 |
Thời
Sự Y Học số 83
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÁC THẦY THUỐC KÊU GỌI
SỬ DỤNG THẬN TRỌNG NHỮNG ĐIỆN THOẠI CẦM TAY
Khi nào chúng ta sẽ biết được một cách chắc chắn rằng, hàng trăm triệu
người đang sử dụng tích cực các điện thoại cầm tay, sẽ bị hay không một
mối nguy cơ về mặt y tế? Từ khi xuất hiện phương cách liên lạc bằng dây
nói này, cuộc tranh cãi đã không ngừng tái diễn. Hôm nay, cuộc tranh cãi
lại được khởi động sau một lời kêu gọi long trọng, yêu cầu phải thận trọng
trong việc sử dụng các điện thoại cầm tay. Lời kêu gọi này đuợc đưa ra
trong các cột báo của Journal du dimache, ngày 15/ 6, bởi hai mươi nhân
vật quan trọng của Pháp và những nước khác thuộc giới khoa học và ung
thư, trong đó có giáo sư Henri Pujol, cựu chủ tịch của Liên đoàn quốc
gia chống ung thư, và Lucien Israel.
Lo ngại về những hậu quả ung thư lên mô não bộ có thể xảy ra do việc sử
dụng tích cực các máy điện thoại cầm tay của những người sử dụng, các
người ký tên lời kêu gọi này đã lập ra một danh sách các biện pháp thận
trọng đơn giản, theo họ, cần được thực hiện trong lúc chờ đợi một đánh
giá chính xác và khách quan các mối nguy cơ. Như là không nên cho phép
các trẻ dưới 12 tuổi sử dụng điện thoại cầm tay. Lời kêu gọi cũng khuyên
cần giữ điện thoại cách xa thân mình một khoảng cách một mét trong khi
nói chuyện, bằng cách dùng đến một cái loa
Những người ký lời kêu gọi cũng cho là cần thiết, tránh
mang điện thoại theo mình chừng nào có thể được. Sau cùng họ gợi ý, tốt
hơn là nói chuyện bằng SMS và đừng sử dụng máy khi lực của các tín hiệu
bị yếu và khi di chuyển trên xe hơi hoặc trên tàu hỏa.
Những lời khuyến nghị này được đưa ra nhân danh nguyên tắc thận trọng
và dựa trên vài ấn bản khoa học bị tránh cãi, được công bố mới đây.
TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG LIỀU LƯỢNG NHỎ
“ Trên những điểm chính yếu, tôi nhất trí với sự phân tích
của những người ký tên lời kêu gọi phải thận trọng này, giáo sư Elisabeth
Cardis, thuộc Trung Tâm nghiên cứu dịch tễ học môi trường (Barcelone),
người điều hành công trình nghiên cứu dịch tễ học quốc tế Interphone,
đã tuyên bố như vậy. Tuy nhiên, phải biết rằng những kết quả của vài công
trình nghiên cứu lên các tác dụng sinh học hiện đang bị đặt lại vấn đề.
Nhưng trong khi thiếu những kết quả cuối cùng, và vì một số công trình
nghiên cứu, mặc dầu giới hạn, gợi ý một tác dụng khả dĩ của tần số phóng
xạ (radiofréquence), tôi cho rằng những thận trọng là cần thiết và cần
phải giới hạn việc sử dụng các điện thoại cầm tay nơi đối tượng trẻ tuổi
nhất ”
Từ hơn 4 năm nay, người ta chờ đợi những kết luận của công
trình nghiên cứu Interphone, được tiến hành trong 13 nước dưới sự chỉ
đạo của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư. Công trình nghiên cứu
này đã được khởi động vào năm 2000, nhưng các nhà nghiên cứu đã gặp những
khó khăn về kỹ thuật trong sự đánh giá tác động của những liều lượng thấp.
Trong thực tế, họ đã nhận diện nhiều ngàn trường hợp ung thư (các khối
u não bộ, của dây thần kinh thính giác và của tuyến mang tai) trước khi
tìm cách đánh giá sự hiện diện của một nguy cơ. Nguồn :
LE MONDE (17/6/2008)
2/ ĐẾM TÓC RỤNG ĐỂ TIÊN ĐOÁN BỆNH SÓI ĐẦU
Một trắc nghiệm đơn giản cho phép tiên đoán nguy cơ trở nên bị sói đầu
(calvitie).
Chúng ta có thể tiên đoán được nguy cơ sẽ bị sói đầu hay
không? Đàn ông vì lý do hormone, có một khuynh hướng lớn hơn phụ nữ, sẽ
bị rụng tóc khi đến tuổi 40, đôi khi còn sớm hơn nhiều và không có cách
nào để đoán trước là ai sẽ trở nên sói đầu khi tuổi tác gia tăng. Carina
Wasko, nhà nghiên cứu nữ của Baylor College of Medicine (Texas), vừa nghiên
cứu vấn đề này, và đã cùng các đồng nghiệp của cô, hiệu chính một phương
pháp chính xác cho phép tiên đoán sự rụng tóc nơi một người trưởng thành
(đàn ông hoặc đàn bà). Điều này có thể trở nên một công cụ rất hữu ích
cho các thầy thuốc khoa da, để tiên đoán sự xuất hiện của chứng sói đầu
(calvitie) và do đó thực hiện những điều trị nội khoa hiệu quả nhằm làm
chậm lại căn bệnh này. “Ngày nay, không có phương
pháp tiêu chuẩn hóa để định lượng các sợi tóc bị mất hàng ngày ”. B.S
Wasko đoan chắc như vậy. Ông công bố các kết quả của ông ngày 16/6 trong
Archives of Dermatology, một tạp chí khoa học của Hoa Kỳ.
New England Journal of Medicine, năm 1999, nhắc lại rằng
“một ngày có đến 100 sợi tóc bị rụng ”, nhưng ý niệm rất ăn sâu vào đầu
óc các chuyên gia về tóc này chỉ căn cứ trên sự ước đoán cho rằng một
da đầu (scalp) chứa trung bình 100.000 hành tóc (bulbe de cheveu) và 10%
trong số các sợi tóc này ở giai đoạn cuối của đời sống.
Ý tưởng này không chỉ rõ một chút nào là rụng tóc có vẫn xảy ra thường
xuyên khi chúng ta lớn tuổi và sự rụng tóc có giống hệt nhau ở đàn ông
và đàn bà hay không. Phải biết rằng sự tăng trưởng của tóc là có chu kỳ
và rằng mỗi chu kỳ kéo dài nhiều năm : giai đoạn tăng trưởng (anagène)
kéo dài từ hai đến sáu năm.Tiếp theo là giai đoạn thoái biến (catagène)
kéo dài từ hai đến ba tuần và sau hết là giai đoạn nghỉ ngơi (télogène)
kéo dài từ hai đến ba tháng và chấm dứt bởi sự rụng tóc. Hành tóc (bulbe)
trong da đầu sau đó lại bắt đầu công việc và một chu kỳ được lập lại.
Thời gian của sự tăng trưởng dĩ nhiên xác định độ dài của sợi tóc và chính
thế tích của hành tóc quyết định độ mịn cuối cùng của sợi tóc.
HAI THỨ THUỐC ĐỂ LÀM CHẬM
LẠI SỰ RỤNG TÓC
Cùng với nhóm nghiên cứu, BS Wasko đã nghiên cứu sự rụng tóc của 60 người
mạnh khỏe, một nửa trong số những người này ở lứa tuổi từ 20 đến 40, còn
nửa kia từ 41 đến 60. Những người này không có một triệu chứng sói đầu
(calvitie) nào hoặc không bị rụng tóc khu trú (alopécie). Người ta phân
cho các người tham gia, cùng một chiếc lược và người ta yêu cầu họ gội
đầu 3 buổi sáng liên tiếp với cùng thuốc gội đầu. Ngày thứ tư, các người
tham dự phải chải tóc về phía trước, trong 60 giây, trên một chiếc khăn
trắng. Sau đó họ phải đếm các sợi tóc bị rụng và lặp lại trắc nghiệm 3
ngày liên tiếp. 6 tháng sau, các người tham dự phải lặp lại cùng thủ tục.
Một mặt, các kết quả cho thấy rằng những người tham gia trẻ tuổi nhất
(20 đến 40 tuổi) mất từ 0 đến 70 sợi tóc mỗi ngày, hoặc trung bình 10,2
sợi tóc. Những người già nhất (41 đến 60 tuổi) đã mất từ 0 đến 43 sợi
tóc mỗi ngày. Mặc dầu trung bình tóc rụng giống hệt nhau trong hai nhóm,
nhưng người ta nhận thấy rằng một vài người trong nhóm những người trẻ
tuổi nhất đã có thể rụng tóc nhiều hơn nhiều so với các người già. Đối
với cùng người tham gia, dầu ở lứa tuổi nào, trắc nghiệm được thực hiện
cách nhau 6 tháng, trung bình cho những kết quả tương tự nhau.
Từ những đo lường được thực hiện cách nhau 6 tháng này,
BS Wasko đã có thể cho thấy rằng khi các người tham gia mất hơn 50 sợi
tóc mỗi ngày, cuối cùng những người này sẽ bị một chứng sói đầu quan trọng.Vậy
sự đếm tóc rụng mỗi phút (décompte minute) là một công cụ thực tiễn và
khách quan.
Hai loại thuốc được cho phép lưu hành để làm chậm lại sự rụng tóc dần
dần và cải thiện sự che phủ da đầu. Chúng không có hiệu quả đối với những
trường hợp sói đầu ở giai đoạn tiến triển, nhưng finastéride (Propecia),
thuốc viên, uống 1 mg mỗi ngày, có tác dụng phong bế các enzyme phá hủy
testostérone, và Minoxidil thuốc nước (một thuốc chống cao huyết áp có
tác dụng kéo dài thời gian tăng trưởng của sợi tóc) có một hiệu quả nào
đó. Trắc nghiệm mới, nhờ phát hiện sớm hơn sự rụng tóc báo hiệu sự xuất
hiện của chứng sói đầu, sẽ cho phép bắt đầu các điều trị sớm hơn. Nguồn
: LE FIGARO (18/6/2008)
3/ CÁC
NGƯỜI GIÀ : OMEGA-3 CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM.
Một công trình nghiên cứu của Pháp chỉ rõ rằng một chế
độ ăn uống giàu oméga-3 sẽ ngăn ngừa nguy cơ bị trầm cảm (dépression)
nơi các người già.
Vào đầu những năm 2000, một cuộc tranh luận kịch liệt về
những lợi ích đối với sức khỏe của các oméga-3, các acide béo được đặc
biệt tìm thấy trong cá, đã làm sôi nổi nước Pháp. Đặc biệt, lợi ích của
các chất mỡ này trong việc ngăn ngừa và điều trị những người bị bệnh trầm
cảm nhẹ đã được cổ xướng bởi vài người và bị tranh cãi bởi những người
khác.
Các nhà nghiên cứu của Inserm nghiên cứu vấn đề này, vừa cho thấy rằng,
từ một công trình nghiên cứu quan sát trên gần 1.400 lão niên, một nồng
độ cao trong máu của acide béo oméga có chuỗi dài được gọi là EPA (acide
eicosapentaénoique) được liên kết với một tần suất ít lớn hơn các triệu
chứng trầm cảm nơi những người này. Trong khi đó, ngược lại, các người
bị trầm cảm có những nồng độ thấp EPA. Vấn đề còn cần phải biết xem là
có phải chính bởi vì các lão niên này bị trầm cảm nên có một nồng độ EPA
thấp hay chính do nồng độ của acide béo thiết yếu này thấp (do chế độ
thức ăn nghèo oméga-3) mà họ bị những triệu chứng trầm cảm. Công trình
nghiên cứu, được công bố trong American Journal of Clinical Nutrition
ngày 13/5 vừa qua không cho phép nói về điều đó vào giờ phút này.
Mục tiêu của dự án nghiên cứu do Pascale Barberger-Gateau (giám đốc của
phòng dịch tễ học về dinh dưỡng ở Bordeaux) là nghiên cứu tác động của
tình trạng dinh dưỡng acide béo và các chất chống oxy hóa (antioxydant)
lên sự lão hóa của não bộ (suy thoái tinh thần và sa sút trí tuệ) và lên
các rối loạn về khí chất (chứng trầm cảm). Trong công trình nghiên cứu,
các tác giả đã khảo sát mối liên hệ giữa nồng độ acide béo trong máu và
tầm quan trọng của các triệu chứng trầm cảm.
1.390 người, tuổi trung bình 75, được theo dõi ở Bordeaux,
đã chấp nhận cho lấy máu đều đặn mỗi hai năm, nhằm định lượng 12 acide
béo khác nhau. Trong cùng thời gian, các nhà tâm lý học đã tìm cách nhận
diện sự hiện diện của chứng trầm cảm hay các tiền sử bị trầm cảm và mức
độ nghiêm trọng của chúng, nhờ bảng câu hỏi. Theo kết quả, một oméga đặc
biệt, acide eicosapentaénoique (EPA) đã gây sự chú ý của các nhà khoa
học. Họ đã khám phá ra rằng, các người bị trầm cảm có các nồng độ EPA
trong máu thấp hơn so với những người không hề có vấn đề trầm cảm.
“Oméga-3 này là thành phần của các màng tế bào, đặc biệt
là trong các neurone của não bộ”, Catherine Féart, một trong các nhà nghiên
cứu đã giải thích như vậy. “Người ta càng có nhiều oméga-3, những trao
đổi não bộ sẽ càng được thực hiện dễ dàng hơn”. Có thể nói EPA làm dễ
các liên lạc giữa các neurone.
CÁ HỒI HAI LẦN MỖI TUẦN
“ Người ta có thể đặt giả thuyết rằng oméga-3 này đóng một vai trò trong
chuyển hóa của sérotonine, can dự trong chứng trầm cảm. Một giải thích
khả dĩ khác : trong trường hợp trầm cảm, có một tình trạng viêm thần kinh
(neuro-inflammation) khả dĩ được điều hòa bởi các oméga-3 này. Để hiểu
rõ hơn những kết quả đầu tiên này, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục nghiên
cứu và đo các nồng độ acide béo đồng thời trong màng các hồng cầu và trong
huyết thanh . Bởi vì các nồng độ huyết thanh phản ảnh ăn uống 15 ngày
trước đó, trong khi những nồng độ của các hồng cầu là bằng cớ lâu dài
hơn của thức ăn được ăn vào.
Giai đoạn hai, các nghiên cứu sẽ cố gắng kiểm tra xem việc
cho bổ sung oméga-3 có lợi đối với các người già (thường giảm ăn các thức
ăn có oméga-3) hay không. “ Nhưng hiện giờ, chúng tôi không thể nói với
các lão niên là cần gia tăng đáng kể các thức ăn có oméga-3 ”, Cathérine
Féart đã phát biểu như thế.
Cần nhắn lại rằng các oméga-3 thuộc loại các acide béo polyinsaturé, thiết
yếu cho cơ thể. Và cơ thể chỉ có thể chế tạo ra chúng với số lượng nhỏ
từ các chất tiền thân. Đặc biệt từ dầu thực vật, của cây cải dầu và đậu
nành. Ngược lại, cá mỡ hoang dã (sardine, cá thu, cá ngừ và cá hồi) chứa
oméga-3 với nồng độ cao. Nguồn : LE FIGARO (28/5/2008)
4/ UNG
THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN : NHỮNG LỢI THẾ CỦA ROBOT HÓA ĐIỀU TRỊ BẮNG SIÊU ÂM
Giáo sư Guy Vallancien, trưởng khoa niệu của Institut mutualiste Montsouris
giải thích những lợi ích của điều trị bằng siêu âm, ngày nay được thực
hiện bởi hệ thống robot hóa, được điều khiển bởi máy vi tính.
Hỏi : Tần số gây bệnh của ung thư tiền
liệt tuyến (cancer de la prostate) hiện nay?
G.S Guy Vallancien : Ung thư này ngày nay đã trở
nên thường xảy ra hơn cả : người ta thống kê được 62.000 trường hợp mới
mỗi năm ở Pháp (so với 50.000 ung thư vú) ! và càng ngày càng thường xảy
ra ở những người dưới 60 tuổi.
Hỏi: Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi
những giai đoạn khác nhau của căn bệnh ung thư này?
G.S G.V. Đối với các ung thư khu trú, chúng ta có nhiều phép điều trị
: cắt bỏ tiền liệt tuyến bằng một kỹ thuật nội soi vi xâm nhập (une technique
mini-invasive coelioscopique) ; curiethérapie với cắm các hạt phóng xạ
(grains radioactifs) trong tuyến tiền liệt, phóng xạ trị liệu ngoài (radiothérapie
externe) và kỹ thuật siêu âm điều tiêu (technique des ultrasons focalisés).
Những phép điều trị khác đang còn trong thử nghiệm, nhưng với một thời
gian nhìn lại chưa được đầy đủ. Khi ung thư, tại
chỗ, đã vượt khỏi tiền liệt tuyến, phóng xạ trị liệu pháp là điều trị
chuẩn, nhưng phẫu thuật, trong một vài trường hợp, còn có thể có hiệu
quả. Một điều trị kháng hormone (thérapie anti-hormonale) thường được
liên kết.
Trong những trường hợp ung thư di căn, điều trị vẫn là
liệu pháp hormone (hormonethérapie), được tiêm dưới da, trong cơ hay cả
bằng đường miệng. Hóa học trị liệu pháp bắt đầu chứng tỏ một hiệu quả
nào đó với họ các taxols .
Tất cả các điều trị này, không có ngoại lệ, có nguy cơ
mang lại những tác dụng phụ, như bất lực hay són tiểu, trong một số các
trường hợp, ngày nay ngày càng ít.
Hỏi : Ông có thể giải thích nguyên tắc của liệu pháp
vi xâm nhập cổ điển bằng siêu âm (la thérapie mini-invasive par ultrasons)
?
G.S G.V. Phép trị liệu này đã được hiệu chính ở Lyon, trong
khoa của G.S Dubermand, bởi B.S Albert Gelet (cộng tác với nhóm Inserm
U556). Nguyên tắc của liệu pháp này (thời gian từ một giờ rưởi đến hai
giờ và được thực hiện dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát) là sử dụng các
siêu âm có tần số cao để làm nóng và tiêu diệt các mô ung thư. Phương
thức cổ điển gồm hai giai đoạn.Trong giai đoạn đầu, phẫu thuật viên đưa
một ống thông vào trực tràng của bệnh nhân để xác định, nhờ một màn siêu
âm (écran échographique), những giới hạn của tuyến tiền liệt và thể tích
cần điều trị. Sau đó, một ống thông khác, lần này gồm có một máy phát
siêu âm có cường độ rất cao, tập trung nhiệt (từ 80 đến 100 độ C) trên
một vùng 20 mm chiều cao và 2 mm chiều rộng, đảm bảo điều trị.Với phương
thức cổ điển này, suốt trong quá trình can thiệp, động tác của thầy thuốc
khoa niệu được hướng dẫn trên màn ảnh , nhờ một hệ thống hình ảnh ghép
với máy phát siêu âm. Một ống thông đường tiểu sau đó được đặt trong 24
đến 48 giờ, để tránh bí tiểu. Ngày sau khi ống thông được rút đi, bệnh
nhân có thể rời bệnh viện. Kỹ thuật này, không đau đớn, cho phép bình
phục rất nhanh chóng.
Hỏi : Điều trị mới bằng siêu âm với robot
hóa là thế nào ?
G.S GV. Trước hết, chính cũng ống thông cho phép xác định bằng siêu âm
vùng cần điều trị và sau đó, qua ống thông này làm hội tụ các chùm siêu
âm có cường độ cao, nhằm nhắm mục tiêu các tế bào ung thư cần phá hủy.
Với phương thức mới này, thể tích của tiền liệt tuyến được tái tạo theo
3 kích thước trên màn ảnh siêu âm. Thiết bị, được điều khiển bởi máy vi
tính, thực hiện sự phá hủy các mô bị thương tổn với một độ chính xác từng
milimet, gìn giữ các vùng chung quanh. Máy được sử dụng, Ablatherm, xê
dịch một cách tự động : thầy thuốc khoa niệu sau khi đã xác định bằng
marqueur, thể tích của tiền liệt tuyến cần điều trị, sẽ không còn có động
tác gì khác để làm nữa. Phương thức mới này, rất đáng tin cậy, độc lập
với sự khéo léo của nhà phẫu thuật.
Hỏi : Những ưu điểm của tiến bộ kỹ thuật
này ?
G.S GV. Một tiến bộ đầu tiên là nhìn thấy phép điều trị đang được thực
hiện.Tiến bộ khác : thầy thuốc khoa niệu thực hiện thao tác, nhờ sự chính
xác cực kỳ và nhờ thời gian ngắn ngủi của các “ phát bắn ” siêu âm, đảm
bảo điều trị theo nhu cầu (“ à la carte ”) ( thích nghi điều trị tùy theo
sự lan rộng của ung thư).
Hỏi : Những kết quả thu được với kỹ thuật robot hóa này
?
G.S GV. Theo một công trình nghiên cứu được công bố trên
“ European Urology ”, người ta thống kê được gần 80 trường hợp lành bệnh
trong 5 năm. Các hậu quả tai hại của chứng són tiểu là thấp, và vấn đề
bất lực tùy thuộc vào tình trạng sinh dục trước đây của bệnh nhân.Trong
trường hợp tái phát, có thể lập lại điều trị, đây không phải là trường
hợp đối với phóng xạ trị liệu pháp hay curie- thérapie.
Hỏi : Những chỉ định chính của phương pháp robot hóa
mới nhất này?
G.S GV. Phương pháp này được chỉ định để điều trị các tuyến
tiền liệt có thể tích trung bình hoặc nhỏ, dưới 50 cm3 ( nhưng với một
phép điều trị bằng hormone tạm thời, thường có thể làm giảm thể tích của
những tuyến tiền liệt lớn). Nói chung người ta dành phương thức điều trị
này cho những người trên 70 tuổi, bởi vì ít hung bạo hơn ngoại khoa và
curiethérapie. Người ta cũng có thể dùng kỹ thuật này trong trường hợp
phóng xạ trị liệu pháp bị thất bại.
Nguồn: PARIS MATCH (19/6-25/6/2008)
5/ CHỨNG BÉO PHÌ Ở TUỔI THIẾU NIÊN VÀ TỶ
LỆ TỬ VONG Ở TUỔI TRUNG NIÊN
Tone Bjorge (Đại học Bergen, Na Uy) và nhóm nghiên cứu
của ông đã đo lường tỷ lệ tử vong của một nhóm gần 230.000 người Na Uy,
được theo dõi bắt đầu từ tuổi thiếu niên (adolescence) cho đến tuổi trưởng
thành. Các tác giả đã chứng nhận rằng các người đã bị béo phì hay tăng
thể trọng, có nguy cơ bị chết vì một bệnh tim 3-4 lần nhiều hơn trong
thời gian theo dõi. Tỷ lệ tử vong do ung thư đại tràng hay do vấn đề hô
hấp như hen phế quản và khí phế quản (emphysème) là 2 đến 3 lần cao hơn
so với tỷ lệ tử vong của những người có một trọng lượng bình thường suốt
trong thời kỳ thiếu niên. Bjorge giải thích rằng đến mức độ nào, chính
chứng béo phì ở tuổi thiếu niên gây nên nguy cơ tử vong là điều không
được biết rõ. Những người bị tăng thể trọng trong thời kỳ niên thiếu,
trong hầu hết các trường hợp, vẫn giữ trọng lượng này khi lớn lên. Dẫu
sao đi nữa, các tác giả cho rằng các công trình của họ chứng tỏ lợi ích
của sự phòng ngừa tình trạng gia tăng thể trọng và béo phì nơi các thiếu
niên. Suốt trong thời kỳ theo dõi của nhóm được nghiên cứu (đến tuổi trung
bình 52 năm), 9650 trong số 227.000 người của công trình nghiên cứu đã
bị chết. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (20/6/2008)
6/ ÁNH SÁNG VÀ SỰ SUY THOÁI TÂM
THẦN CỦA NGƯỜI GIÀ
Sự tiếp xúc với ánh sáng làm chậm lại sự suy thoái tâm
thần (dégradation mentale) và các triệu chứng sa sút trí tuệ nơi các người
già. Ánh sáng, liên kết với mélatonine cũng cải thiện giấc ngủ. Đó là
những phát biểu của Rixt Riemersma-van der Lek (Viện khoa học thần kinh
Amsterdam, Hoà Lan) và nhóm nghiên cứu của ông. Các tác giả đã thực hiện
một công trình nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2004, để biết xem một sự
tiếp xúc với ánh sáng được kéo dài một cách nhân tạo và mélatonine, hai
yếu tố quan trọng nhất làm đồng bộ nhịp thức/ngủ, có khả năng kềm hãm
sự thoái bộ của các chức năng nhận thức (fonctions cognitives) và không
nhận thức nơi các người già hay không. Các nhà nghiên cứu đã đưa vào trong
công trình của họ, 189 các lão ông thường trú trong những nhà dưỡng lão
của Hòa Lan. Tuổi trung bình của họ là 85,5 tuổi ; 87% bị chứng sa sút
trí tuệ. Các tác giả đã chứng nhận rằng một sự tiếp xúc bổ sung với ánh
sáng, nếu cần, kết hợp với mélatonine, có một tác dụng thuận lợi không
những lên sự suy thoái tinh thần, lên các triệu chứng trầm cảm, mà còn
lên cả sự suy thoái vật lý. Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN
(20/6/2008)
7/ NGỪNG
HÚT THUỐC : KHÔNG BAO GIỜ QUÁ SỚM HOẶC QUÁ MUỘN
Một người nghiện thuốc lá ngừng hút thuốc, sẽ thấy nguy cơ tử vong do
bệnh động mạch vành hay do bệnh mạch máu khác, giảm một cách nhanh chóng.
Chính đó là kết luận của một phân tích mới những kết quả của Nurses’ Health
Study, đã được công bố trước đây trong Jama. Mặc dầu công trình nghiên
cứu này chỉ bao gồm những phụ nữ, các tác giả, dưới sự lãnh đạo của Stacey
Kenfield (Havard Medical School, Boston) cho rằng những kết luận của họ
có thể được loại suy cho các ông, có một profil nghiện thuốc tương tự.
65% mối lợi có được trên tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành và 42% mối
lợi về tỷ lệ tử vong mạch máu não, đã có được trong vòng 5 năm sau khi
ngừng hút thuốc.
Do đó tác dụng có hại của thuốc lá có thể đảo ngược một
phần. Trái lại không bao giờ quá muộn để ngừng hút thuốc. Đối với vài
nguyên nhân tử vong, tốc độ giảm chậm hơn sau khi ngừng hút thuốc. Do
đó, ta cũng có thể xác nhận rằng không bao giờ quá sớm để ngừng hút thuốc.Theo
các tác giả, cần phải khuyến khích những người nghiện thuốc lá, ngừng
hút thuốc mỗi khi có cơ hội.Và bởi vì sẽ không bao giờ có thể ngăn cản
tất cả mọi người hút thuốc, nên phải làm sao cho chứng nghiện thuốc lá
bắt đầu càng muộn càng hay. Càng bắt đầu hút thuốc sớm, thì nguy cơ hút
thuốc trở nên đều đặn càng cao hơn, và các khả năng cai thuốc càng thấp
hơn, Kenfield đã giải thích như vậy. Nguồn : LE JOURNAL
DU MEDECIN (20/6/2008)
8/ ĐÀN ÔNG VÀ PHỤ NỮ KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRƯỚC
CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Trong các nước công nghiệp hoá, mỗi năm, 0,2 % dân chúng sẽ có một tai
biến mạch máu não lần đầu tiên, và chỉ 6% sẽ hồi phục lại hoàn toàn.Trong
khi đàn ông và phụ nữ không bình đẳng với nhau trước nguy cơ bị tai biến
mạch máu não, thì những khác nhau về giống tính cũng được thể hiện trong
quá trình hồi phục. Các phụ nữ không sống sót tai biến mạch máu não tốt
như đàn ông, còn đàn ông thì trả giá đắt cho các lối sống ít lành mạnh
của mình (hút thuốc lá, rượu...) và việc thiếu thông tin về các nguy cơ
mà họ gặp phải. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu Tây
Ban Nha ở hội nghị mới đây của Hiệp hội thần kinh học châu Âu, được tổ
chức ở Nice.
Thật vậy, Giáo sư Patricia Martinez-Sanchez và các đồng nghiệp đã xác
định rõ rằng không chỉ có các yếu tố nguy cơ đã được biết đến, như cao
huyết áp, bệnh đái đường, chứng nghiện thuốc lá, rung nhĩ hay các nồng
độ bất bình thường của lipide trong máu, không giống nhau giữa hai giới
tính, mà chính cả giới tính cũng có một ảnh hưởng đáng kể lên nguy cơ
bị tai biến mạch máu não và những khả năng hồi phục.
Một công trình nghiên cứu được thực hiện trên 325 bệnh
nhân đã bị một tai biến thiếu máu cục bộ não (accident ischémique) đã
cho thấy rằng điều trị bằng thuốc làm tan huyết khối (traitement thrombolytique)
giúp phụ nữ ít hơn nhiều so với đàn ông : 3 tháng sau, chỉ 30% đàn ông
còn bị các biến đổi nghiêm trọng so với, 40% nơi phụ nữ.
Trong một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện trên 1673 bệnh nhân
bị một tai biến thiếu máu cục bộ não cấp tính, các nhà nghiên cứu đã ngạc
nhiên thấy rằng một vài trong những yếu tố nguy cơ có thể tránh được đã
thường được phát hiện sau đó và điều này ở đàn ông nhiều hơn so với phụ
nữ : chỉ 4,5% các phụ nữ đã hay biết sau khi bị tai biến mạch máu não
rằng họ bị cao huyết áp, so với gấp đôi ở đàn ông (9%), và 1,5% các phụ
nữ vào lúc đó đã khám phá ra rằng họ bị một bệnh đái đường, so với 4,4%
ở đàn ông. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN (24/6/2008)
9/ VITAMINE D, MỘT THUỐC CẢI LÃO HOÀN ĐỒNG?
Những nồng độ không đầy đủ vitamine D được liên kết với
một tỷ lệ tử vong cao hơn. Hẳn là vitamine D đã
không ngừng tiết lộ các đặc tính của mình cho giới khoa học.
Trong khi vitamine D đã gây sự chú ý về các tác dụng có
lợi của nó trên sự xảy ra nhiều bệnh khác nhau, bây giờ đây những nồng
độ không đầy đủ của vitamine quý báo này sẽ liên kết với một tỷ lệ tử
vong cao hơn. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được
công bố trong Archives of Internal Medicine của JAMA.
Những nghiên cứu trước đây đã phát hiện một mối liên hệ
giữa một nồng độ thấp vitamine D và sự xuất hiện những bệnh lý như ung
thư, đái đường, béo phì, cao huyết áp hay cả chứng trầm cảm. Trong công
trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu của Đại học Graz ở Áo gợi ý rằng
một nồng độ không đầy đủ của vitamine D được liên kết với một nguy cơ
tử vong lớn hơn. Và đặc biệt là nơi những người bị bệnh tim mạch.
Được thực hiện trên 3.000 bệnh nhân với tuổi trung bình
62, công trình nghiên cứu đã cần khoảng 8 năm theo dõi. Theo BS Harald
Dobnig, người đứng đầu công trình nghiên cứu, mối liên hệ giữa các nồng
độ vitamine D và các tử vong do các bệnh tim mạch này là đặc biệt rõ nét.
Suốt trong thời kỳ nghiên cứu, 737 bệnh nhân bị
chết, trong đó 6,2% vì những vấn đề tim mạch. Các tác giả xác nhận rằng
307 người tử vong có những nồng độ vitamine D thấp nhất, so sánh với 103
tử vong của những bệnh nhân với những nồng độ vitamine D cao nhất.
Làm sao vitamine của ánh sáng mặt trời tác động lên những vấn đề tim và
những nguyên nhân tử vong khác? Y học chưa biết điều đó nhưng vitamine
D có lẽ đóng một vai trò chủ yếu trong hệ miễn dịch.
Theo Archives of Internal Medicine, 50% những người trưởng
thành trên 50 tuổi có một nồng độ vitamine D rất thấp. Những lý do của
một sự thiếu hụt như thế ? Việc giảm những hoạt động ngoài trời, sự ô
nhiễm không khí và sự lão hóa là những câu trả lời.
Nguồn chính yếu của vitamine quý báu đối với sức khỏe này
là một sự tiếp xúc từ 10 đến 15 phút mỗi ngày với ánh sáng mặt trời. Và
nếu thời tiết không cho phép, thì cá mỡ trong bữa ăn sẽ luôn luôn có thể
bù đắp nỗi khao khát vitamine của ánh sáng mặt trời này của chung ta.
Nguồn : LE SOIR (25/6/2008)
10/ CÓ THỂ UỐNG BAO NHIÊU CAFÉ MỖI NGÀY?
Các công trình nghiên cứu khoa học nhất trí cho rằng một
sự tiêu thụ 400mg caféine mỗi ngày là không có tác dụng độc hại đối với
sức khỏe. Điều này tương ứng với 4 đến 5 tách café mỗi ngày.Tuy nhiên
có hai ngoại lệ, trong thời kỳ có thai và trong lúc cho con bú, là những
thời kỳ mà tốc độ thoái biến của caféine bị chậm lại. Một vài công trình
nghiên cứu gợi ý rằng một sự tiêu thụ quan trọng caféine có thể làm gia
tăng nguy cơ sẩy thai. Vì lý đó thận trọng, người ta sẽ khuyên không nên
vượt quá 2 tách café mỗi ngày trong thời kỳ thai nghén.
Nguồn: CŒUR ARTERES (6/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/6/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |