Thời Sự Y Học số 84
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ VIRGINIA APGAR (1909-1974)
Trên toàn thế giới, trong các hồ sơ của các trẻ sơ sinh được sinh trong môi trường bệnh viện đều có những kết quả của số điểm Apgar (score d’Apgar) nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe của chúng ngay sau khi sinh. Căn cứ trên các tham số lâm sàng dễ quan sát : tần số tim, hơi thở, trương lực, mức độ phản ứng đối với kích thích và màu sắc, điểm số này cho phép tiên đoán khả năng sống sót của trẻ sơ sinh và sự phát triển thần kinh của nó.
Tên của số điểm này là tên của một phụ nữ : Thật vậy, B.S Virginia Apgar là người đã hiệu chính phương pháp đánh giá này, nhờ thế tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh trong môi trường bệnh viện đã giảm xuống.
MỘT TUỔI TRẺ GIỮA ÂM NHẠC VÀ KHOA HỌC.
Virginia chào đời ngày 7 tháng 6 năm 1909 ở Westfield trong tiểu bang New Jersey, Hoa kỳ. Cô là con thứ của gia đình có 3 người con. Cha cô, nhân viên hãng bảo hiểm, là nhà phát minh và nhà thiên văn tài tử trong những giờ nhàn rỗi. Bố mẹ Virginia rất say mê âm nhạc và ngay từ tuổi bé thơ, Virginia đã học chơi violon, hoạt động mà cô sẽ tiếp tục trong suốt cuộc đời. Ở Mont Holyoke College, nơi cô theo học cao học, cô là thành viên của dàn nhạc nhà trường và cô đã tỏ ra đặc biệt có năng khiếu không những với violon mà còn với violoncelle nữa. Và trong những năm 1950, cô đã lập nên một quartet nhạc thính phòng với các bạn của cô. Thiên chức y khoa của cô được nảy sinh do một tổng thể các tình huống. Một mặt cha cô dành những giờ nhàn rỗi vào các hoạt động khoa học nhưng mặt khác, việc chọn lựa nghề nghiệp y khoa cũng bị ảnh hưởng bởi cái chết của hai người anh và em trai của cô. Thật vậy, người anh trưởng bị chết vì bệnh lao và người em trai kia bị chết vì một bệnh nhi đồng mãn tính.
Chính cô đã tự tài trợ cho việc học cao học của mình, nhờ nhiều việc làm bán thời gian. Cô cũng chơi nhiều môn thể thao và rất thích làm vườn. Điều duy nhất mà cô đã không bao giờ học đó là nấu nướng, nếu như chúng ta tin vào lời của nhiều người trong số các bạn của cô.
TỪ NGOẠI KHOA ĐẾN GÂY MÊ :
Mặc dầu rất nhiều hoạt động, Virginia đã đậu một cách xuất sắc cao học và năm 1929, cô bắt đầu theo học ở Columbia University’s College of Physicians and Surgeons. Ở trường y này, các phụ nữ không nhiều lắm : 9 trên 90 sinh viên ghi danh. Năm 1933 cô làm nội trú ngoại khoa (interne en chirurgie) ở Prebyterian Hospital. Trên nguyên tắc, cô sẽ ở lại đó 2 năm, nhưng sau năm đầu tiên, ông thầy lâm sàng của cô, Allen Whipple, gợi ý với cô nên hướng theo ngành gây mê, một môn cho đến mãi lúc đó được giao phó cho các nữ y tá. Whipple đã hiểu rằng sự thành công của một phẫu thuật tùy thuộc không chỉ vào tài khéo léo của phẫu thuật viên, mà còn tùy thuộc vào việc duy trì tình trạng ổn định của các tham số sinh lý của bệnh nhân, đồng thời duy trì bệnh nhân trong tình trạng mất tri giác và không nhạy cảm với đau đớn. Ở đây có một vùng nghiên cứu rộng lớn để thăm dò và cả một lãnh vực để phát triển.
Virginia chấp nhận và sau một hành trình mang cô từ Presbyterian Hospital đến đại học Wisconsin, rồi đến New York Bellevue Hospital, cô trở lại Presbyterian Hospital năm 1938, với tư cách là trưởng khoa gây mê của Bộ môn ngoại. Cô là người phụ nữ đầu tiên điều khiển một khoa phòng trong bệnh viện này. Cô có nhiệm vụ tuyển mộ và đào tạo các sinh viên gây mê, điều hành công tác của các thầy thuốc gây mê và lãnh đạo công trình nghiên cứu. Dưới sự lãnh đạo của cô, khoa này sau cùng được giao phó cho một bác sĩ chứ không phải cho một y tá nữa. Khi khoa gây mê của cô trở thành một bộ môn riêng biệt, BS Apgar dự kiến sẽ trở nên chủ nhiệm bộ môn gây mê mới thành lập... nhưng chức vụ này sau đó đã được giao phó cho một đồng nghiệp nam. Tuy nhiên Virginia được bổ nhiệm làm giáo sư khoa gây mê, được trả lương toàn thời gian và là người phụ nữ đầu tiên được chức vụ này ở Columbia University .
APGAR : MỘT TÊN HỌ ĐÃ ĐƯỢC ĐỊNH SẴN
Trong khi giữ chức giáo sư khoa gây mê, BS Apgar dần dần ý thức những khiếm khuyết của ngành gây mê sản khoa. Suốt trong những năm 30, số trường hợp sinh đẻ trong môi trường bệnh viện đã gia tăng đến độ trở nên quan trọng hơn số các sinh đẻ tại gia. Tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em ở Hoa Kỳ khi đó cao hơn nhiều tỷ lệ tử vong trong nhiều nước ở châu Âu và 24 giờ đầu sau khi sinh chịu một tỷ lệ tử vong rất cao. Do đó Virginia tập trung vào vấn đề này và đi đến kết luận rằng trong hầu hết các trường hợp, người ta có thể cứu các trẻ sơ sinh này nếu chịu bỏ công thăm khám chúng ngay sau khi sinh. Điều chứng thực này đối với chúng ta có vẻ hiển nhiên, nhưng không phải là như vậy vào thời đó : mọi sự chú ý của đội sản khoa trong thời kỳ hậu sản được tập trung vào bà mẹ còn các trẻ sơ sinh thì được phó mặc cho các trợ lý hồi sức thiếu kinh nghiệm. Điều chứng thực khác là sự thiếu các dữ kiện khoa học về trẻ sơ sinh : cái gì là bình thường hoặc không bình thường nơi một em bé quá nhỏ và cần phải can thiệp khi nào và thế nào? Các chỉ tiêu được sử dụng khi đó dựa vào phần lớn tính chủ quan của những người can thiệp mà sự đào tạo của họ lại được hướng vào việc sử dụng các thuốc kích thích hơn là vào những nguyên tắc cơ bản như sự duy trì thông suốt các đường hô hấp của trẻ sơ sinh hay cho oxy. Một trong những hành động đầu tiên của BS Apgar là buộc tất cả các trợ lý gây mê phải đi thực tập sản khoa.
Một hôm, trong lúc ăn trưa, một trợ lý đã hỏi bà các tiêu chuẩn của một đánh giá chuẩn mực và nhanh chóng của tình trạng của trẻ sơ sinh. Số điểm (score d’ Apgar) nổi tiếng mang tên bà đã phát sinh từ câu trả lời của Virginia (tần số tim, hơi thở, trương lực, đáp ứng với kích thích và sắc da). Thật vậy đó là các tham số được theo dõi bởi các chuyên gia gây mê trong các cuộc phẫu thuật.Trong năm sau, bà hiệu chính số điểm Apgar như là công cụ không những để xác định sự cần thiết phải hồi sức mà còn như là nền tảng để bàn cải và so sánh các kết quả của những thủ thuật sản khoa. Vào tháng 9 năm 1952, ở hội nghị khoa gây mê thứ 27, Virginia trình bày các kết quả của một công trình nghiên cứu đầu tiên về đánh giá này, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng thực hiện sự đánh giá bằng số điểm Apgar trong phút đầu tiên sau khi sinh và sự đánh giá này cần phải được thực hiện bởi một người can thiệp không phải là thầy thuốc sản khoa, luôn luôn có khuynh hướng đánh giá quá cao số điểm của “ những trẻ sơ sinh của ông ta ”. Những nghiên cứu của bà trong những năm sau nhằm đặt mối liên hệ giữa những kết quả của số điểm Apgar với những hiệu quả của chuyển dạ, sinh đẻ và gây mê nơi người mẹ. Virginia Apgar cũng làm sáng tỏ nhiều khía cạnh không được biết đến của chuyển hóa phôi thai-mẹ (métabolisme foeto-maternel).
Trong những năm 60, nhiều bệnh viện sử dụng số điểm này. Năm 1961, một sinh viên của đại học Colorado ở Denver đã dùng các chữ đầu của BS Apgar để làm phương tiện ghi nhớ những điều được quan sát : A (Appearance : nước da mặt), P (Pulse : mạch), G ( Grimace : phản xạ đối với kích thích), A (Activity : trương lực cơ) R (respiration : hô hấp).
Vào năm 1959, Virginia giành được Master về y tế cộng đồng của Đại Học John Hopkins. Từ đó, bà dành nhiều thời gian cho công tác phòng ngừa các vấn đề bẩm sinh qua công tác giáo dục quần chúng và vào việc gây quỹ để nghiên cứu. Bà cũng lãnh đạo bộ môn các bệnh bẩm sinh ( département de maladies congénitales).
Vào năm 1973, một năm trước khi mất, bà được tặng huy chương vàng y khoa của Đại Học Columbia. Vinh dự này được thêm vào các giải thưởng và các tuyên dương mà bà đã giành được trong suốt cuộc đời phục vụ cho công tác.
Năm 1994, một con tem mang hình bà được phát hành để tôn vinh người đàn bà mà chúng ta có thể nói rằng mỗi trẻ em trên thế giới khi chào đời đều được quan sát trước hết bởi cái nhìn của Virginia Apgar. Nguồn : LA SEMAINE MEDICALE (5/6/2008)
2/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : MỘT TRẮC NGHIỆM PHÁT HIỆN BẰNG SIÊU ÂM
Công tác phát hiện bệnh loãng xương nơi các người già có thể bắt đầu bằng một xét nghiệm đơn giản các gót chân của các bệnh nhân bằng một hệ thống siêu âm, một nhóm nghiên cứu các thầy thuốc Thụy Sĩ của bệnh viện đại học Lausane đánh giá như vậy trong tạp chí Radiology vào tháng 6 này. Theo các nhà nghiên cứu này, kỹ thuật này đã chứng tỏ hiệu quả trên một nhóm khoảng 6.000 nữ bệnh nhân tuổi từ 70 đến 85 tuổi. Xét nghiệm dự đoán này cho phép biết được những bệnh nhân nào sau đó sẽ cần hơn hết một trắc nghiệm mật độ xương bằng tia X ( test de densité osseuse aux rayons X) để xác nhận chẩn đoán và thực hiện điều trị . Chứng loãng xương (ostéoporose) là một bệnh tác động chủ yếu trên các phụ nữ ( 80% các trường hợp). Bệnh được thể hiện bởi sự mất mật độ xương và do đó có nguy cơ gia tăng bị gãy xương. Nguồn : LE SOIR (26/6/2008)
3/ KHỚP HÁNG GIẢ CÓ LỢI NGAY CẢ Ở TUỔI 90

Việc đặt một khớp háng giả toàn bộ (prothèse totale de la hanche) là rất dương tính, trên bình diện chất lượng sống cũng như về mặt sức khỏe, kể cả ở những người rất già nua.
Không có giới hạn tuổi trong việc đặt một khớp háng giả nơi những người bị thoái hóa khớp háng (coxarthrose). Ngay cả các ông lão 80 và 90 cũng có thể hưởng lợi do việc đặt khớp háng giả này, theo kết quả của một công trình nghiên cứu rộng lớn được công bố trong tờ báo của Hiệp hội lão khoa Hoa Kỳ, bởi các nhà nghiên cứu của trung tâm y khoa của Đại Học Duke. Bởi vì một phẫu thuật như thế, nếu không bị chống chỉ định vì những lý do y khoa, sẽ mang lại cho những người rất bị tàn phế này, thường đóng khung trong ngôi nhà của họ, những cử động và tính độc lập, vừa rất là có lợi trên bình diện kinh tế. Các chuyên gia Bắc Mỹ ước tính số tiền tiết kiệm được trong 1 năm là 50.000 dollars nếu như chúng ta tính đến những lưu trú có thể tránh được ở nhà dưỡng lão hay sự giúp đỡ hàng ngày của một người thứ ba.
“Tuy vậy, mặc dầu số các phẫu thuật này đã gia tăng đáng kể từ 10 năm qua, nhưng chỉ dưới 25% những người già, đúng ra có thể được mổ, mới được hưởng những phẫu thuật này”, Linda George, nữ giám đốc của Trung tâm nghiên cứu sự lão hóa của Đại Học Duke đã nhấn mạnh như vậy.
“Ở Pháp, ngược lại, trên 120.000 khớp háng giả được đặt mỗi năm, phẫu thuật nơi các người già trên 80 tuổi muốn có cuộc sống tự lập không phải là hiếm, với điều kiện những người này có một tình trạng sức khỏe tổng quát tốt, điều này càng ngày càng thường xảy ra”, BS Jean Barthas, chuyên gia giải phẫu chỉnh hình thuộc Fondation Saint-Joseph đã đánh giá như vậy. “Chúng tôi đã luôn luôn nhấn mạnh đến tính chất đặc biệt về kinh tế của việc đặt một khớp háng giả nơi các người già”, bởi vì điều đó cho phép duy trì sự độc lập càng lâu càng tốt và như vậy duy trì một chất lượng sống tốt.
Các bệnh nhân được nhập viện 5 đến 8 ngày sau phẫu thuật. Cuộc giải phẫu này được thực hiện bằng péridurale hay gây tê tủy sống (rachianesthésie), tốt hơn là bằng gây mê tổng quát, ít được khuyến nghị ở lứa tuổi này. 48 giờ sau giải phẫu, các bệnh nhân có thể bước đi trở lại. Nếu không có triệu chứng, sau đó họ có thể trở về nhà. Với sự giúp đỡ của một vận động trị liệu viên (kinésithérapeute), đến 2 đến 3 lần mỗi tuần vào lúc đầu.
MỘT TUỔI THỌ 20 ĐẾN 30 NĂM
Lúc đặt một khớp háng giả hoàn toàn, phẫu thuật viên thay thế cái đầu của xương đùi đã bị hư mòn bởi một bán cầu bằng kim loại hay bằng céramique, được lắp lên một thân (tige), trong khi bề mặt của ổ khớp háng (cotyle) được thay thế bởi một mũ (coiffe) bằng polyéthylène (plastique) hay bằng kim loại được bao phủ bởi một lớp polyéthylène. Khớp giả có thể được cố định tại chỗ bởi chất ciment (prothèse cimentée), hoặc được cố định một cách chắc chắn bằng đè ép không đặt ciment.
Tuổi thọ các khớp giả được kéo dài một cách đáng kể. Ngày nay, các khớp giả được đặt vẫn tồn tại 20 năm, thậm chí đến 30 năm trong một vài trường hợp. Nhưng các bệnh nhân phải được theo dõi một cách chăm chú bởi phẫu thuật viên, mỗi lần mỗi năm trong 5 năm đầu, rồi mỗi 2 năm sau đó, để kiểm tra xem có những dấu hiệu báo trước một sự tháo khớp (descellement) trên X quang hay không. Bởi vì vào lúc đầu các bệnh nhân này không nhất thiết kêu đau.
Là chứng bệnh xảy ra vào phần thứ hai của cuộc sống (trừ ở các nhà đại thể thao và những người bị loạn sản (dysplasie) khớp háng thì xảy ra sớm hơn), bệnh thoái hóa khớp háng (coxarthrose) là do một sự phá hủy quan trọng của sụn khớp (cartilage articulaire), nằm giữa đầu của xương đùi và xoang khớp tương ứng nơi xương chậu. Bệnh thoái hóa khớp háng được thể hiện bởi những cơn đau ở mông và phần trước của đùi, một sự co cứng, một sự mất cơ ở đùi càng ngày càng quan trọng và một sự giới hạn dần dần những cử động, làm trở ngại bước đi và tư thế đứng lâu dài. Nguồn : LE FIGARO (18/6/2008)
4/ VITAMINE D VÀ BỘ RĂNG CỦA EM BÉ

Theo các chuyên gia về nha khoa của Canada, các bà mẹ tương lai nhất thiết phải theo dõi nồng độ vitamine D trong thời kỳ thai nghén nếu các bà mẹ này muốn cho con mình về sau có những chiếc răng tốt. Thật vậy, một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Đại Học Manitoba đã xác lập một mối liên hệ trực tiếp giữa một nồng độ vitamine D đạt yêu cầu nơi các dựng phụ và bộ răng tốt nơi các đứa con mình. Nguồn : LE SOIR (5/7-6/7/2008)
5/ CUỘC TRANH CÃI CỦA CÁC CHUYÊN VIÊN VỀ CÁC HIỂM NGUY CỦA ĐIỆN THOẠI CẦM TAY

Viện hàn lâm y học gọi lời kêu gọi về những nguy cơ của điện thoại cầm tay do David Servan-Schreiber khởi xướng là “marketing và quảng cáo”. Một sự thận trọng quá mức về mặt y tế công cộng đã không bao giờ làm hại ai. Chính vì thế, ngày 15/6 vừa qua, khi David Servan-Schreiber, chuyên gia tâm thần (và là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất), cùng với 20 nhà ung thư, đưa ra trong Le Journal du dimanche một lời kêu gọi rung cảm nhằm ngăn cấm trẻ em dùng điện thoại cầm tay và xui khiến các người lớn hạn chế việc sử dụng, thì không ai đã muốn phản đối. Ngay cả phương pháp tiến hành dường như đáng ngạc nhiên vì lẽ nó không dựa vào một sự kiện khoa học mới nào cả.
Viện hàn lâm y học, trong một thông báo được công bố hôm thứ ba, đã nổi giận chống lại lời kêu gọi đã bi thảm hóa những mối hiểm nguy của điện thoại cầm tay. “ Y khoa không phải là quảng cáo cũng chẳng phải là marketing, và chỉ có thể có nền y khoa hiện đại được xây dựng trên các sự kiện khoa học. Làm lo lắng dư luận trong một bối cảnh như thế là đạo đức giả, nhưng đó không phải là một phương pháp tiến hành khoa học chút nào. Người ta không thể xác nhận, như các tác giả của lời kêu gọi đã làm, rằng có một nguy cơ sử dụng điện thoại cầm tay, làm dễ sự xuất hiện các ung thư trong trường hợp được tiếp xúc lâu dài và đồng thời, rằng không có bằng cớ chính thức về tính độc hại của điện thoại cầm tay ”. Nguyên tắc thận trọng không thể được biến đổi thành bộ máy báo động (machine alarmiste), nhất là khi nhiều tỷ điện thoại cầm tay đang được sử dụng trên thế giới mà không có những hậu quả y tế rõ ràng từ 15 năm qua”
NHỮNG DỮ KIỆN TRẤN AN
Viện hàn lâm y học dựa vào các dữ kiện thí nghiệm trấn an và trên những kết quả đầu tiên của công trình nghiên cứu quốc tế Interphone, được tiến hành trên 13 nước và nhằm so sánh cường độ của sự sử dụng điện thoại cầm tay nơi 3.000 bệnh nhân bị các ung thư khác nhau (não, tai trong, tuyến mang tai) với nhóm chứng cùng lứa tuổi và cùng giai tầng xã hội. Các kết quả sơ khởi của Interphone không cho thấy sự gia tăng của neurinome dây thần kinh thính giác (nhưng điều này không chắc chắn đối với những người sử dụng trên 10 năm), không phát hiện nguy cơ gia tăng đối với u màng não (méningiome), cũng như đối với các u thần kinh đệm (gliome). Các dữ kiện này được xem là đáng yên tâm, mặc dầu chúng không cho phép tiên đoán điều gì có thể xảy ra sau 20, 30 hoặc 40 năm sử dụng.
“Chúng ta không thể có một chính sách về y tế cộng đồng nếu như chúng ta pha trộn những mối nghi ngờ (thậm chí chắc chắn) về nguy cơ, với những giả thuyết giản đơn, giáo sư André Aurengo, hội viên hội hàn lâm đã giải thích như vậy. Ngày nay có thể nói có một sự thiêng liên hóa về mối nguy cơ, nhất là khi điều này đang còn trong giả thuyết. Người ta có cảm tưởng rằng càng có ít thông tin thì càng dễ gây sợ hãi. Chúng ta hiểu rằng chính quyền khuyến nghị, như họ đã từng làm, những thận trọng trong việc sử dụng đối với trẻ em và người lớn. Các điện thoại cầm tay có thể có một tác dụng sưởi ấm các mô lúc sử dụng lâu dài, nhưng năng lượng do chúng sinh ra là quá thấp không thể gây nên các thương tổn ADN. Hiện nay, chúng ta không có ý niệm về một cơ chế qua đó điện thoại cầm tay có thể gây ung thư”.
Đối với Dominique Costagliola, nhà dịch tễ học của Inserm : “Những bài diễn văn hiện nay có những nét giống với những nỗi sợ hãi mà người ta đã có được vào lúc tàu hỏa mới được phát minh. Nếu chúng ta sợ hãi mỗi tiến bộ, thì hãy quay trở lại ngay thời đại hang động (âge des cavernes), thời kỳ mà, chúng ta hãy nhớ, tuổi thọ đã rất là bị thu hẹp! Không phải chúng ta chấp nhận mọi cái mới mà không suy nghĩ, nhưng đừng nên nói bất cứ điều gì nhân danh nguyên tắc thận trọng”. Nguồn : LE FIGARO (19/6/2008)
6/ SAU 90 TUỔI, NGUY CƠ BỊ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ ÍT HƠN Ở ĐÀN ÔNG
Trên 90 tuổi, các phụ nữ bị chứng sa sút trí tuệ (démence) nhiều hơn đàn ông, theo một công trình nghiên cứu được công bố on line hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Neurology.
Các nhà nghiên cứu của đại học Irvine, California, đã phân tích các kết quả của một nghiên cứu trên 911 người già trên 90 tuổi . Họ đã chứng nhận rằng 45% các phụ nữ bị chứng sa sút trí tuệ như bệnh Alzheimer, so với chỉ 28% nơi đàn ông. Các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng tỷ lệ mắc phải chứng sa sút trí tuệ gia tăng nơi đàn ông cũng như nơi các phụ nữ giữa 65 và 85 tuổi.Tỷ lệ mắc phải chứng sa sút trí tuệ dưới 2% đối với những người từ 65 đến 69 tuổi, 5% đối với những người 75 đến 79 tuổi và hơn 20% nơi những người già từ 85 đến 89 tuổi.
Công trình nghiên cứu mới nhất tiết lộ rằng xác suất bị chứng sa sút trí tuệ tăng gấp đôi mỗi 5 năm nơi các phụ nữ sau 90 tuổi nhưng đối với đàn ông thì không bị mức gia tăng này. Các công trình này cũng chứng tỏ rằng các phụ nữ trong lứa tuổi này (sau 90 tuổi) và có một trình độ học vấn cao đẳng, có 45% ít hơn nguy cơ bị sa sút trí tuệ so với các phụ nữ không có học vấn cao. Những công trình này phải được xét đến trong việc kế hoạch hóa nhưng nhu cầu y tế trong những năm sắp đến. Ngày nay người ta thống kê được ở Hoa Ky có gần 2 triệu người già 90 tuổi và con số này theo dự kiến sẽ lên đến 10 đến 12 triệu vào năm 2050. Nguồn : LE FIGARO (4/7/2008)
7/ U HẮC TỐ ÁC TÍNH GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN : MỘT THÀNH CÔNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ BẮNG LIỆU PHÁP TẾ BÀO
Một bệnh nhân 52 tuổi, bị u hắc tố ở giai đoạn tiến triển, với di căng vào hạch bạch huyết ở bẹn và vào một lá phổi, hy vọng sống sót dưới 1 năm, nhưng sau một điều trị bằng các tế bào lymphô của chính ông ta, đã thấy ung thư biến mất hoàn toàn. Đó là nhờ sử dụng hệ miễn dịch của chính bệnh nhân để chống lại các khối u. Một trường hợp đầu tiên trên thế giới.
U hắc tố ác tính (mélanome malin) là một khối u của da có thể được chữa lành khi có độ dày nhỏ. Đối với các dạng tiến triển hơn, ung thư này nhanh chóng dẫn đến các di căn xa, với một tiên lượng xấu hơn. Trong bối cảnh khó khăn này, sự thành công điều trị thu được bởi các thầy thuốc Hoa Kỳ, nơi một người đàn ông 52 tuổi, bị một u hắc tố ác tính với di căn ở hạch và phổi, rất đáng được chúng ta chú ý.
Các thầy thuốc này, mà các kết quả được công bố trong New England Journal of Medicine ngày 19/6, lần đầu tiên đã điều trị thành công một bệnh nhân bị một u hắc tố, bằng các tế bào được cloné từ hệ miễn dịch của chính ông ta. Hai năm sau điều trị, ung thư và các di căn đã biến mất. Mặc dầu, các kết quả này chỉ có được trên một trường hợp duy nhất, nhưng cũng khá đặc biệt để các nhà nghiên cứu khác mở rộng thử nghiệm.
BS. Cassian Yee và các cộng sự viên của Trung tâm nghiên cứu về ung thư Fred-Hutchinson đứng trước bệnh nhân mà tình trạng vượt quá mọi khả năng điều trị, đã quyết định thử nghiệm một điều trị mới dựa trên sự kích thích hệ phòng thủ miễn dịch. Trước hết, họ lấy vài tế bào lymphô T thuộc loại CD4+, những tế bào chủ chốt của hệ miễn dịch. Các tế bào lymphô T này (nhắm một cách đặc hiệu kháng nguyên NY-ESO-1 liên kết với u hắc tố), đã được cloné với một số lượng rất lớn trong phòng thí nghiệm (5 tỉ), trước khi được tiêm vào thân thể của người bệnh mà không cần một điều trị bổ sung nào trước hoặc sau thủ thuật.
“Hai tháng sau, những xét nghiệm bằng scanner và tomographique par émission de positon (TEP) đã không phát hiện một khối u nào. Một vài trong các tế bào được tiêm vào đã tồn tại ít nhất 80 ngày trong cơ thể của bệnh nhân và mặc dầu chỉ 50 đến 75% các tế bào của khối u của bệnh nhân phản ứng với kháng nguyên NY-ESO-1, toàn bộ ung thư đã thoái triển sau khi tiêm”.
Các bệnh nhân này vẫn không có triệu chứng hay dấu chứng ung thư từ hai năm nay. Không có tác dụng phụ nào, không có biến chứng hay bệnh tự miễn dịch nào được nhận thấy . “ Chúng tôi ngạc nhiên bởi các tác dụng chống ung thư của các tế bào T CD4 và thời gian đáp ứng của chúng chống lại ung thư này. Chúng tôi đã có một thành công đối với bệnh nhân này, nhưng còn cần phải xác nhận tính hiệu quả của liệu pháp này trong một công trình nghiên cứu rộng rãi hơn ”, BS Yee đã phát biểu như vậy. Nếu lợi ích của liệu pháp này được xác nhận trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn, theo các tác giả, liệu pháp này có thể được sử dụng trong 25% các trường hợp u hắc tố giai đoạn tiến triển (mélanome avancé) bằng cách sử dụng cùng loại các tế bào của hệ miễn dịch và kháng nguyên của khối u
“Các kết quả này là ngoạn mục và tài liệu xuất bản này rất đáng lưu ý, giáo sư David Klatmann (nhà nghiên cứu chuyên về miễn dịch học và các bệnh ung thư, bệnh viện Pitié-Salpêtrière, Paris) đã giải thích như vậy. Nhưng những công trình này chỉ tóm lại trong một trường hợp duy nhất và rất khó mà rút ra được những kết luận xác định. Mặt khác, điều trị được thực hiện là rất nặng nề và tốn kém. Bây giờ nếu chúng ta có thể thu được những đợt thu giảm kéo dài, hoặc lành hẳn bệnh, có lẽ chúng ta sẽ có khả năng đơn giản hóa các thủ tục”. Nguồn : LE FIGARO (20/6/2008) - LE SOIR (21-22/6/2008)
8/ CHOPIN CHẾT VÌ BỆNH MUCOVISCIDOSE

Nhà soạn nhạc xuất sắc Chopin đã chết vì bệnh gì? Trái tim của ông được bảo quản ở Varsovie, có thể xác lập sự thật.
Được gìn giữ trong cognac từ gần 160 năm nay và được cất giữ trong một nhà thờ của Varsovie, trái tim của nhà soạn nhạc Frédéric Chopin có thể tiết lộ bí mật về trường hợp chết non của ông. Mãi cho đến ngày nay, người ta chấp nhận rằng nhà chơi dương cầm thiên tài, sinh năm 1810, gần Varsovie, đã chết ở Paris, năm 1849, vì bệnh lao phổi.
Nhưng các nhà khoa học nổi tiếng Ba Lan bây giờ nghĩ rằng ông chết vì mucoviscidose, một bệnh di truyền gây bệnh nghiêm trọng lên phổi. Và các nhà khoa học muốn chứng tỏ điều đó nhờ một phân tích ADN trên trái tim của ông.
Đối với giáo sư Wojciech Cichy, một trong các chuyên gia Ba lan về mucoviscidose, tất cả nỗi đau khổ mà Frédéric Chopin đã chịu đựng lúc còn sinh thời chứng tỏ rằng ông bị bệnh mucoviscidose, một chứng bệnh gây tích lũy niêm dịch (mucus) trong bộ máy hô hấp. .
“Từ khi còn thơ ấu, ông rất là yếu ớt, có khuynh hướng dễ bị nhiễm trùng phổi, dễ bị ho, giáo sư Cichy đã xác nhận như vậy. Ở tuổi trưởng thành, ông đã luôn luôn rất gầy yếu, đây cũng là một triệu chứng khác của bệnh. Và ông mất trước khi đạt đến tuổi 40 như hầu hết các bệnh nhân bị bệnh này”. BS Chichy cũng nhấn mạnh rằng Chopin được biết là không có con, mặc dầu ông đã có quan hệ lâu dài và sôi nổi với nữ văn sĩ George Sand, điều này gợi ý ông bị bệnh vô sinh, một nét đặc biệt khác của mucoviscidose.
ANH HÙNG DÂN TỘC
“Nếu chúng ta có thể chứng tỏ rằng Chopin bị bệnh mucoviscidose, thì đó sẽ là một điều gợi ý lớn đối với các bệnh nhân của của chúng ta, đặc biệt là các trẻ em mắc phải bệnh này, vì chúng cũng có thể hoàn thành được cái gì đó vĩ đại như Chopin đã từng làm”, giáo sư Chichy đã giải thích như vậy.
Ở Ba Lan, Chopin không những là một nhà soạn nhạc nổi tiếng, mà còn là một anh hùng dân tộc, biểu tượng của cuộc đấu tranh khó khăn giành lại tự do cho đất nước. Trái tim của Chopin hiện đang nằm an nghỉ trong một bình di cốt bằng pha lê, được cất giữ trong Eglise de la Sainte-Croix của thủ đô Ba lan. Vào lúc mất, theo ước nguyện của Chopin, trái tim ông đã được lấy và mang về Varsovie bởi người em gái Ludwika, trong khi thi hài của ông thì được mai táng ở nghĩa địa Père Lachaise, Paris. “Các tài liệu lưu trữ cho thấy rằng trái tim của ông đang ở trong tình trạng hoàn hảo nhưng nếu đụng vào có thể có nguy cơ tiêu hủy nó” Grzegorz Michalski, giám đốc của Viện quốc gia Frédéric Chopin, đã xác nhận như thế.
Theo ông, một trong hai người bà con của Chopin chống lại việc khám mổ tử thi trái tim ông, trong khi người kia thì đồng ý. Các thầy thuốc đã đưa đơn chính thức cho Bộ Văn Hóa Ba lan để yêu cầu kiểm tra xem có thể tìm thấy trong một trắc nghiệm ADN, sự biến dị của gène CFTR, chịu trách nhiệm phát sinh ra bệnh này. Nguồn : LE SOIR (24/6/2008)
9/ CÁC VI KHUẨN VÀ CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA NHŨ NHI

Nguyên nhân vi khuẩn giải thích bệnh chết đột ngột của nhũ nhi (mort subite du nourrisson) đã được phát động trở lại với việc khám phá hai vi khuẩn Staphylococcus aureus và Escherichia Coli, trên gần một nửa số các em bé bị chết đột ngột, trong một bệnh viện ở Luân Đôn, giữa năm 1996 và 2005. Công trình nghiên cứu, được công bố trong The Lancet, dựa trên kết quả của những giải phẫu tử thi được thực hiện nơi các trẻ em này. Các cuộc giải phẫu tử thi này đã cho phép tìm thấy những vi khuẩn Staphylococcus aureus và Escherichia Coli nơi phổi và lá lách trong 11% các trường hợp chết đột ngột đã được xếp loại là không phải do nhiễm trùng, trong 19% các trường hợp chết đột ngột không giải thích được và trong 24% các trường hợp chết đột ngột được gán cho một nguyên nhân nhiễm trùng. Nhưng các tác giả tỏ ra thận trọng trong kết luận. Và gợi ý rằng một sự sản xuất các độc tố bởi các vi khuẩn này có thể là nguyên nhân của những trường hợp chết đột ngột của nhũ nhi. Nguồn : SCIENCES ET AVENIR (7/2008).
10/ CAFEINE CHỐNG UNG THƯ DA

Sự tiêu thụ caféine trong một đến hai tuần làm gia tăng hiện tượng chết được chương trình hóa (apoptose hay mort programmée) của các tế bào biểu bì bị biến đổi do tiếp xúc với các tia tử ngoại B và làm giảm nguy cơ biến đổi thành ung thư của chúng. Những dữ kiện này có được nơi loài gậm nhấm với các liều lượng caféine tương đương 3 đến 5 tách cà phê mỗi ngày. Các dữ kiện này xác minh những quan sát dịch tễ học cho thấy rằng những người uống cà phê hay trà bị ung thư da ít hơn so với phần dân chúng còn lại.
Nguồn : SCIENCES ET AVENIR (7/2008).

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/7/2008)


Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học