Thời Sự Y Học số 83
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC THẦY THUỐC KÊU GỌI SỬ DỤNG THẬN TRỌNG NHỮNG ĐIỆN THOẠI CẦM TAY
Khi nào chúng ta sẽ biết được một cách chắc chắn rằng, hàng trăm triệu người đang sử dụng tích cực các điện thoại cầm tay, sẽ bị hay không một mối nguy cơ về mặt y tế? Từ khi xuất hiện phương cách liên lạc bằng dây nói này, cuộc tranh cãi đã không ngừng tái diễn. Hôm nay, cuộc tranh cãi lại được khởi động sau một lời kêu gọi long trọng, yêu cầu phải thận trọng trong việc sử dụng các điện thoại cầm tay. Lời kêu gọi này đuợc đưa ra trong các cột báo của Journal du dimache, ngày 15/ 6, bởi hai mươi nhân vật quan trọng của Pháp và những nước khác thuộc giới khoa học và ung thư, trong đó có giáo sư Henri Pujol, cựu chủ tịch của Liên đoàn quốc gia chống ung thư, và Lucien Israel.
Lo ngại về những hậu quả ung thư lên mô não bộ có thể xảy ra do việc sử dụng tích cực các máy điện thoại cầm tay của những người sử dụng, các người ký tên lời kêu gọi này đã lập ra một danh sách các biện pháp thận trọng đơn giản, theo họ, cần được thực hiện trong lúc chờ đợi một đánh giá chính xác và khách quan các mối nguy cơ. Như là không nên cho phép các trẻ dưới 12 tuổi sử dụng điện thoại cầm tay. Lời kêu gọi cũng khuyên cần giữ điện thoại cách xa thân mình một khoảng cách một mét trong khi nói chuyện, bằng cách dùng đến một cái loa

Những người ký lời kêu gọi cũng cho là cần thiết, tránh mang điện thoại theo mình chừng nào có thể được. Sau cùng họ gợi ý, tốt hơn là nói chuyện bằng SMS và đừng sử dụng máy khi lực của các tín hiệu bị yếu và khi di chuyển trên xe hơi hoặc trên tàu hỏa.
Những lời khuyến nghị này được đưa ra nhân danh nguyên tắc thận trọng và dựa trên vài ấn bản khoa học bị tránh cãi, được công bố mới đây.
TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG LIỀU LƯỢNG NHỎ
“ Trên những điểm chính yếu, tôi nhất trí với sự phân tích của những người ký tên lời kêu gọi phải thận trọng này, giáo sư Elisabeth Cardis, thuộc Trung Tâm nghiên cứu dịch tễ học môi trường (Barcelone), người điều hành công trình nghiên cứu dịch tễ học quốc tế Interphone, đã tuyên bố như vậy. Tuy nhiên, phải biết rằng những kết quả của vài công trình nghiên cứu lên các tác dụng sinh học hiện đang bị đặt lại vấn đề. Nhưng trong khi thiếu những kết quả cuối cùng, và vì một số công trình nghiên cứu, mặc dầu giới hạn, gợi ý một tác dụng khả dĩ của tần số phóng xạ (radiofréquence), tôi cho rằng những thận trọng là cần thiết và cần phải giới hạn việc sử dụng các điện thoại cầm tay nơi đối tượng trẻ tuổi nhất ”
Từ hơn 4 năm nay, người ta chờ đợi những kết luận của công trình nghiên cứu Interphone, được tiến hành trong 13 nước dưới sự chỉ đạo của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư. Công trình nghiên cứu này đã được khởi động vào năm 2000, nhưng các nhà nghiên cứu đã gặp những khó khăn về kỹ thuật trong sự đánh giá tác động của những liều lượng thấp. Trong thực tế, họ đã nhận diện nhiều ngàn trường hợp ung thư (các khối u não bộ, của dây thần kinh thính giác và của tuyến mang tai) trước khi tìm cách đánh giá sự hiện diện của một nguy cơ. Nguồn : LE MONDE (17/6/2008)
2/ ĐẾM TÓC RỤNG ĐỂ TIÊN ĐOÁN BỆNH SÓI ĐẦU

Một trắc nghiệm đơn giản cho phép tiên đoán nguy cơ trở nên bị sói đầu (calvitie).

Chúng ta có thể tiên đoán được nguy cơ sẽ bị sói đầu hay không? Đàn ông vì lý do hormone, có một khuynh hướng lớn hơn phụ nữ, sẽ bị rụng tóc khi đến tuổi 40, đôi khi còn sớm hơn nhiều và không có cách nào để đoán trước là ai sẽ trở nên sói đầu khi tuổi tác gia tăng. Carina Wasko, nhà nghiên cứu nữ của Baylor College of Medicine (Texas), vừa nghiên cứu vấn đề này, và đã cùng các đồng nghiệp của cô, hiệu chính một phương pháp chính xác cho phép tiên đoán sự rụng tóc nơi một người trưởng thành (đàn ông hoặc đàn bà). Điều này có thể trở nên một công cụ rất hữu ích cho các thầy thuốc khoa da, để tiên đoán sự xuất hiện của chứng sói đầu (calvitie) và do đó thực hiện những điều trị nội khoa hiệu quả nhằm làm chậm lại căn bệnh này. “Ngày nay, không có phương pháp tiêu chuẩn hóa để định lượng các sợi tóc bị mất hàng ngày ”. B.S Wasko đoan chắc như vậy. Ông công bố các kết quả của ông ngày 16/6 trong Archives of Dermatology, một tạp chí khoa học của Hoa Kỳ.
New England Journal of Medicine, năm 1999, nhắc lại rằng “một ngày có đến 100 sợi tóc bị rụng ”, nhưng ý niệm rất ăn sâu vào đầu óc các chuyên gia về tóc này chỉ căn cứ trên sự ước đoán cho rằng một da đầu (scalp) chứa trung bình 100.000 hành tóc (bulbe de cheveu) và 10% trong số các sợi tóc này ở giai đoạn cuối của đời sống.
Ý tưởng này không chỉ rõ một chút nào là rụng tóc có vẫn xảy ra thường xuyên khi chúng ta lớn tuổi và sự rụng tóc có giống hệt nhau ở đàn ông và đàn bà hay không. Phải biết rằng sự tăng trưởng của tóc là có chu kỳ và rằng mỗi chu kỳ kéo dài nhiều năm : giai đoạn tăng trưởng (anagène) kéo dài từ hai đến sáu năm.Tiếp theo là giai đoạn thoái biến (catagène) kéo dài từ hai đến ba tuần và sau hết là giai đoạn nghỉ ngơi (télogène) kéo dài từ hai đến ba tháng và chấm dứt bởi sự rụng tóc. Hành tóc (bulbe) trong da đầu sau đó lại bắt đầu công việc và một chu kỳ được lập lại. Thời gian của sự tăng trưởng dĩ nhiên xác định độ dài của sợi tóc và chính thế tích của hành tóc quyết định độ mịn cuối cùng của sợi tóc.
HAI THỨ THUỐC ĐỂ LÀM CHẬM LẠI SỰ RỤNG TÓC
Cùng với nhóm nghiên cứu, BS Wasko đã nghiên cứu sự rụng tóc của 60 người mạnh khỏe, một nửa trong số những người này ở lứa tuổi từ 20 đến 40, còn nửa kia từ 41 đến 60. Những người này không có một triệu chứng sói đầu (calvitie) nào hoặc không bị rụng tóc khu trú (alopécie). Người ta phân cho các người tham gia, cùng một chiếc lược và người ta yêu cầu họ gội đầu 3 buổi sáng liên tiếp với cùng thuốc gội đầu. Ngày thứ tư, các người tham dự phải chải tóc về phía trước, trong 60 giây, trên một chiếc khăn trắng. Sau đó họ phải đếm các sợi tóc bị rụng và lặp lại trắc nghiệm 3 ngày liên tiếp. 6 tháng sau, các người tham dự phải lặp lại cùng thủ tục.
Một mặt, các kết quả cho thấy rằng những người tham gia trẻ tuổi nhất (20 đến 40 tuổi) mất từ 0 đến 70 sợi tóc mỗi ngày, hoặc trung bình 10,2 sợi tóc. Những người già nhất (41 đến 60 tuổi) đã mất từ 0 đến 43 sợi tóc mỗi ngày. Mặc dầu trung bình tóc rụng giống hệt nhau trong hai nhóm, nhưng người ta nhận thấy rằng một vài người trong nhóm những người trẻ tuổi nhất đã có thể rụng tóc nhiều hơn nhiều so với các người già. Đối với cùng người tham gia, dầu ở lứa tuổi nào, trắc nghiệm được thực hiện cách nhau 6 tháng, trung bình cho những kết quả tương tự nhau.
Từ những đo lường được thực hiện cách nhau 6 tháng này, BS Wasko đã có thể cho thấy rằng khi các người tham gia mất hơn 50 sợi tóc mỗi ngày, cuối cùng những người này sẽ bị một chứng sói đầu quan trọng.Vậy sự đếm tóc rụng mỗi phút (décompte minute) là một công cụ thực tiễn và khách quan.
Hai loại thuốc được cho phép lưu hành để làm chậm lại sự rụng tóc dần dần và cải thiện sự che phủ da đầu. Chúng không có hiệu quả đối với những trường hợp sói đầu ở giai đoạn tiến triển, nhưng finastéride (Propecia), thuốc viên, uống 1 mg mỗi ngày, có tác dụng phong bế các enzyme phá hủy testostérone, và Minoxidil thuốc nước (một thuốc chống cao huyết áp có tác dụng kéo dài thời gian tăng trưởng của sợi tóc) có một hiệu quả nào đó. Trắc nghiệm mới, nhờ phát hiện sớm hơn sự rụng tóc báo hiệu sự xuất hiện của chứng sói đầu, sẽ cho phép bắt đầu các điều trị sớm hơn. Nguồn : LE FIGARO (18/6/2008)
3/ CÁC NGƯỜI GIÀ : OMEGA-3 CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM.
Một công trình nghiên cứu của Pháp chỉ rõ rằng một chế độ ăn uống giàu oméga-3 sẽ ngăn ngừa nguy cơ bị trầm cảm (dépression) nơi các người già.
Vào đầu những năm 2000, một cuộc tranh luận kịch liệt về những lợi ích đối với sức khỏe của các oméga-3, các acide béo được đặc biệt tìm thấy trong cá, đã làm sôi nổi nước Pháp. Đặc biệt, lợi ích của các chất mỡ này trong việc ngăn ngừa và điều trị những người bị bệnh trầm cảm nhẹ đã được cổ xướng bởi vài người và bị tranh cãi bởi những người khác.
Các nhà nghiên cứu của Inserm nghiên cứu vấn đề này, vừa cho thấy rằng, từ một công trình nghiên cứu quan sát trên gần 1.400 lão niên, một nồng độ cao trong máu của acide béo oméga có chuỗi dài được gọi là EPA (acide eicosapentaénoique) được liên kết với một tần suất ít lớn hơn các triệu chứng trầm cảm nơi những người này. Trong khi đó, ngược lại, các người bị trầm cảm có những nồng độ thấp EPA. Vấn đề còn cần phải biết xem là có phải chính bởi vì các lão niên này bị trầm cảm nên có một nồng độ EPA thấp hay chính do nồng độ của acide béo thiết yếu này thấp (do chế độ thức ăn nghèo oméga-3) mà họ bị những triệu chứng trầm cảm. Công trình nghiên cứu, được công bố trong American Journal of Clinical Nutrition ngày 13/5 vừa qua không cho phép nói về điều đó vào giờ phút này.
Mục tiêu của dự án nghiên cứu do Pascale Barberger-Gateau (giám đốc của phòng dịch tễ học về dinh dưỡng ở Bordeaux) là nghiên cứu tác động của tình trạng dinh dưỡng acide béo và các chất chống oxy hóa (antioxydant) lên sự lão hóa của não bộ (suy thoái tinh thần và sa sút trí tuệ) và lên các rối loạn về khí chất (chứng trầm cảm). Trong công trình nghiên cứu, các tác giả đã khảo sát mối liên hệ giữa nồng độ acide béo trong máu và tầm quan trọng của các triệu chứng trầm cảm.

1.390 người, tuổi trung bình 75, được theo dõi ở Bordeaux, đã chấp nhận cho lấy máu đều đặn mỗi hai năm, nhằm định lượng 12 acide béo khác nhau. Trong cùng thời gian, các nhà tâm lý học đã tìm cách nhận diện sự hiện diện của chứng trầm cảm hay các tiền sử bị trầm cảm và mức độ nghiêm trọng của chúng, nhờ bảng câu hỏi. Theo kết quả, một oméga đặc biệt, acide eicosapentaénoique (EPA) đã gây sự chú ý của các nhà khoa học. Họ đã khám phá ra rằng, các người bị trầm cảm có các nồng độ EPA trong máu thấp hơn so với những người không hề có vấn đề trầm cảm. “Oméga-3 này là thành phần của các màng tế bào, đặc biệt là trong các neurone của não bộ”, Catherine Féart, một trong các nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. “Người ta càng có nhiều oméga-3, những trao đổi não bộ sẽ càng được thực hiện dễ dàng hơn”. Có thể nói EPA làm dễ các liên lạc giữa các neurone.
CÁ HỒI HAI LẦN MỖI TUẦN
“ Người ta có thể đặt giả thuyết rằng oméga-3 này đóng một vai trò trong chuyển hóa của sérotonine, can dự trong chứng trầm cảm. Một giải thích khả dĩ khác : trong trường hợp trầm cảm, có một tình trạng viêm thần kinh (neuro-inflammation) khả dĩ được điều hòa bởi các oméga-3 này. Để hiểu rõ hơn những kết quả đầu tiên này, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục nghiên cứu và đo các nồng độ acide béo đồng thời trong màng các hồng cầu và trong huyết thanh . Bởi vì các nồng độ huyết thanh phản ảnh ăn uống 15 ngày trước đó, trong khi những nồng độ của các hồng cầu là bằng cớ lâu dài hơn của thức ăn được ăn vào.

Giai đoạn hai, các nghiên cứu sẽ cố gắng kiểm tra xem việc cho bổ sung oméga-3 có lợi đối với các người già (thường giảm ăn các thức ăn có oméga-3) hay không. “ Nhưng hiện giờ, chúng tôi không thể nói với các lão niên là cần gia tăng đáng kể các thức ăn có oméga-3 ”, Cathérine Féart đã phát biểu như thế.
Cần nhắn lại rằng các oméga-3 thuộc loại các acide béo polyinsaturé, thiết yếu cho cơ thể. Và cơ thể chỉ có thể chế tạo ra chúng với số lượng nhỏ từ các chất tiền thân. Đặc biệt từ dầu thực vật, của cây cải dầu và đậu nành. Ngược lại, cá mỡ hoang dã (sardine, cá thu, cá ngừ và cá hồi) chứa oméga-3 với nồng độ cao. Nguồn : LE FIGARO (28/5/2008)
4/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN : NHỮNG LỢI THẾ CỦA ROBOT HÓA ĐIỀU TRỊ BẮNG SIÊU ÂM
Giáo sư Guy Vallancien, trưởng khoa niệu của Institut mutualiste Montsouris giải thích những lợi ích của điều trị bằng siêu âm, ngày nay được thực hiện bởi hệ thống robot hóa, được điều khiển bởi máy vi tính.

Hỏi : Tần số gây bệnh của ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) hiện nay?
G.S Guy Vallancien : Ung thư này ngày nay đã trở nên thường xảy ra hơn cả : người ta thống kê được 62.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp (so với 50.000 ung thư vú) ! và càng ngày càng thường xảy ra ở những người dưới 60 tuổi.
Hỏi: Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những giai đoạn khác nhau của căn bệnh ung thư này?
G.S G.V. Đối với các ung thư khu trú, chúng ta có nhiều phép điều trị : cắt bỏ tiền liệt tuyến bằng một kỹ thuật nội soi vi xâm nhập (une technique mini-invasive coelioscopique) ; curiethérapie với cắm các hạt phóng xạ (grains radioactifs) trong tuyến tiền liệt, phóng xạ trị liệu ngoài (radiothérapie externe) và kỹ thuật siêu âm điều tiêu (technique des ultrasons focalisés). Những phép điều trị khác đang còn trong thử nghiệm, nhưng với một thời gian nhìn lại chưa được đầy đủ.
Khi ung thư, tại chỗ, đã vượt khỏi tiền liệt tuyến, phóng xạ trị liệu pháp là điều trị chuẩn, nhưng phẫu thuật, trong một vài trường hợp, còn có thể có hiệu quả. Một điều trị kháng hormone (thérapie anti-hormonale) thường được liên kết.
Trong những trường hợp ung thư di căn, điều trị vẫn là liệu pháp hormone (hormonethérapie), được tiêm dưới da, trong cơ hay cả bằng đường miệng. Hóa học trị liệu pháp bắt đầu chứng tỏ một hiệu quả nào đó với họ các taxols .
Tất cả các điều trị này, không có ngoại lệ, có nguy cơ mang lại những tác dụng phụ, như bất lực hay són tiểu, trong một số các trường hợp, ngày nay ngày càng ít.
Hỏi : Ông có thể giải thích nguyên tắc của liệu pháp vi xâm nhập cổ điển bằng siêu âm (la thérapie mini-invasive par ultrasons) ?

G.S G.V. Phép trị liệu này đã được hiệu chính ở Lyon, trong khoa của G.S Dubermand, bởi B.S Albert Gelet (cộng tác với nhóm Inserm U556). Nguyên tắc của liệu pháp này (thời gian từ một giờ rưởi đến hai giờ và được thực hiện dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát) là sử dụng các siêu âm có tần số cao để làm nóng và tiêu diệt các mô ung thư. Phương thức cổ điển gồm hai giai đoạn.Trong giai đoạn đầu, phẫu thuật viên đưa một ống thông vào trực tràng của bệnh nhân để xác định, nhờ một màn siêu âm (écran échographique), những giới hạn của tuyến tiền liệt và thể tích cần điều trị. Sau đó, một ống thông khác, lần này gồm có một máy phát siêu âm có cường độ rất cao, tập trung nhiệt (từ 80 đến 100 độ C) trên một vùng 20 mm chiều cao và 2 mm chiều rộng, đảm bảo điều trị.Với phương thức cổ điển này, suốt trong quá trình can thiệp, động tác của thầy thuốc khoa niệu được hướng dẫn trên màn ảnh , nhờ một hệ thống hình ảnh ghép với máy phát siêu âm. Một ống thông đường tiểu sau đó được đặt trong 24 đến 48 giờ, để tránh bí tiểu. Ngày sau khi ống thông được rút đi, bệnh nhân có thể rời bệnh viện. Kỹ thuật này, không đau đớn, cho phép bình phục rất nhanh chóng.
Hỏi : Điều trị mới bằng siêu âm với robot hóa là thế nào ?
G.S GV. Trước hết, chính cũng ống thông cho phép xác định bằng siêu âm vùng cần điều trị và sau đó, qua ống thông này làm hội tụ các chùm siêu âm có cường độ cao, nhằm nhắm mục tiêu các tế bào ung thư cần phá hủy. Với phương thức mới này, thể tích của tiền liệt tuyến được tái tạo theo 3 kích thước trên màn ảnh siêu âm. Thiết bị, được điều khiển bởi máy vi tính, thực hiện sự phá hủy các mô bị thương tổn với một độ chính xác từng milimet, gìn giữ các vùng chung quanh. Máy được sử dụng, Ablatherm, xê dịch một cách tự động : thầy thuốc khoa niệu sau khi đã xác định bằng marqueur, thể tích của tiền liệt tuyến cần điều trị, sẽ không còn có động tác gì khác để làm nữa. Phương thức mới này, rất đáng tin cậy, độc lập với sự khéo léo của nhà phẫu thuật.

Hỏi : Những ưu điểm của tiến bộ kỹ thuật này ?
G.S GV. Một tiến bộ đầu tiên là nhìn thấy phép điều trị đang được thực hiện.Tiến bộ khác : thầy thuốc khoa niệu thực hiện thao tác, nhờ sự chính xác cực kỳ và nhờ thời gian ngắn ngủi của các “ phát bắn ” siêu âm, đảm bảo điều trị theo nhu cầu (“ à la carte ”) ( thích nghi điều trị tùy theo sự lan rộng của ung thư).
Hỏi : Những kết quả thu được với kỹ thuật robot hóa này ?

G.S GV. Theo một công trình nghiên cứu được công bố trên “ European Urology ”, người ta thống kê được gần 80 trường hợp lành bệnh trong 5 năm. Các hậu quả tai hại của chứng són tiểu là thấp, và vấn đề bất lực tùy thuộc vào tình trạng sinh dục trước đây của bệnh nhân.Trong trường hợp tái phát, có thể lập lại điều trị, đây không phải là trường hợp đối với phóng xạ trị liệu pháp hay curie- thérapie.
Hỏi : Những chỉ định chính của phương pháp robot hóa mới nhất này?

G.S GV. Phương pháp này được chỉ định để điều trị các tuyến tiền liệt có thể tích trung bình hoặc nhỏ, dưới 50 cm3 ( nhưng với một phép điều trị bằng hormone tạm thời, thường có thể làm giảm thể tích của những tuyến tiền liệt lớn). Nói chung người ta dành phương thức điều trị này cho những người trên 70 tuổi, bởi vì ít hung bạo hơn ngoại khoa và curiethérapie. Người ta cũng có thể dùng kỹ thuật này trong trường hợp phóng xạ trị liệu pháp bị thất bại.
Nguồn: PARIS MATCH (19/6-25/6/2008)
5/ CHỨNG BÉO PHÌ Ở TUỔI THIẾU NIÊN VÀ TỶ LỆ TỬ VONG Ở TUỔI TRUNG NIÊN

Tone Bjorge (Đại học Bergen, Na Uy) và nhóm nghiên cứu của ông đã đo lường tỷ lệ tử vong của một nhóm gần 230.000 người Na Uy, được theo dõi bắt đầu từ tuổi thiếu niên (adolescence) cho đến tuổi trưởng thành. Các tác giả đã chứng nhận rằng các người đã bị béo phì hay tăng thể trọng, có nguy cơ bị chết vì một bệnh tim 3-4 lần nhiều hơn trong thời gian theo dõi. Tỷ lệ tử vong do ung thư đại tràng hay do vấn đề hô hấp như hen phế quản và khí phế quản (emphysème) là 2 đến 3 lần cao hơn so với tỷ lệ tử vong của những người có một trọng lượng bình thường suốt trong thời kỳ thiếu niên. Bjorge giải thích rằng đến mức độ nào, chính chứng béo phì ở tuổi thiếu niên gây nên nguy cơ tử vong là điều không được biết rõ. Những người bị tăng thể trọng trong thời kỳ niên thiếu, trong hầu hết các trường hợp, vẫn giữ trọng lượng này khi lớn lên. Dẫu sao đi nữa, các tác giả cho rằng các công trình của họ chứng tỏ lợi ích của sự phòng ngừa tình trạng gia tăng thể trọng và béo phì nơi các thiếu niên. Suốt trong thời kỳ theo dõi của nhóm được nghiên cứu (đến tuổi trung bình 52 năm), 9650 trong số 227.000 người của công trình nghiên cứu đã bị chết. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (20/6/2008)
6/ ÁNH SÁNG VÀ SỰ SUY THOÁI TÂM THẦN CỦA NGƯỜI GIÀ

Sự tiếp xúc với ánh sáng làm chậm lại sự suy thoái tâm thần (dégradation mentale) và các triệu chứng sa sút trí tuệ nơi các người già. Ánh sáng, liên kết với mélatonine cũng cải thiện giấc ngủ. Đó là những phát biểu của Rixt Riemersma-van der Lek (Viện khoa học thần kinh Amsterdam, Hoà Lan) và nhóm nghiên cứu của ông. Các tác giả đã thực hiện một công trình nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2004, để biết xem một sự tiếp xúc với ánh sáng được kéo dài một cách nhân tạo và mélatonine, hai yếu tố quan trọng nhất làm đồng bộ nhịp thức/ngủ, có khả năng kềm hãm sự thoái bộ của các chức năng nhận thức (fonctions cognitives) và không nhận thức nơi các người già hay không. Các nhà nghiên cứu đã đưa vào trong công trình của họ, 189 các lão ông thường trú trong những nhà dưỡng lão của Hòa Lan. Tuổi trung bình của họ là 85,5 tuổi ; 87% bị chứng sa sút trí tuệ. Các tác giả đã chứng nhận rằng một sự tiếp xúc bổ sung với ánh sáng, nếu cần, kết hợp với mélatonine, có một tác dụng thuận lợi không những lên sự suy thoái tinh thần, lên các triệu chứng trầm cảm, mà còn lên cả sự suy thoái vật lý. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (20/6/2008)
7/ NGỪNG HÚT THUỐC : KHÔNG BAO GIỜ QUÁ SỚM HOẶC QUÁ MUỘN
Một người nghiện thuốc lá ngừng hút thuốc, sẽ thấy nguy cơ tử vong do bệnh động mạch vành hay do bệnh mạch máu khác, giảm một cách nhanh chóng. Chính đó là kết luận của một phân tích mới những kết quả của Nurses’ Health Study, đã được công bố trước đây trong Jama. Mặc dầu công trình nghiên cứu này chỉ bao gồm những phụ nữ, các tác giả, dưới sự lãnh đạo của Stacey Kenfield (Havard Medical School, Boston) cho rằng những kết luận của họ có thể được loại suy cho các ông, có một profil nghiện thuốc tương tự. 65% mối lợi có được trên tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành và 42% mối lợi về tỷ lệ tử vong mạch máu não, đã có được trong vòng 5 năm sau khi ngừng hút thuốc.

Do đó tác dụng có hại của thuốc lá có thể đảo ngược một phần. Trái lại không bao giờ quá muộn để ngừng hút thuốc. Đối với vài nguyên nhân tử vong, tốc độ giảm chậm hơn sau khi ngừng hút thuốc. Do đó, ta cũng có thể xác nhận rằng không bao giờ quá sớm để ngừng hút thuốc.Theo các tác giả, cần phải khuyến khích những người nghiện thuốc lá, ngừng hút thuốc mỗi khi có cơ hội.Và bởi vì sẽ không bao giờ có thể ngăn cản tất cả mọi người hút thuốc, nên phải làm sao cho chứng nghiện thuốc lá bắt đầu càng muộn càng hay. Càng bắt đầu hút thuốc sớm, thì nguy cơ hút thuốc trở nên đều đặn càng cao hơn, và các khả năng cai thuốc càng thấp hơn, Kenfield đã giải thích như vậy. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (20/6/2008)
8/ ĐÀN ÔNG VÀ PHỤ NỮ KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRƯỚC CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Trong các nước công nghiệp hoá, mỗi năm, 0,2 % dân chúng sẽ có một tai biến mạch máu não lần đầu tiên, và chỉ 6% sẽ hồi phục lại hoàn toàn.Trong khi đàn ông và phụ nữ không bình đẳng với nhau trước nguy cơ bị tai biến mạch máu não, thì những khác nhau về giống tính cũng được thể hiện trong quá trình hồi phục. Các phụ nữ không sống sót tai biến mạch máu não tốt như đàn ông, còn đàn ông thì trả giá đắt cho các lối sống ít lành mạnh của mình (hút thuốc lá, rượu...) và việc thiếu thông tin về các nguy cơ mà họ gặp phải. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha ở hội nghị mới đây của Hiệp hội thần kinh học châu Âu, được tổ chức ở Nice.
Thật vậy, Giáo sư Patricia Martinez-Sanchez và các đồng nghiệp đã xác định rõ rằng không chỉ có các yếu tố nguy cơ đã được biết đến, như cao huyết áp, bệnh đái đường, chứng nghiện thuốc lá, rung nhĩ hay các nồng độ bất bình thường của lipide trong máu, không giống nhau giữa hai giới tính, mà chính cả giới tính cũng có một ảnh hưởng đáng kể lên nguy cơ bị tai biến mạch máu não và những khả năng hồi phục.

Một công trình nghiên cứu được thực hiện trên 325 bệnh nhân đã bị một tai biến thiếu máu cục bộ não (accident ischémique) đã cho thấy rằng điều trị bằng thuốc làm tan huyết khối (traitement thrombolytique) giúp phụ nữ ít hơn nhiều so với đàn ông : 3 tháng sau, chỉ 30% đàn ông còn bị các biến đổi nghiêm trọng so với, 40% nơi phụ nữ.
Trong một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện trên 1673 bệnh nhân bị một tai biến thiếu máu cục bộ não cấp tính, các nhà nghiên cứu đã ngạc nhiên thấy rằng một vài trong những yếu tố nguy cơ có thể tránh được đã thường được phát hiện sau đó và điều này ở đàn ông nhiều hơn so với phụ nữ : chỉ 4,5% các phụ nữ đã hay biết sau khi bị tai biến mạch máu não rằng họ bị cao huyết áp, so với gấp đôi ở đàn ông (9%), và 1,5% các phụ nữ vào lúc đó đã khám phá ra rằng họ bị một bệnh đái đường, so với 4,4% ở đàn ông. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN (24/6/2008)
9/ VITAMINE D, MỘT THUỐC CẢI LÃO HOÀN ĐỒNG?

Những nồng độ không đầy đủ vitamine D được liên kết với một tỷ lệ tử vong cao hơn. Hẳn là vitamine D đã không ngừng tiết lộ các đặc tính của mình cho giới khoa học.
Trong khi vitamine D đã gây sự chú ý về các tác dụng có lợi của nó trên sự xảy ra nhiều bệnh khác nhau, bây giờ đây những nồng độ không đầy đủ của vitamine quý báo này sẽ liên kết với một tỷ lệ tử vong cao hơn. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong Archives of Internal Medicine của JAMA.
Những nghiên cứu trước đây đã phát hiện một mối liên hệ giữa một nồng độ thấp vitamine D và sự xuất hiện những bệnh lý như ung thư, đái đường, béo phì, cao huyết áp hay cả chứng trầm cảm. Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu của Đại học Graz ở Áo gợi ý rằng một nồng độ không đầy đủ của vitamine D được liên kết với một nguy cơ tử vong lớn hơn. Và đặc biệt là nơi những người bị bệnh tim mạch.
Được thực hiện trên 3.000 bệnh nhân với tuổi trung bình 62, công trình nghiên cứu đã cần khoảng 8 năm theo dõi. Theo BS Harald Dobnig, người đứng đầu công trình nghiên cứu, mối liên hệ giữa các nồng độ vitamine D và các tử vong do các bệnh tim mạch này là đặc biệt rõ nét. Suốt trong thời kỳ nghiên cứu, 737 bệnh nhân bị chết, trong đó 6,2% vì những vấn đề tim mạch. Các tác giả xác nhận rằng 307 người tử vong có những nồng độ vitamine D thấp nhất, so sánh với 103 tử vong của những bệnh nhân với những nồng độ vitamine D cao nhất.
Làm sao vitamine của ánh sáng mặt trời tác động lên những vấn đề tim và những nguyên nhân tử vong khác? Y học chưa biết điều đó nhưng vitamine D có lẽ đóng một vai trò chủ yếu trong hệ miễn dịch.

Theo Archives of Internal Medicine, 50% những người trưởng thành trên 50 tuổi có một nồng độ vitamine D rất thấp. Những lý do của một sự thiếu hụt như thế ? Việc giảm những hoạt động ngoài trời, sự ô nhiễm không khí và sự lão hóa là những câu trả lời.
Nguồn chính yếu của vitamine quý báu đối với sức khỏe này là một sự tiếp xúc từ 10 đến 15 phút mỗi ngày với ánh sáng mặt trời. Và nếu thời tiết không cho phép, thì cá mỡ trong bữa ăn sẽ luôn luôn có thể bù đắp nỗi khao khát vitamine của ánh sáng mặt trời này của chung ta.
Nguồn : LE SOIR (25/6/2008)
10/ CÓ THỂ UỐNG BAO NHIÊU CAFÉ MỖI NGÀY?

Các công trình nghiên cứu khoa học nhất trí cho rằng một sự tiêu thụ 400mg caféine mỗi ngày là không có tác dụng độc hại đối với sức khỏe. Điều này tương ứng với 4 đến 5 tách café mỗi ngày.Tuy nhiên có hai ngoại lệ, trong thời kỳ có thai và trong lúc cho con bú, là những thời kỳ mà tốc độ thoái biến của caféine bị chậm lại. Một vài công trình nghiên cứu gợi ý rằng một sự tiêu thụ quan trọng caféine có thể làm gia tăng nguy cơ sẩy thai. Vì lý đó thận trọng, người ta sẽ khuyên không nên vượt quá 2 tách café mỗi ngày trong thời kỳ thai nghén.
Nguồn: CŒUR ARTERES (6/2008)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/6/2008 )

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học