinh nơi các trẻ em với nguy cơ bị hen phế quan cao hơn.
“H. Pylori đang biến mất, và đây là một sự việc có lẽ không thể làm thay
đổi được”, BS Yu Chen, tác giả lãnh đạo của công trình nghiên cứu đã nói
như vậy. “Nhưng điều quan trọng phải nhận thức là các vi khuẩn đã sống
với chúng ta trong hàng triệu năm, có thể thật sự có vài tính chất có
lợi nào đó”. Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 31/7/2008)
4/ HỘP TỐC ĐỘ CỦA CÁC TINH TRÙNG.
Trong cuộc chạy đua đến các noãn bào (ovocytes), các tinh trùng phải giảm
tốc độ, và rồi tăng tốc. Cũng như mọi chiếc xe chạy nhanh, tinh trùng
có một hệ thống phanh (frein) và bộ tăng tốc (accélérateur). Một luận
án của đại học Pays basque (Bilbao, Tây Ban Nha) vừa xác lập rằng vận
tốc của tinh trùng được điều hòa một cách tinh tế bởi các thụ thể (récepteurs)
…cannabinoides và opioides!
Thật vậy, sau khi đã đến trong đường sinh dục nữ, các tinh trùng phải
chịu nhiều biến đổi để có thể trở nên có khả năng thụ thai hơn: khi đó
không có vấn đề phải đi quá nhanh, tính cơ động của chúng trong một thời
gian phải được ức chế. Chỉ sau đó chúng phải bơi về phía noãn bào càng
nhanh càng tốt. “Người ta tìm thấy trong các đường sinh dục nam và nữ
những chất nội tại opinoide và cannabinoide, dường như cần thiết cho sự
trưởng thành của các tinh trùng, đặc biệt là trong sự kiểm soát tính chuyển
động của chúng, tác giả của luận án, Ekaitz Agirregoitia đã giải thích
như vậy. Nhưng người ta không biết được chúng tác động như thế nào”.
Sau khi đã lấy các mẫu nghiệm tinh dịch người và áp dụng những kỹ thuật
đánh dấu sinh hóa khác nhau, nhà nghiên cứu đã tiết lộ rằng các tinh trùng,
về lượng, có trên màng ngoài của chúng, 3 loại thụ thể opioide, Mu, Delta
và Kapa, cũng như 2 loại thụ thể cannabinoide, CB1 và CB2. Rồi nhờ một
đánh giá với các agonist (hoạt hóa thụ thể) và antagonist (phong bế thụ
thể), nhà nghiên cứu đã xác định được vai trò của các thụ thể opioide
và cannabinoide. Kết luận: sự hoạt hóa các thụ thể Mu, CB1 và CB2 làm
chậm lại các chuyển động bơi của các tinh trùng. Sự hoạt hóa các thụ thể
Delta làm tăng tốc. “ Như vậy, có vẻ như là tinh dịch, giàu các chất hoạt
hóa các thụ thể Mu, CB1 và CB2, có khuynh hướng cản các tinh trùng khi
chúng được phóng ra, trái lại, trong khi đó, trong đường sinh dục nữ,
các chất hoạt hóa các thụ thể Delta kích thích chúng”.
Vậy không phải ngạc nhiên khi morphine, héroine, méthadone, cannabis,
các agonist của các thụ thể Mu, CB1 và CB2, làm giảm khả năng sinh sản.
“Ngoài ra, nhà nghiên cứu kết luận, việc thiếu hụt các thụ thể hay các
chất nội tại có thể là một giải thích mới cho những trường hợp vô sinh
nam giới đã không được làm sáng tỏ”. Nguồn: (SCIENCES
ET AVENIR 8/2008)
5/ NHỮNG GIAO HỢP THƯỜNG XUYÊN BẢO VỆ CHỐNG
LẠI RỐI LOẠN CƯƠNG
WASHINGTON. Những người lớn tuổi càng làm tình, thì họ càng có cơ may
thoát khỏi các rối loạn cương (troubles de l’érection), theo kết quả của
một công trình nghiên cứu Phần Lan, được công bố trong American Journal
of Medicine. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện trong 5 năm, nơi
989 người tuổi từ 55 đến 75 ở Phần Lan, đã cho thấy rằng những người đàn
ông có các giao hợp dưới 1 lần mỗi tuần có nguy cơ tăng gấp đôi bị các
rối loạn cương, so với những người có những giao hợp mỗi lần mỗi tuần.
Cứ 1000 người đàn ông thì 79 người có rối loạn cương khi họ làm tình dưới
1 lần mỗi tuần. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống 32 trên 1000 khi giao hợp mỗi
lần một tuần và chỉ còn 16 trên 1000 khi số lần giao hợp là 3 hoặc hơn
mỗi tuần. Nguồn: (METRO 25/7-27/7/2008)
6/ UNG THU TIỀN LIỆT TUYẾN: MỘT LOẠI THUỐC
ĐẦY HỨA HẸN
Một loại thuốc hormone mới, acétate d’abiratétone, sẽ cho phép thu được
những kết quả mặc dầu sơ khởi, nhưng rất đáng lưu ý.
Ở Pháp, ung thư tiền liệt tuyến mỗi năm gây thêm 50.000 trường hợp, với
một tần số gia tăng mỗi năm, cũng như trong tất cả các nước kỹ nghệ, do
sự phát hiện được phổ biến và do sự lão hóa của dân số. Đối với những
thể rất khu trú, tùy theo tuổi, điều trị cần đến ngoại khoa hay phóng
xạ trị liệu, và đối với những người lớn tuổi, đôi khi có thể chỉ giới
hạn vào việc theo dõi mà thôi. Trong những thể hơi tiến triển hơn, hoặc
trong trường hợp chống chỉ định với những trị liệu khác, (20% các trường
hợp được chẩn đoán, hoặc 10.000 bệnh nhân mỗi năm), cần phải điều trị
kháng hormone (traitement antihormonal).
Ung thư tiền liệt tuyến là một ung thư phụ thuộc hormone (hormone-dépendant),
nghĩa là được tiếp liệu bởi những hormone nam, được tiết chủ yếu bởi các
tinh hoàn và ở một mức độ ít hơn, bởi các tuyến thượng thận. Mục tiêu
của liệu pháp hormone là “cúp nguồn lương thực” của khối u, bằng cách
cản sự sản xuất androgène. Các chất kháng hormone chính trên thị trường
phong bế sự sản xuất testostérone, bằng cách tác dụng lên tuyến yên (hypophyse)
và vùng dưới đồi (hypothalamus). Nhưng những loại thuốc kháng androgène
(anti-androgène) khác cũng được sử dụng. Vấn để với những điều trị hiện
nay, đó là việc ức chế trong sự tiết hormone đôi khi được kèm theo trước
đó một tác dụng dội ngược (effet de rebond), với một thời kỳ quá kích
thích (période de surstimulation) và thêm vào đó, chúng không luôn luôn
tác động lên các androgène, cũng được tiết ra bởi các tuyến thượng thận.
“MỘT PHÂN TỬ CÓ KHẢ NĂNG PHONG BẼ CÁC HORMONE NAM”
Viện ung thư quốc gia ở Anh vừa công bố trong The Journal of Clinical
Oncology, các kết quả rất đáng phấn khởi thu được, mặc dầu còn sơ bộ,
qua một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1, trên một thuốc kháng androgène
mới, acétate d’abiratérone, được hiệu chính bởi một hãng sinh công nghệ
học, Cougar Biotechnology. Thứ thuốc mới này có một cơ chế tác dụng hoàn
toàn đổi mới, bởi vì lần đầu tiên nó nhằm tác động vào ngay đầu chuỗi
chuyển hóa, bằng cách ngăn cản sự biến đổi cholestérol thành androgène.
Thật vậy phải biết rằng các hormone nam được chế tạo trong cơ thể là do
sự biến hóa của cholestérol, nhờ vào các hệ men khác nhau, và đặc biệt
là men CYP17. Như thế, thứ thuốc mới này có thể phong tỏa mọi sự sản xuất
androgène trong cơ thể, bằng cách ức chế một cách có chọn lựa, enzyme
CYP17.
Công trình nghiên cứu giai đoạn 1 được công bố tuần này, được tiến hành
trên 21 bệnh nhân bị ung thư loại hung dữ của tuyến tiền liệt và được
điều trị bởi những liều lượng khác nhau của loại thuốc này. Trước hết
các kết quả cho thấy một sự dung nạp rất tốt. Các kết quả đặc biệt báo
cáo về sự sụt giảm các nồng độ testostérone, androgène và oestradiol nơi
tất cả các bệnh nhân. Nồng độ PSA (một chỉ dấu của ung thư tiền liệt tuyến)
đã giảm hơn 50% nơi phần lớn các bệnh nhân trong các thời kỳ từ 69 đến
578 ngày. Theo các tác giả, đối với một số quan trọng các bệnh nhân, một
sự thoái lui dấu hiệu quang tuyến của khối u đã được quan sát, liên kết
với một sự cải thiện các triệu chứng và ít cần đến những thuốc chống đau
hơn.
“Thật vậy đó là một thứ thuốc độc đáo có thể có một tác dụng phong bế
hoàn toàn các hormone nam. Tuy nhiên những dữ kiện vẫn còn quá giới hạn
để có thể biết được các lợi ích thật sự mà chúng ta có thể có được với
loại thuốc này”, giáo sư Marc Zerbib ( thầy thuốc khoa niệu, bệnh viện
Cochin, Paris) đã xác nhận như vậy. Cùng sự hưởng ứng từ phía của giáo
sư Guy Vallancien (Institut mutualiste Montsouris, Paris): “Vào lúc này,
đó là những kết quả rất sơ khởi, với thời gian nhìn lại còn ít, trên một
số giới hạn những người được điều trị. Các bệnh nhân không nên vội vàng
đến các thầy thuốc của họ để đòi hỏi loại thuốc này, vả lại chưa được
lưu hành trên thị trường”. Một công trình nghiên cứu mới trên 1.200 bệnh
nhân sẽ được công bố trong những tháng đến. Nguồn:
(LE FIGARO 23/7/2008)
7/ CÁC
BỆNH NHÂN BỊ SIDA ĐÃ GIÀNH THÊM ĐƯỢC 13 NĂM TUỔI THỌ
Trong vòng 10 năm, nhờ phép trị liệu gồm 3 thứ thuốc (trithérapie), bệnh
Sida trong các nước phát triển đã đi từ tình trạng bệnh chết người (maladie
mortelle) sang thành bệnh lý mãn tính (pathologie chronique).
Trong các nước phát triển, hy vọng sống (espérance de vie) của những người
bị nhiễm bởi siêu vi trùng sida, hay VIH, từ năm 1996, đã gia tăng 13,3
năm. Năm 1996 là năm các thầy thuốc đã bắt đầu kê toa những phối hợp antirétroviraux,
được biết hơn dưới tên “trị liệu pháp gồm 3 thứ thuốc” (trithérapie).
Trong một công trình nghiên cứu được xuất bản hôm qua bởi tạp chí Anh
The Lancet, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, trong đó có nhiều người
Pháp, được lãnh đạo bởi Giáo Sư Robert Hogg của trung tâm nghiên cứu về
bệnh Sida của Vancouver (Canada), đã so sánh các tỷ lệ tử vong của những
người bệnh trong các thời kỳ 1996-1999, 2000-2002 và 2003-2005.
Theo sự đánh giá này (thu thập những kết quả của 14 công trình nghiên
cứu, được thực hiện trên một tổng số 43.085 bệnh nhân sống ở Bắc Mỹ và
châu Âu), tỷ lệ tử vong đã hạ gần 40%. Nhất là hy vọng sống toàn bộ (espérance
de vie totale) của những bệnh nhân tuổi 20, được điều trị bằng ba thứ
thuốc, đã từ 56,1 tuổi tăng lên 69,4 tuổi. Hoặc một sự gia tăng đáng kể
13 năm, từ năm 1996 đến 2005.
Theo The Lancet, những tiến bộ ly ky này là do liệu pháp 3 thứ thuốc (trithérapie),
trong vòng chưa được 10 năm, đã trở nên “hiệu quả hơn, được dung nạp tốt
hơn và dễ định liều lượng hơn”. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu ghi nhận
những chênh lệch quan trọng giữa vài nhóm bệnh nhân. Ví dụ, những người
bị nhiễm bệnh sau khi chích thuốc ma túy có một hy vọng sống rõ rệt thấp
hơn so với những người khác (52,6 tuổi so với 64,7 tuổi). Mức chênh lệch
đạt đến 18 tuổi tùy theo các bệnh nhân đã được điều trị sớm hay chậm chống
lại bệnh sida: 70,4 tuổi đối với những người được điều trị sớm, so với
52,4 tuổi đối với những người được điều trị muộn. Sau cùng, phụ nữ có
một hy vọng sống hơi cao hơn đàn ông ( 64,2 đối với 62,8), sự khác nhau
này có thể được giải thích là các phụ nữ thường bắt đầu điều trị sớm hơn.
“Điều tạo nên sức mạnh của các kết quả này, đó là do chúng thu được từ
một số lượng rất lớn các bệnh nhân, giáo sư Jean-François Delfraissy,
giảm đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu chống bệnh sida và các bệnh viêm
gan (ANRS) đã nhấn mạnh như vậy. Công trình nghiên xác nhận một lần nữa
rằng sida, khởi thủy là một bệnh gây chết người, nhờ liệu pháp 3 thứ thuốc,
đã trở thành một bệnh mãn tính kéo dài”.
TIẾN HÀNH PHÁT HIỆN SỚM HƠN
Mặc dầu bảng tổng kê là đáng phấn khởi, nhưng còn nhiều chặn đường phải
đi qua. “Hy vọng sống của những bệnh nhân bị sida vẫn dưới hy vọng sống
của người dân nói chung”. Giáo sư Delfrassy đề nghị cứu chữa tình trạng
này bằng một phát hiện sớm hơn VIH và phục hồi tỷ lệ các tế bào miễn dịch
CD4+, là những mục tiêu chính của virus. “Ở Pháp, gần một nửa các bệnh
nhân có tỷ lệ CD4+ thấp hơn bình thường. ANRS dang hiệu chính những phương
thức mới kết hợp liệu pháp 3 thứ thuốc với những điều trị có khả năng
khôi phục CD4+ để làm giảm thêm nữa và ngay cả loại bỏ tỷ lệ tử vong cao
hơn (surmortalité) liên kết với bệnh sida”. Sau cùng, The Lancet chứng
nhận rằng không có các dữ kiện đối với những bệnh nhân trên 30 tuổi, cũng
như đối với các bệnh nhân của các nước nghèo. Trong các nước nghèo, sự
xuất hiện mới đây của liệu pháp 3 thứ thuốc, hiệu quả hơn những liệu pháp
cách nay 10 năm, hẳn mang lại được nhiều hơn hy vọng sống cho những người
bị bệnh sida. Nguồn: (LE FIGARO 26/7-27/7/2008)
8/ XÀ
LÁCH CHỨA OMEGA 3
Vài loại xà lách (salade) được ghi trên bao bì “giàu oméga tự nhiên” .
Đó là trường hợp của rau mát (la mâche), với 58% lipides dưới dạng oméga-3,
đứng đầu các loại xà lách giàu các axit béo đa bảo hòa (acide gras polysaturés),
điều này được chứng nhận bởi những đo lường được thực hiện bởi những nhà
nghiên cứu của Viện các chất béo (Iterg). Sau rau mát là rau diếp hè (batavia)
(49% oméga-3), frisée (42%), rau diếp (laitue) (41%) và rau diếp ma (scarole)
(37%). Một khẩu phần 10 g rau mát (mâche) mang lại 12% nhu cầu oméga-3
được khuyến nghị mỗi ngày. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR
7/2008)
9/ THỊT LÀM
GIA TĂNG NGUY CƠ LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG
Lạc nội mạc tử cung (endométriose) là một bệnh phụ khoa được đặc trưng
bởi sự hiện diện của mô nội mạc tử cung ( tissu endométrial) (bình thường
phủ mặt trong của xoang tử cung) ở ngoài tử cung, thường là trong vùng
chậu và trong bụng. Một công trình nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những
người ăn nhiều thịt đỏ (viande rouge) và jambon có nguy cơ bị lạc nội
mạc tử cung hai lần nhiều hơn: 30 đến 40 % những phụ nữ bị bệnh này đều
vô sinh. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 8/2008)
10/ ĐỐI VỚI KHOA GÂY MÊ, ROBOT ĐÁNG TIN
CẬY HƠN LÀ CON NGƯỜI
Những hệ thống gây mê tự động (système d’anesthésie automatisée) đã được
hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu Québec của đại học McGill và các nhà
nghiên cứu Pháp của bệnh viện Foch (Suresnes). Các hệ thống này theo dõi
tình trạng bệnh nhân theo những tham số khác nhau về hoạt động cơ và não
bộ. Nhờ những đo lường này, chúng điều chỉnh các liều lượng thuốc một
cách chính xác hơn, và nhanh hơn là một con người, lợi được “đến 15 giây”,
Marc Fichler người Pháp đã ước tính như vậy. Theo Thomas Hemmerling (điều
khiển nhóm Québec), robot có cả khả năng nhận biết những khiếm khuyết
của hệ thống theo dõi. Những robot này sẽ là những công cụ quý giá bởi
vì các thầy thuốc gây mê càng ngày càng hiếm đứng trước các bệnh nhân
càng ngày càng đông. Nhưng máy móc vẫn luôn luôn hoạt động dưới sự theo
dõi sát của con người. Nguồn: (SCIENCE ET AVENIR 7/2008)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
16/08/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |