Thời Sự Y Học số 85
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ “DOCTEURE” IRMA LeVASSEUR (1878-1964), NGƯỜI PHỤ NỮ ĐÃ LÀM THAY ĐỔI LỊCH SỬ Y KHOA Ở QUEBEC
Le docteur (hay la “docteure” như người ta thường nói về những thầy thuốc nữ ở Québec) Irma LeVasseur là người thầy thuốc nữ đầu tiên đã giành được quyền hành nghề ở Québec. Người phụ nữ này đã mở các cánh cửa của các đại học y khoa và của các bệnh viện cho các phụ nữ ở Québec và đã có một con đường sự nghiệp đặc biệt, nhưng trong lúc sinh thời bà đã không bao giờ được sự công nhận mà đáng lý ra bà có quyền được hưởng.
NGƯỜI CON GÁI CỦA MỘT TRONG NHỮNG NHÂN VẬT NÊN THƠ CỦA QUEBEC
Irma sinh ngày 18 tháng giêng năm 1878 ở Québec. Mẹ của cô, Fedora Venner, một nữ ca sĩ người Pháp, từ giã chồng con để làm lại cuộc đời khi Irma mới 10 tuổi. Cha cô, Louis Nazaire LeVasseur không chỉ là nhà báo, chủ bút tờ báo L’événement, văn sĩ và nhà viết sử, mà ông còn là một nhạc sĩ vẹn toàn.
Ông đã học âm nhạc từ lúc 5 tuổi, không những có tất cả các tài năng của nhạc sĩ đàn ống (organiste), violoniste, contrebassiste, mà còn là nhà soạn nhạc đã tham gia vào sự hình thành bài quốc ca Canada. Ông là một trong những hội viên sáng lập của Septuor Haydn năm 1871, và chơi trong Hội nhạc giao hưởng Québec (nhạc trưởng nhạc giao hưởng tương lai của Québec). Ngoài ra ông cũng đã là lãnh sự ở Québec, của Nicaragua, Guatemala và của Chili. Nhưng Nazaire LeVasseur đã bắt đầu theo học y khoa ở Đại Học Laval và ông đã bỏ học sau đó vì những lý do tài chánh...
MỘT VĂN BẰNG Ở MỸ KHÓ ĐƯỢC CHẤP NHẬN Ở CANADA
Irma trước hết học ở Couvent de Jésus-Marie de Sillery và sau đó tiếp tục theo học ở trường sư phạm Laval. Cô quyết định trở thành thầy thuốc, có lẽ để thực hiện ước mơ mà cha cô đã phải từ bỏ, cũng có lẽ bởi vì cô đã thấy 3 trong số các anh em của cô chết lúc còn nhỏ…có lẽ vì tất cả những lý do này hợp lại. Nhưng Canada khi đó cấm phụ nữ vào học ở đại học.
Do đó, Irma đã đi Hoa Kỳ, và theo học ở trường y, thuộc Đại Học Saint Paul ở Minnesota. Tốt nghiệp năm 1900, cô muốn trở lại Québec với ý định hành nghề nhưng gặp phải một trở ngại mới. Văn bằng mà cô có được ở Hoa Kỳ không đủ : để hành nghề y khoa trên đất Québec, cần phải có giấy phép của Collège des médecins et chirurgiens... Cô đưa đơn lên Quốc Hội để xin xét lại điều khoản cấm các phụ nữ hành nghề y khoa.
Trong lúc chờ đợi, BS LeVasseur hành nghề y khoa ở Nữu Ước cho đến năm 1903, năm mà sau cùng cô trở lại quê quán.Thật vậy Quốc Hội đã thông qua một dự luật riêng, dành một ngoại lệ cho cô khỏi bị điều khoản cấm phụ nữ hành nghề y. Nhưng trước hết Irma phải trải qua một kỳ thi của Collège des médecins et chirurgiens. Đậu được kỳ thi này, sau cùng cô có thể hành nghề và trở thành người thầy thuốc nữ đầu tiên ở Québec.
MỘT NGHỊ LỰC KHÔNG GIỚI HẠN PHỤC VỤ CÁC TRẺ EM BỊ BỆNH
BS LeVasseur rụng rời trước tỷ lệ tử vong cao nơi các trẻ em dưới 5 tuổi ở Québec vào đầu thế kỷ 20. Montréal với 271 tử vong trên 1000 trẻ sinh ra đời, trở thành thành phố đứng thứ hai trên thế giới, sau Calcutta, với tỷ lệ tử vong cao nhất nơi các em bé. Quyết định chống lại tai ương này, BS LeVasseur lại di cư một lần nữa : lần này qua châu Âu, ở Paris và ở Đức, nơi bà theo học chuyên khoa nhi và ngoại. Bà trở lại Canada năm 1907 và thành lập trước hết ủy ban cứu trợ các bà mẹ nghèo khó và các trẻ em bị suy dinh dưỡng. Irma có một giấc mơ : thành lập một bệnh viện điều trị nhi đồng miễn phí cho những người nghèo khó nhất. Săn sóc các trẻ nhỏ và nhất là từ những gia đình nghèo, đó là một tư tưởng cách mạng vào một thời kỳ mà việc chết chóc của các trẻ em là chuyện thường tình, đến độ người ta ít bỏ công để săn sóc các trẻ em nhỏ tuổi, nhất là trong giới nghèo khổ. Cái tâm tính phổ biến vào thời đó là đừng quá thương xót khi một nhũ nhi bị chết và có một đứa con khác... Irma muốn rằng mọi chuyện phải thay đổi. Bà đã gõ nhiều cánh cửa và cuối cùng đã gặp bà Justine DeGaspé-Beaubien và bà này chấp nhận hổ trợ việc xây dựng bệnh viện đầu tiên dành cho trẻ em của Montréal. Người ta có thể nói rằng vào lúc Irma gặp Justine, thì đã có bệnh viện rồi : thật vậy BS LeVasseur cho trú ngụ tại nhà bà một em bé bị bệnh. Em bé này sẽ là bệnh nhân đầu tiên của “ Refuge des enfants malades ”.
Bệnh viện nhi đồng tạm bợ này được tổ chức với nhiều sự ứng tác và hào phóng. Sau cùng BS LeVasseur có thể áp dụng các khả năng chuyên khoa nhi của mình. “ Refuge des enfants malades ” dời chỗ và từ nay trở thành Hôpital Sainte Justine nổi tiếng. Nhưng vì những lý do không được rõ, Irma đã bị gạt ra khỏi hội đồng quản trị vài tháng sau khi bệnh viện thành lập và từ chức. Bà Justine Beaubien tiếp tục theo đuổi công trình.
MỘT NỮ ANH HÙNG CỦA ĐẠI CHIẾN
Năm 1915, thế giới lâm chiến. Ở Serbie, một trận dịch sốt chấy rận (typhus) giết chết dân chúng còn hơn là bom đạn. BS Irma LeVasseur trong số 5 thầy thuốc Canada đáp lời kêu gọi cứu trợ Serbie : bà đã tận tụy ở đó trong hai năm. Năm 1918 người ta thấy lại bà ở Nữu Ước, tại đây bà làm việc cho Hội chữ thập đỏ.
Trở lại Québec năm 1920, bà ghi danh vào Trường Mỹ Thuật vừa mới mở cửa, bởi vì Irma cũng say mê hội họa. Nhưng năm 1922, với tiền riêng của mình, bà mua một dinh cơ, nằm cách nghị viện không xa, và vào năm 1933 mở một bệnh xá, với một thầy thuốc chuyên khoa chỉnh hình và chuyên khoa nhi, Hôpital de L’Enfant-Jésus tương lai, hiện nay là Centre Hospitalier, một bộ phận của Đại Học Laval. Nhưng một lần nữa bà lại bị nhanh chóng hất ra khỏi hội đồng quản trị mà sự quản lý được giao cho các nữ tu.
Năm 1930 một dự án khác của Irma được thực hiện : một cơ quan cho các trẻ em bị tật nguyền, sẽ trở thành école Cardianal-Villeneuve. Vào đầu đệ nhị thế chiến, bà buộc các nữ tân binh quân đội phải trải qua một khám nghiệm y khoa.
CUỐI ĐỜI TRONG CẢNH BẦN CÙNG VÀ CÔ LẬP
Khi bà thôi làm việc ít lâu sau đó, bà hoàn toàn rơi vào tình trạng nghèo khổ, sống ẩn dật trong một ngôi nhà bé nhỏ, sinh sống bằng đồ hộp do các người bà con mang lại. Năm 1957, một thầy thuốc ký đơn xin bắt nhốt Irma trong một trại tâm thần và bà phải sống 6 tháng ở đó trước khi toà án cho bà thắng kiện.
Irma LeVasseur chết vào năm 1964 lúc 87 tuổi trong một dưỡng đường cho các người già, hoàn toàn không được ai biết đến. Phải đợi năm 2004, sau cùng tên bà được ghi dưới tên của cha mình, trên một tấm bia của phần mộ gia đình, nơi bà đã được chôn cất. Và các vinh dự xứng đáng với sự nghiệp đời bà chỉ được ban cho bà sau khi mất. Nguồn : LA SEMAINE MEDICALE (26/6/2008)
2/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG VÀ BỆNH TRẦM CẢM
Những người bị bệnh đái đường loại 2 đang được điều trị, có một nguy cơ gia tăng bị chứng trầm cảm (dépression). Trái lại, những bệnh nhân trầm cảm có một khuynh hướng cao phát triển bệnh đái đường loại 2. Đó là kết luận được rút ra từ một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Sherita Hill Golden (Johns Hopkins University School of Medicine in Baltimore) và nhóm nghiên cứu. Các tác giả đã phân tích các dữ kiện của 6.814 người được theo dõi từ năm 2000 đến 2005. Trong nhóm 4.847 người tham gia không bị chứng trầm cảm lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, các trường hợp trầm cảm mới nơi những bệnh nhân không bị bệnh đái đường cũng nhiều như nơi những người bị bệnh đái đường loại 2 không được điều trị. Trái lại, tỷ lệ mắc phải trầm cảm hai lần quan trọng hơn trong nhóm được điều trị. Theo các tác giả, có lẽ sự căng thẳng tâm lý liên kết với điều trị bệnh đái đường giải thích hiện tượng này. Mặt khác các nhà nghiên cứu cũng đã chứng thực rằng nơi những người bị trầm cảm vào lúc đầu của công trình nghiên cứu, nguy cơ xuất hiện một chứng trầm cảm trong lúc theo dõi là 30% cao hơn tỷ lệ mắc phải nơi những người không bị trầm cảm. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN (27/6/2008)
3/ CÁC NGHI VẤN MỚI VỀ TÍNH ĐỘC HẠI CỦA CÁC ĐIỆN THOẠI CẦM TAY

Công trình nghiên cứu của Bỉ cho thấy một sự gia tăng tỷ lệ tử vong nơi chuột tiếp xúc với các làn sóng được sử dụng trong công nghệ học di động (technologies mobiles).
Người ta đã không ngừng tự hỏi về các nguy cơ của sự sử dụng điện thoại cầm tay (téléphone portable) lên sức khỏe của con người. Mặc dầu chiếc máy bé nhỏ này đã trở nên một công cụ liên lạc cần thiết cho hàng trăm triệu người trên thế giới, nhưng dù sao đi nữa, sự phát minh của nó còn quá sớm để có thể đo lường được hết tầm tác hại về mặt y tế. Do khoảng thời gian nhìn lại còn ít, nên tất cả vẫn còn trong tình trạng lưỡng lự. Trong khi chờ đợi những kết luận của những công trình nghiên cứu lớn (những công trình được phát động bởi OMS, mà các kết quả sẽ được biết vào năm 2015), nhiều công trình nghiên cứu đột xuất và các thí nghiệm trên động vật đã và đang được tiến hành.
Chính như thế mà hôm qua, nhật báo Le Soir của Bỉ đã tường thuật những kết quả của một luận án nói về tầm tác dụng về mặt y tế trên chuột “ của những làn sóng được sử dụng trong công nghệ học di động (GSM, antennes relais,Wi-Fi, radars...) ”. Dirk Adang đã bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học áp dụng của mình, hôm thứ hai ở UCL (Université catholique de Louvain). Một luận án được báo chí nhắc đến là việc hoàn toàn đặc biệt, nhưng chủ đề đang còn nóng bỏng. Ở Pháp, cách nay 10 ngày, khoảng 20 chuyên gia về ung thư đã đưa ra 10 lời khuyến nghị cho việc sử dụng hợp lý các điện thoại cầm tay. Một lời kêu gọi sự thận trọng mà Viện hàn lâm y học đã chỉ trích vài ngày sau đó, cho rằng lời kêu gọi này đã khơi sâu thêm những mối lo âu một cách không có lý do.
“ Chúng tôi đã chứng thực một tỷ lệ tử vong lớn hơn trong những nhóm người tiếp xúc với các làn sóng, so với nhóm kiểm chứng, cũng như một sự gia tăng các bạch cầu trong một vài nhóm người được tiếp xúc ”, Dirk Adang, sẽ công bố những công trình nghiên cứu của mình trong một ngày gần đây trong một tạp chí quốc tế, đã tóm tắt như vậy.
“ GIA TĂNG SỐ BẠCH CẦU ”
“ Đó là công trình nghiên cứu được tiến hành trên một số lượng lớn chuột như vậy ”, nhà nghiên cứu trẻ đã xác nhận như thế. Mỗi ngày, trong suốt 2 giờ và trong 18 tháng, Dirk Adang đã cho tiếp xúc một cách đồng thời, 3 nhóm với 31 con chuột trong mỗi nhóm, với các làn sóng điện từ có các tần số khác nhau. Đối với một trong 3 nhóm, mức tiếp xúc dưới một nửa những tiêu chuẩn của OMS. Ngoài ra có một nhóm chứng gồm những con chuột không được cho tiếp xúc, đã cho phép so sánh tình trạng sức khỏe của các động vật.
18 tháng tiếp xúc với sóng điện từ nơi chuột, điều đó tương ứng 63 năm nơi con người. Một khoảng thời gian sử dụng mà chưa có con người nào đã từng trải qua. Một loạt các xét nghiệm máu đã được thực hiện để đo lường những tác dụng của việc tiếp xúc này trong thời gian. Số các tế bào đơn nhân (monocytes) đã bắt đầu gia tăng bắt đầu từ tháng thứ ba. “ Như thể là cơ thể phản ứng lại với một cuộc tấn công ”, người trình luận án trẻ tuổi đã kết luận như vậy. Kết luận khác liên quan với tỷ lệ tử vong của chuột : tỷ lệ này gia tăng gấp đôi trong nhóm có chuột được tiếp xúc với các làn sóng của các điện thoại cầm tay và của các mạng Wi-Fi. Tuy nhiên luận án đã không đưa ra lời giải thích về sự gia tăng tỷ lệ tử vong này.
Công trình nghiên cứu cũng đã phát hiện những rối loạn hành vi. Một kết quả làm ngạc nhiên Gérard Lasfargues, trưởng phòng “ santé au travail ” của Cơ quan an ninh y tế, môi trường và lao động của Pháp.Thật vậy, nhiều thí nghiệm trên chuột đã được tiến hành nhằm xác định những mức giới hạn của sự tiếp xúc các làn sóng, dầu đó là ở Pháp hay ở nơi nào khác trên thế giới. Thế mà những rối loạn hành vi chỉ luôn luôn xuất hiện với những liều lượng cao.
“Phải chờ đợi sự công bố trong một tạp chí để đo lường tầm quan trọng của công trình này”, Gérard Lasfargues đã nhấn mạnh như thế, từ chối mọi lời bình phẩm, khi không biết liều lượng và trường tiếp xúc .“Dẫu sao đi nữa, không phải chỉ một công trình nghiên cứu sẽ làm biến đổi những chuẩn mực đã có hiện nay. Chúng ta vẫn trong tình trạng không chắc chắn. Nhiều lời khuyến nghị sử dụng đã có”. Chỉ cần tuân theo những lời khuyến nghị này, thế thôi. Nguồn : LE FIGARO (25/6/2008)
4/ TUỔI CỦA NGƯỜI CHA ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ THÀNH CÔNG CỦA THỤ TINH NHÂN TẠO

Paris. Tuổi của người cha đóng một vai trò lên sự thành công của thụ thai, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi một trung tâm sinh đẻ nhân tạo (centre de reproduction assistée) của Pháp, trên các cặp vợ chồng khó có con. Công trình nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ thai nghén bị giảm khi người cha trên 40 tuổi. Nếu tác dụng của tuổi của người mẹ lên khả năng thụ thai một đứa bé đã được xác lập rõ ràng, thì đây là lần đầu tiên một tác dụng về phía người cha, cũng quan trọng như phía người mẹ, đã được chứng tỏ, theo Stéphanie Belloc của Trung tâm Eylau. Hơn 12.000 cặp vợ chồng đã thăm khám Trung tâm Eylau từ năm 2002 đến năm 2006, được đưa vào trong công trình nghiên cứu, với 21.239 trường hợp thụ tinh trong tử cung (insémination intra-utérine) đã được thực hiện. Kỹ thuật này nhằm đặt tinh dịch của người đàn ông vào trong xoang tử cung của người phụ nữ, qua trung gian một catheter, để làm dễ sự gặp gỡ giữa noãn và tinh trùng. Nguồn : METRO (11/7/2008)
5/ CHOLESTEROL “TỐT” CÓ LỢI CHO TRÍ NHỚ
Những nồng độ cholesterol “tốt” quá thấp được liên kết với một sự thiếu hụt hay sa sút nhận thức vào tuổi 60, theo một công trình được công bố bởi các nhà nghiên cứu, chủ trương một đời sống lành mạnh hơn.
Một nồng độ bất bình thường cholestérol có thể là một yếu tố nguy cơ của bệnh Alzheimer không? Nếu câu trả lời chưa được rõ ràng, một công trình nghiên cứu của Pháp, được công bố ngày 30 tháng 6, trong tạp chí chuyên khoa Arteriosclerosis, Thrombosis and Vascular Biology, vừa cho thấy rằng một nồng độ cao cholestérol “tốt” (còn được gọi là HDL-cholestérol) sẽ là một đồng minh cần thiết của chất lượng trí nhớ nơi những người trên 60 tuổi
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất một mối liên kết giữa sự kiện có một nguy cơ tim mạch và sự biến đổi của các chức năng nhận thức (fonctions cognitives) (ở mức trí nhớ) với tuổi tác, như thế tạo nên một nguy cơ bị bệnh Alzheimer. Cũng cùng cách như vậy, theo những công trình nghiên cứu khác, bệnh đái đường và chứng béo phì sẽ làm dễ sự xuất hiện của một chứng sa sút trí tuệ như thế. Tuy nhiên, khó xác lập một mối liên hệ đặc biệt giữa các bất thường của nồng độ các chất mỡ trong máu và nguy cơ bị chứng sa sút trí tuệ bởi vì “profil lipidique” của các bệnh nhân thường bị biến đổi bởi nhiều yếu tố, trong đó có chính căn bệnh.
Ước muốn làm sáng tỏ vấn đề, nhóm nghiên cứu của Archana Singh-Manoux đã quyết định theo dõi từ năm 1999 và 2004 một nhóm 3.700 các viên chức người Anh ở lứa tuổi 60, tất cả đều có khả năng về trí tuệ. Mục đích là đánh giá một cách song hành tiến triển của profil lipidique (cholestérol toàn thể, HDL và LDL, triglycérides) và hoạt động của trí nhớ. Để thực hiện điều này, những phân tích máu đã được thực hiện hai lần cách nhau 5 năm. Những trắc nghiệm về trí nhớ cũng được thực hiện : những người tình nguyện phải nêu lên tối đa các chữ trong số 20 chữ được trình bày vài giây phút trước đó. Người không có khả năng nêu lên hơn 4 chữ được cho là thiếu hụt chức năng nhận thức (déficit cognitif). Quên thêm hơn hai chữ giữa hai câu thể hiện một suy đồi nhận thức thật sự (déclin cognitif).
CÓ MỘT HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ ĐỀU ĐẶN
Sau cùng, những kết quả là không chối cãi được. Đối với những người có một nồng độ cholestérol “ tốt ” thấp (dưới 0,4 g/L), nguy cơ thiếu hụt trí lực (déficit intellectuel) gia tăng 27%, so với những người có một nồng độ trên 0,6g/L. 5 năm sau, sự liên kết này lại càng rõ hơn. Các viên chức với một nồng độ cholestérol “ tốt ” ít cao vẫn còn có nhiều nguy cơ bị thiếu hụt năng lực trí lực hơn. Cũng giống hệt những người mà nồng độ đã giảm trong 5 năm. Những người này có một nguy cơ gia tăng bị suy thoái trí tuệ so với những người bảo tồn những nồng độ cao HDL (trên 0,6g/L).
Như thế nhóm nghiên cứu của Archana Singh-Manoux, nữ giám đốc nghiên cứu của Inserm (đơn vị 687) đã phát hiện sự hiện hữu của một sự thiếu hụt, thậm chí một sự suy sụp nhận thức nơi những người 60 tuổi khi nồng độ cholestérol “ tốt ”, HDL (lipoprotéine de haute densité), là quá thấp trong máu, với trị số dưới 0,4 g/L (bình thường, đối với đàn ông 0,4 đến 0,65g/L và đối với đàn bà, từ 0,5 đến 0,8g/L). “ Công trình nhiên cứu này phát hiện mối liên hệ rõ rệt giữa những nồng độ thấp của cholestérol “ tốt ” và sự xuất hiện một sự sa sút nhận thức, kể cả có tính đến những yếu tố khác khả dĩ dẫn đến một sự sa sút trí tuệ (démence) (các biến cố tim mạch, tiêu thụ rượu) ”, Archana Singh-Manoux đã bình luận như vậy.
Sự suy thoái nhận thức (déclin cognitif) là giai đoạn đầu tiên hướng về chứng sa sút trí tuệ (démence), mặc dầu không phải tất cả những người có các rối loạn về trí nhớ đều rơi vào bệnh Alzheimer. Công trình này tán đồng những lời khuyến nghị về các chế độ ăn uống đơn giản nhằm làm dễ những nồng độ cao hơn cholestérol “ tốt ”. Ăn ít thịt mỡ và thịt lợn, ăn nhiều cá hơn, thay thế các chất béo bảo hòa nguồn gốc động vật (bơ, lòng đỏ trứng gà, phó mát) bằng những chất mỡ không bảo hòa, có nguồn gốc thực vật như vài loại dầu. Loại bỏ các acide béo trans được tìm thấy trong các sản phẩm kỹ nghệ (món ăn được làm sẵn, fastfood, bánh quy...). Và có một hoạt động vật lý đều đặn. Để duy trì một trí nhớ có chất lượng tốt. Nguồn : LE FIGARO (2/7/2008)
6/ ALZHEIMER : CHẲNG BAO LÂU NỮA BỆNH SẼ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN SỚM HƠN

Bệnh Alzheimer là con ngựa chiến của nhiều nghiên cứu, một sự kiên trì giờ đây bắt đầu thu được kết quả. Tuần này, một mặt, người ta loan báo sự khám phá một gène làm gia tăng nguy cơ của bệnh. Và mặt khác, hiệu chính một phương pháp chẩn đoán hiệu năng hơn.
Các nhà khoa học của Viện nghiên cứu y khoa Feinstein đã nghiên cứu gène CALHM1 nơi hơn 2.000 bệnh nhân. Họ đã chứng thực rằng vài dạng của loại gène này dường như làm biến hóa khả năng của một tế bào não thu nhận calcium và làm gia tăng 45% nguy cơ phát triển bệnh. Kỹ thuật này đã chứng tỏ hiệu quả trong hai bệnh viện của Pháp và như thế sẽ phải cho phép một chẩn đoán bệnh sớm hơn và một thái độ xử trí tốt hơn các bệnh nhân. Nguồn : LE SOIR (27/6/2008)
7/ CAFEINE LÀM DỊU BỚT BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Các nồng độ cao cà phê bảo vệ chuột chống lại bệnh thần kinh thường xảy ra nhất của các người trưởng thành trẻ tuổi. Là chất có hoạt tính dược lý được tiêu thụ nhiều nhất, caféine hiện diện trong nhiều thức ăn như cà phê, trà, soda hay chocolat. Các công trình nghiên cứu về tác dụng của caféine lên sức khỏe không ngừng gia tăng, phát hiện lần lượt những tính chất có lợi và có hại của caféine. Công trình nghiên cứu mới nhất gợi ý rằng caféine với liều lượng cao, bảo vệ chống lại bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques).
Được công bố on line trong Annales de l’académie américaine des sciences, công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên loài chuột.
Các nhà nghiên cứu của Oklahoma Medical Research Foundation, cộng tác với Đại Học Cornell ( Nữu Ước) và Đại Học Turku ( Phần Lan), đã khám phá ra rằng 6 đến 8 tách cà phê mỗi ngày bảo vệ các động vật gặm nhấm này chống lại bệnh viêm não tủy tự miễn dịch thực nghiệm (encéphalomyélite auto-immune expérimentale). Đây là bệnh xơ cứng rải rác trên động vật dùng làm thí nghiệm. Nhờ đâu caféine có được tính chất này? Caféine ngăn cản adénosine phát khởi một loạt các phản ứng dẫn đến bệnh viêm não tủy tự miễn dịch thực nghiệm. Adénosine là một trong 4 phần tử cấu tạo ADN. Rất thông thường nơi cơ thể con người, adénosine đặc biệt đóng một vài trò chủ yếu trong quá trình sinh hóa của giấc ngủ, của sự thức tỉnh và sự chuyển năng lượng. Trong công trình nghiên cứu này, caféine có tác dụng phong bế sự liên kết giữa adénosine và một trong các thụ thể (récepteur) của nó. Kết quả : vài tế bào lympho T (các bạch cầu đóng một vài trò chủ chốt trong đáp ứng miễn dịch) không thể đến được hệ thần kinh trung ương và do đó làm phát khởi những phản ứng dẫn đến một bệnh tương đương với xơ cứng rải rác ở loài chuột.
“ĐÁNG NGẠC NHIÊN VÀ ĐẦY PHẤN KHỞI”
“Đó là một khám phá gây hứng khởi và hoàn toàn đáng ngạc nhiên ”, Linda Thompson, thầy thuốc chuyên khoa ung thư, một trong các tác giả của công trình này đã đánh giá như vậy. Nhưng mặc dầu các kết quả này tỏ ra đầy hứa hẹn, tuy vậy một con chuột không phải là một con người! Những nghiên cứu quan trọng còn cần phải được thực hiện để xem caféine có cùng tác dụng lên cơ thể con người hay không. Phải bắt đầu bằng một nghiên cứu nhìn về quá khứ : vạch lại các thói quen của những người tiêu thụ cà phê và tác dụng của caféine trên các triệu chứng của những người bị bệnh xơ cứng rải rác. “Nếu một công trình nghiên cứu như thế phát hiện một tương quan giữa việc tiêu thụ caféine và một sự giảm các triệu chứng của bệnh lý này thì điều đó sẽ cổ vũ hơn nữa những nghiên cứu trên con người”, Linda Thompson đã kết luận như vậy.
Bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) là một bệnh tự miễn dịch tấn công vào hệ thần kinh trung ương. Bệnh này gây nên sự biến mất chất myéline bao quanh các sợi thần kinh của não bộ và tủy sống. Do đó các sợi thần kinh này không còn có khả năng dẫn truyền luồn thần kinh điều khiển chức năng cảm giác hay vận động nữa. Bệnh xơ cứng rải rác là một bệnh thần kinh thường xảy ra nhất nơi những người trưởng thành trẻ tuổi. Thường phát bệnh giữa năm 20 và 40 tuổi, bệnh xơ cứng rải rác gây bệnh ở phụ nữ 2 lần nhiều hơn so với đàn ông. Ổ Bỉ, người ta ước tính 10.000 đến 12.000 người bị bệnh này. Nguồn: LE SOIR (2/7/2008)
8/ VIỆC UỐNG THUỐC ĐỀU ĐẶN NƠI NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH ĐỘNG KINH
Việc tuân thủ kém trong việc uống thuốc chống động kinh phải chăng liên kết với một sự gia tăng tỷ lệ tử vong và làm gia tăng nguy cơ những biến cố lâm sàng nghiêm trọng ( thăm khám phòng cấp cứu, nhập viện, tai nạn lưu thông, gãy xương và bị thương tích ở đầu) ? Một nhóm nghiên cứu người Anh, E. Faught và các cộng sự viên, đã thực hiện một công trình nghiên cứu ở Florida, Iowa và New Jersey, từ tháng giêng năm 1997 đến tháng 6 năm 2006. Các bệnh nhân 18 tuổi hoặc hơn đã được tuyển chọn, được chẩn đoán bởi một thầy thuốc thần kinh và sử dụng 2 thuốc chống động kinh hoặc hơn. Các bệnh nhân dùng 80% (hoặc hơn) liều lượng được cho, được xem là tuân thủ điều trị (compliant).
Các kết quả cho thấy rằng ¼ các bệnh nhân đã được xếp loại là không tuân thủ điều trị (non compliant). Việc kém tuân thủ trong điều trị được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ tử vong, được nhân lê gấp ba lần, so sánh với những người tuân thủ tốt điều trị. Những thời kỳ không tuân thủ cũng đặc trưng bởi một tỷ lệ gia tăng một cách đáng kể những lần đến phòng cấp cứu, nhập viện, tai nạn lưu thông và gãy xương, so với những thời kỳ tuân thủ điều trị. Đối với các tác giả, những dữ kiện này gợi ý rằng, nơi những bệnh nhân bị động kinh, việc tuân thủ kém trong việc uống thuốc chống động kinh có thể có những hậu quả nghiêm trọng và làm gia tăng nguy cơ bị những biến cố lâm sàng nghiêm trọng. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (27/6/2008)
9/ MỘT GENE CHỐNG LẠI CHỨNG SAY ĐỘ CAO ( MAL DE L’ALTITUDE)
Nhiều cầu thủ bóng đá của Euro 2008 và các vận động viên tham dự Jeux Olympiques sắp đến, tập luyện ở độ cao. Như vậy, các nhà thể thao có được một sự tăng thêm oxy vào lúc thi đấu. Phương pháp này không phải là mới và không bị cấm đoán, nhưng không phải là không nguy hiểm về lâu về dài. Ngoại trừ đối với những người “ thích nghi về phương diện di truyền ” với những điều kiện trên đỉnh núi cao, một công trình nghiên cứu được công bố trong “PloS ONE” đã chỉ rõ như vậy.
Những người đã có cơ hội đi lên những độ cao trên 3000 m đã có thể cảm nhận nhanh chóng một sự khó khăn lúc gắng sức. Bước đi có vẻ mệt hơn, khó thở xuất hiện nhanh, áp suất không khí làm giảm khả năng chịu đựng lúc gắng sức. Đối phó với các tham số mới này, cơ thể con người không thể dửng dưng và thích nghi để đáp ứng với tình trạng này.
Sự thích nghi này được thể hiện bởi một sự gia tăng sản xuất hồng cầu, các tế bào đảm bảo sự vận chuyển oxy trong toàn bộ các mô của cơ thể. Chính sự tăng sinh các hồng cầu này là có hại : máu có nhiều hồng cầu hơn trở nên dày đặc. Ít lỏng hơn, máu lưu thông ít tốt hơn, điều này có thể gây đau đầu, mất ngủ, mệt mỏi và rối loạn trí nhớ. Những biến chứng trầm trọng hơn như phù cũng đã được ghi nhận. Đó là chứng say cấp tính của miền núi (mal aigu des montagnes). Tuy nhiên một vài sắc dân ít bị nhạy cảm hơn với chứng bệnh này.
Nhóm nghiên cứu của Otto Appenzeller, nhà khoa học thần kinh của Cơ quan nghiên cứu Nouveau-Mexique, đã nghiên cứu tính mẫn cảm này nơi những người Ethiopie, Pérou và Tây Tạng, lần lượt sống ở những độ cao 3.600, 4.300 và 4.500 mét. Để thực hiện điều này, các nhà khoa học đã nghiên cứu một nhóm các gène được biết có can dự trong sự thích nghi với một môi trường kém oxy. Đối với mỗi nhóm, biểu hiện của các gène này trong các bạch cầu đã được quan sát nơi những người bị chứng say cấp tính của miền núi và nơi những người không cảm thấy các triệu chứng.
DÂN ETHIOPIE LÀ THÍCH NGHI TỐT HƠN
Otto Appenzeller đã chứng nhận rằng các người Ethiopie có số lượng các gène này nhiều hơn hai nhóm dân Pérou và Tây Tạng. Trong số các gène này, ông đã nhận diện gène PDP2, rất liên kết với chứng say cấp tính của miền núi. Những người có PDP2 ít biểu hiện là rất nhạy cảm với chứng say cấp tính miền núi. Vậy gène này giúp thích nghi với những nồng độ oxy thấp hơn. Gène này giới hạn nhu cầu oxy và như thế giới hạn sự sản xuất hồng cầu.
Vấn đề còn tồn tại : tại sao gène này biểu hiện chủ yếu nơi các người Ethiopie, là dân sống ở độ cao thấp nhất ? Tất cả là một vấn đề thích nghi tiến hóa. Những người Ethiopie định cư ở miền núi trước người Tây Tạng và Pérou. Nguồn : LE SOIR (23/6/2008)
10/ GẠO ĐỎ CÓ LỢI CHO TIM

Công trình này được tiến hành trên 5.000 bệnh nhân tuổi từ 18 đến 70, ở rải rác trong 60 bệnh viện của Cọng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Những bệnh nhân này, đã bị một cơn đau tim vào năm trước, nhận 2 viên 300 mg XZK hay một placebo. Sau đó các bệnh nhân này được theo dõi trong 5 năm. XZK, hay Xuezhikang, là một men gạo đỏ, chứa chủ yếu lovastatine và ergostérol.
Kết quả sau 5 năm : nguy cơ bị tái phát cơn đau tim, đối với những bệnh nhân đã dùng XZK đã giảm 45%. Sự tái tạo mạch (revascularisation) được cải thiện 1/3 sau phẫu thuật tạo hình mạch (angioplastie) (mang lại cho các động mạch vàng bị hẹp, một đường kính thỏa mãn cho tuần hoàn máu) hay một phẫu thuật by-pass. Việc sử dụng XZK dường như cũng đã cải thiện số phận của 33% các bệnh nhân trên quan điểm tỷ lệ tử vong tim mạch hay tỷ lệ tử vong toàn thể. Về tỷ lệ tử vong tim mạch, tỷ lệ này giảm 66% so với những bệnh nhân sử dụng placebo. “ Rất là phấn chấn, bởi vì ở đây chúng ta nói về một sản phẩm tự nhiên chỉ có những tác dụng phụ hiếm hoi và không gây thay đổi huyết áp, BS Capuzzi đã giải thích như vậy. XZK được chế tạo từ một giống gốc nấm bé xíu đặc biệt (Monascus purpureus Went), được chuẩn hóa để chứa một tỷ lệ monacoline nào đó. Không nên lẩn lộn XZK với các chất bổ sung được bán không cần toa trên một vài nơi trên thế giới. Nguồn: LE SOIR (10/6/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/7/2008)

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học