 |
Thời
Sự Y Học số 82
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÓ NÊN ĐIỀU TRỊ BỆNH
ĐÁI ĐƯỜNG MỘT CÁCH TÍCH CỰC?
Mặc dầu các thầy thuốc đều đồng ý về sự cần thiết phải giảm đường huyết,
nhưng lại không có sự nhất trí về những lợi ích của một sự kiểm soát nghiêm
ngặt nồng độ đường trong máu.
Accord chống Advance. Hai thử nghiệm điều trị lâu dài, nhằm làm giảm tỷ
lệ tử vong và các biến chứng nơi các bệnh nhân bị một bệnh đái đường loại
2, bằng một sự kiểm tra rất nghiêm ngặt nồng độ đường trong máu, đã được
công bố đồng thời trong New England Journal of Medicine, ngày 6/6. Điều
ít nhất mà người ta có thể nói, đó là các kết quả mâu thuẫn của 2 thử
nghiệm này không làm đơn giản bao nhiêu chiến lược chống lại căn bệnh
mãn tính đáng sợ này. Thật vậy, công trình nghiên cứu Advance kết luận
rằng làm giảm mạnh đường huyết sẽ làm hạ nguy cơ bị các biến chứng trầm
trọng (và nhất là làm giảm 21% nguy cơ bị bệnh thận).
Nhưng công trình nghiên cứu Accord lại phát hiện một tỷ lệ tử vong cao
hơn không giải thích được, nơi các bệnh nhân bị bệnh đái đường được điều
trị một cách tích cực, khiến cho Viện Quốc Gia Tim, Phổi và Máu của Hoa
Kỳ phải đình chỉ thử nghiệm này!
Bệnh đái đường loại 2, còn được gọi là bệnh đái đường béo của tuổi trưởng
thành (diabète gras de la maturité), gây bệnh nhiều nhất nơi những người
trên 40 tuổi, ít hoạt động, bị gia tăng thể trọng (surpoids). Gây bệnh
cho 2 triệu người Pháp, bệnh đái đường loại 2 được đặc trưng bởi một sự
đề kháng tăng dần của các tế bào đối với tác dụng của insuline (hormone
làm hạ nồng độ đường trong máu). Thế mà, tên giết người thầm lặng này,
làm giảm tuổi thọ (espérance de vie), gây nên mù lòa và phong bế thận,
và liên kết với một tỷ lệ tử vong tim quan trọng. Đặc biệt là các huyết
quản nhỏ của võng mạc, của thận và của chi đều bị ảnh hưởng.
Từ lâu người ta biết rằng có một mối liên hệ giữa nồng độ đường trong
máu quá cao và nguy cơ tim mạch. Nhưng các dữ kiện nghiên cứu từ trước
cho tới nay, đã không thật sự phát hiện sự kiện là, việc giảm đường huyết
làm giảm nguy cơ tim mạch. Theo một kết quả điều tra của Anh năm 1998,
nơi những bệnh nhân người Anh bị bệnh đái đường loại 2, việc hạ nồng độ
hémoglobine glycosylée (một trong những chỉ dấu chính của bệnh đái đường)
từ 8% xuống 7% đã không thật sự làm giảm các tai biến tim mạch. Trong
một công trình nghiên cứu khác của Hoa Kỳ, được thực hiện trên 1.440 bệnh
nhân, đã phải chờ đợi gần 6 năm để nhận thấy rằng về mặt lâu dài, sự giảm
đường huyết là có lợi trong việc làm giảm những biến chứng tim mạch.
MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU BỊ ĐÌNH CHỈ SỚM
Để thấy rõ hơn, một công trình nghiên cứu được gọi là Advance trên 11.000
bệnh nhân được theo dõi và được điều trị một cách tích cực trong 5 năm.
Công trình đã được tiến hành bởi một nhóm người Úc, do giáo sư Stephen
McMahon điều khiển, kết luận rằng “sự giảm hémoglobine glycosylée (chỉ
dấu của mức độ kiểm tra đường huyết) ở mức 6,5 là một phương cách chắc
chắn và hiệu quả để làm giảm những biến chứng nghiêm trọng. ”
Về công trình nghiên cứu Accord, mà mục tiêu là mang nồng độ của đường
trong máu trở về gần như bình thường, với một điều trị tăng cường, đã
bị đình chỉ sớm. Thật vậy, các nhà nghiên cứu của National Heart, Lung
and Blood Institute đã nhận thức rằng 10.000 bệnh nhân bị đái đường, tuổi
từ 40 đến 79, được đưa vào trong công trình nghiên cứu này, có một nguy
cơ cao hơn bình thường, chết vì các bệnh tim mạch.
Biên tập viên của New Egland Journal of Medicine, Robert Dluhy, đánh giá
rằng công trình nghiên cứu Advance không cho phép đo lường một cách chính
xác những tác dụng của việc làm bình thường hóa tích cực đường huyết nơi
những người bị bệnh đái đường, bởi vì “ việc trộn lẫn các tai biến về
tim và những biến chứng vi huyết quản (trên mắt và thận) có những cơ chế
khác nhau, là không chắc chắn ”. Cũng theo tác giả bài báo, Advance không
giải quyết vấn đề về vai trò chính xác của việc hạ đường huyết trong việc
ngăn ngừa các biến cố tim mạch. Còn đối với công trình nghiên cứu Accord,
BS Robert Dluhy cho là 19 trường hợp chết “ bất ngờ ” trong số 41 tử vong
là do việc sử dụng của những điều trị phối hợp (thí dụ sulfonylurée với
insuline), đã được biết là thường gây ra những trường hợp hạ đường huyết
nguy hiểm. Nguồn: (LE FIGARO 9/6/2008)
2/ RỐI
LOẠN CƠ XƯƠNG : COI CHỪNG CON CHUỘT CỦA COMPUTER!
Một số càng ngày càng nhiều những người làm việc trên máy vi tính (computer,
ordinateur) kêu đau ở vai và cổ. Một công trình nghiên cứu của Đan Mạch
đã đánh giá, nơi 1.585 đàn ông và 565 phụ nữ, với tuổi trung bình 42 (tất
cả đều là các kỹ thuật viên informatique), số tác động mỗi tuần lên con
chuột (souris) và bàn chữ (clavier), cũng như thời gian sử dụng máy vi
tính. Một mối liên hệ rất rõ xảy ra giữa các yếu tố này với sự xuất hiện
các cơn đau cấp tính ở vai (9,8% nơi nam giới và 10,% nơi nữ giới) và
cơ (6,3% nơi nam giới và 9,3% nơi nữ giới). Sự sử dụng máy vi tính càng
thường xuyên và lâu dài, thì nguy cơ bị thương tổn cơ hoặc xương của các
chi trên càng gia tăng. Nguồn: (PARIS MATCH 3-9/4/2008)
3/ KỸ
THUẬT VI XÂM NHẬP (TECHNIQUE MINI-INVASIVE) ĐỂ SỬA CHỮA XƯƠNG?
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Yale, được lãnh đạo bởi BS Agnès
Vignery, đã khám phá ra rằng, bằng cách rút (nhờ một bơm tiêm) tủy xương
(moelle osseuse) của xương bị gãy hay bị làm dễ vỡ bởi chứng loãng xương
(ostéoporose) và sau đó bằng cách tiêm dưới da PTH (parathormone, hormone
được sản xuất bởi tuyến cận giáp), thì xương gãy làm sẹo nhanh hơn và
xương xốp trở nên rắn chắc hơn. Giả thuyết giải thích rằng, lúc lấy đi
tủy xương một cách khu trú, mô tái tạo (tissu régénérateur) duy nhất còn
lại là màng xương (périoste) sẽ kích thích sự tăng trưởng của các tế bào
xương (một cách gia tốc dưới tác dụng của PTH). Cuối cùng, ống tủy (canal
médullaire) được thay thế bởi xương. Tính đúng đắn của giả thuyết này
vừa đuợc chứng tỏ trên chuột.
Nhiều nhóm động vật được so sánh ở xương đùi : đối với các động vật mà
ống tủy được lấy hết ra, rồi được điều trị bằng PTH trong 3 tuần, ống
tủy đã được thay thế bằng xương, tạo nên sau đó một xương đùi chắc chắn
hơn. Nơi các động vật chỉ được hút tủy mà thôi, thì xương và tủy của nó
được tái tạo nhung ít chắc hơn. Một công trình nghiên cứu trên người,
theo dự kiến, sẽ được bắt đầu. Mục tiêu của việc nghiên cứu này là điều
trị các nạn nhân bị gãy xương đùi không xê dịch (fracture du col du fémur
sans déplacement) bằng cách hút tủy xương rồi tiêm dưới da PTH. Người
ta cũng dự kiến điều trị phòng ngừa chứng loãng xương nặng. Nguồn:
(PARIS MATCH 24-30/4/2008)
4/ MỘT
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU MỚI XÁC NHẬN NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CALCIUM ĐỐI VỚI XƯƠNG
4 ly sữa mỗi ngày (1.200 mg calcium) làm giảm 72% nguy cơ bị gãy xương.
Mọi người đều biết rằng calcium là tốt cho xương. Đặc biệt là trong chiến
dịch phòng ngừa chứng loãng xương (ostéoporose). Để có được những dự trữ
tốt về xương, các thiếu niên được khuyến nghị tiêu thụ đủ các sản phẩm
sữa (produits laitiers), mặc dầu khó mà làm nhạy cảm, vào lứa tuổi này,
điều gì sẽ xảy ra nơi xương của chúng 50 năm sau. Nhưng phải chăng việc
uống sữa suốt cả cuộc đời, đối với đàn ông và phụ nữ, là có ích?
Một nhóm nghiên cứu quốc tế gồm các nhà nghiên cứu của đại học Zurich
và trường y Dartmouth đã tuyển mộ 930 đàn ông và phụ nữ khoẻ mạnh, tuổi
từ 28 đến 80, và chia họ thành hai nhóm, nhóm đầu nhận 1.200 mg calcium
mỗi ngày trong 4 năm và những người thuộc nhóm thứ hai nhận một placebo
(một chất không có tác dụng gì hết) trong cùng thời gian.
MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 4 NĂM
Sau 4 năm, các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát rằng những người được
cho calcium bổ sung, có một nguy cơ bị gãy xương ít hơn, thuộc bất cứ
loại nào, trong hoạt động hàng ngày hay trong lúc giải trí và thể thao.
Trong 4 năm, có 4 gãy xương trong nhóm nhận calcium, so với 14 trong nhóm
chỉ nhận một placebo. Tuy nhiên, sự theo dõi đã cho thấy rằng những lợi
ích lên xương dừng lại với sự cho bổ sung calcium : sau khi chấm dứt điều
trị, nguy cơ gãy xương đã trở nên tương tự trong hai nhóm. Mặc dầu công
trình này không nhằm khuyến nghị cho bổ sung calcium cho tất cả toàn bộ
dân chúng, nhưng khuyến khích một sự tiêu thụ đáng kể sữa (lấy đi mỡ nơi
những người có nguy cơ tim) và các sản phẩm dẫn xuất, trong suốt cuộc
đời.
Và các phụ nữ sau tuổi mãn kinh có phải uống calcium bổ sung một cách
có hệ thống hay không? “Một phân tích méta mới đây của Lancet cho thấy
rằng điều trị bằng calcium làm giảm 10% nguy cơ gãy xương, giáo sư Christian
Roux (bệnh viện Cochin, Paris) đã nhấn mạnh như thế. Nhưng tất cả mọi
người không cần phải uống calcium bổ sung. Tất cả tùy thuộc thức ăn được
ăn vào, có thể có đủ calcium. Một sự tiêu thụ quá nhiều có thể làm gia
tăng nguy cơ bị sỏi thận.”
Vài thầy thuốc, trước khi viết toa cho calcium và vitamine D, thực hiện
các định lượng để phát hiện tình trạng thiếu calcium và kiểm tra sự cần
thiết cho bổ sung. Những thầy thuốc khác quyết định cho, một cách có hệ
thống, các bệnh nhân trên 50 tuổi, một kết hợp hàng ngày calcium và vitamine
D. Nguồn: (LE FIGARO 11/6/2008)
5/ VIAGRA
HỮU ÍCH TRONG CÁC BỆNH NẶNG
Viên thuốc bé nhỏ màu xanh chống lại chứng bất lực, sẽ hữu ích trong các
chỉ định điều trị “nghiêm túc” hơn.
Từ khi được thương mãi hóa vào năm 1998, Viagra đã có được một thành công
quy mô hành tinh (thuốc bán được 7 tỷ dollars) với 35 triệu người sử dụng
trên thế giới. Thị trường các rối loạn cương ở Pháp đã thăng tiến 25%,
giữa năm 2005 và 2006, để đạt được 123 triệu euro doanh thu. Tổng cộng,
gần 1,6 triệu hộp thuốc Viagra (hãng Pfizer) hay các thuốc cạnh tranh
của nó Cialis (hãng Eli Lilly) và Levitra (hãng Bayer), được bán trong
nước Pháp.
Và giờ đây người ta khám phá ra rằng Viagra còn có những tính năng dược
lý có một quy mô khác, không chỉ dừng lại ở tác dụng chữa panne sinh dục
: công trình nghiên cứu mới nhất được công bố trong les Annales của viện
khoa học quốc gia Hoa Kỳ ngày 12/5. Các con chuột bị loạn dưỡng cơ (dystrophie
musculaire) có tim bị bệnh, được bảo vệ nhờ các mũi tiêm Viagra dưới da
mỗi ngày. Trong căn bệnh di truyền này, mà đặc trưng là sự suy yếu (faiblesse)
và sự thoái hóa dần dần của các cơ tự ý kiểm soát các cử động, cơ tim
cũng bị thương tổn. Nhóm nghiên cứu của Mike Khairallah (Montreal Heart
Institute), vào năm 2001, đã chứng tỏ nơi cùng những con chuột, ngay ở
tuổi 8 đến 10 tuần, và mặc dầu không có một dấu hiệu báo trước nào có
thể thấy được trên tim, rằng trái tim này đã dễ bị tổn thương (vulnérable)
và không kháng cự được lâu dài một gánh nặng công việc quan trọng.
BÁO VỆ NHỮNG TẾ BÀO TIM
Ngoài ra, những trái tim suy yếu này có những đặc điểm chuyển hóa và chức
năng bất bình thường, loan báo thầm lặng sự suy tim sẽ xảy ra sau này.
Một trong những phân tử năng lượng (molécule énergétique) cần thiết cho
sự hoạt động của tim bình thường (được gọi là GMPc) đã không được sản
xuất với số lượng đủ lớn nơi các con chuột này.
Thế mà công trình nghiên cứu được công bố hôm qua cho thấy rằng việc sử
dụng Viagra (Sildénafil) rất có hiệu quả để đảm bảo sự sản xuất phân tử
năng lượng này. Các tế bào tim không những được bảo vệ chống lại các thương
tổn do cơ học, Viagra cũng còn gìn giữ sức khỏe của các thể hạt (mitochondrie),
các bào quan (organite) của sự “ hô hấp ” tế bào. Sau cùng, viên thuốc
xanh Viagra của tình yêu ngăn ngừa sự hư hỏng các hiệu năng co bóp của
tim, thường được quan sát nơi các con chuột này khi chúng trở nên già
lão. Theo các tác giả, do tính dung nạp dược lý tốt của Viagra từ khi
được thương mãi hóa, nên những thử nghiệm lâm sàng nhằm phòng, hoặc cả
điều trị các bệnh cơ tim (cardiomyopathies) xảy ra nơi các bệnh nhân bị
bệnh cơ (myopathies), theo dự kiến có thể được nhanh chóng tổ chức tiến
hành nơi người.
Một sử dụng “nặng ký” khác của Viagra được dự kiến: điều trị một bệnh
hiếm và hiểm nghèo, đó là chứng tăng huyết áp phổi (hypertension artérielle
pulmonaire). Chứng tăng huyết áp phổi có thể là do các bệnh của phổi hoặc
xảy ra sau một phẫu thuật sửa chữa (chirurgie réparatrice) các bất thường
cơ thể học bẩm sinh của tim. Sức đề kháng bình thường của các mạch máu
phổi gia tăng dần dần. Cơ tim của tim phải (tâm nhĩ và tâm thất) suy kiệt
dần vì phải chống lại sự tăng huyết áp động mạch phổi. Sau đó, tim phải
bị suy cũng như bệnh nhân bị chết sớm. Một công trình nghiên cứu được
công bố năm 2005 trong New England Journal of Medicine đã so sánh, nơi
278 bệnh nhân được phân chia thành nhiều nhóm, tác dụng của các liều lượng
tăng dần của Viagra với một placebo. Viagra đã làm cải thiện đáng kể khoảng
cách bước (périmètre de marche), cải thiện lâm sàng lớn nhất nơi những
người bệnh nặng nhất. Viagra có thể trở thành thuốc thứ năm hữu ích trong
bệnh lý này. (LE FIGARO 14/5/2008)
6/ SỰ TIÊU THỤ CÁ NGĂN NGỪA
VÀI BỆNH MÙ LÒA.
Những người tiêu thụ các oméga-3 sẽ giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng
do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge)
Ở Pháp, sự thoái hóa điểm vàng do tuổi tác gây bệnh, ở những mức độ khác
nhau, cho hơn 500.000 người. Sự thoái hóa của vùng trung tâm võng mạc
này được thể hiện bởi một sự giảm thị lực trung tâm, có thể dẫn đến mù
lòa sau nhiều năm tiến triển. Mặc dầu các nguyên nhân của căn bệnh nghiêm
trọng và thường xảy ra này vẫn không được biết đến, nhưng rõ ràng rằng
một vài yếu tố làm dễ căn bệnh này như tuổi tác và thuốc lá. Sự tiếp xúc
quá mức với ánh sáng cũng được cho là có liên hệ, nhưng không có chứng
cớ tuyệt đối.
Vậy người ta có thể bảo vệ chống lại căn bệnh này hay không ? Các nhà
nghiên cứu Úc đại lợi vừa khảo sát vấn đề này, và kết luận trong một công
trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Archives of Ophtalmology,
rằng những người có một chế độ ăn uống giàu cá hay ăn bổ sung những thức
ăn có oméga 3 sẽ có một nguy cơ bị DMLA ít hơn.
Các oméga-3 là những chuỗi acide béo không bảo hoà mà người ta tìm thấy
nhiều nhất trong cá mỡ : cá hồi (saumon), cá thu (maquereau), cá trích
(hareng)…, trong cây cai dầu (colza), các quả hồ đào. Vào đầu những năm
1990, các chất mỡ này được gán cho nhiều tác dụng tốt, không phân biệt
đúng hay giả.
Mặc dầu nhiều nghiên cứu đã phát hiện một nguy cơ bị tai biến tim mạch
ít hơn nơi những người tiêu thụ nhiều cá, nhưng những thử nghiệm phòng
ngừa cơn đau tim bằng oméga-3 đã hơi gây thất vọng hơn. Chính trong bối
cảnh này mà các thầy thuốc Úc đại lợi ở Melbourne đã quyết định xem xét
một cách hoàn toàn, mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu cá hay oméga-3
và nguy cơ bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Để thực hiện
điều này, họ đã xem lại 9 công cuộc điều tra được công bố trong 20 năm
qua về chủ đề này, và đã sưu tập thành một phân tích méta trên 88.974
người.
Những kết quả của công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng những người
tiêu thụ nhiều oméga-3 nhất, dầu đó là cá hay các bổ sung thực phẩm, có
38% nguy cơ bị một thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) ít hơn, so sánh
với những người tiêu thụ ít nhất. Như vậy, sự việc ăn cá hai lần mỗi tuần
liên kết với một nguy cơ bị DMLA thấp hơn.
CẦN NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ
“Phân tích của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ cá và các thức ăn giàu
oméga-3 được liên kết với một nguy cơ bị DMLA ít hơn”, các tác giả của
công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Như vậy có phải ăn cá hay dùng
oméga-3, ngay cả khi chúng ta vẫn khỏe mạnh, để ngăn ngừa hoặc kềm hãm
sự thoái hóa này hay không?
Các tác giả tỏ ra thận trọng không muốn bước thêm bước nữa, đánh giá rằng
trước khi có những khuyến nghị chính thức, thì bây giờ phải thực hiện,
không phải là những điều tra quan sát như đã làm cho từ trước cho đến
nay, mà phải thực hiện những thử nghiệm điều trị quy mô lớn. Các thử nghiệm
này nhằm so sánh tiến triển của thị lực của những người dùng oméga-3 so
với những người không dùng chất bổ sung này.
Bằng cách nào các oméga-3 làm giảm nguy cơ bị DMLA? Theo Elaine Chong,
tác giả chính của công trình nghiên cứu, các acides béo này là một thành
phần sinh tử của võng mạc và một sự thiếu hụt có thể sẽ đóng một vai trò
trong việc gây ra bệnh này. Cũng phải biết rằng vào tháng 2 năm 2008,
các thầy thuốc Úc Đại Lợi của đại học Sidney đã chứng tỏ rằng những người
bị DMLA cũng có một nguy cơ tim mạch gia tăng. Điều này khiến các nhà
nghiên cứu nghĩ rằng cùng những yếu tố ảnh hưởng lên tim (huyết áp cao,
cholestérol máu cao, nghiện thuốc lá...) cũng gây thương tổn ở mắt và
có liên hệ trong sự phát sinh bệnh DMLA. Như thế, tác dụng thuận lợi do
oméga-3 lên tim cũng có thể được giải thích ở mắt.
Hiện nay, đó chỉ là một giả thuyết.Trong tất cả mọi trường hợp, không
gì có thể ngăn cản chúng ta ăn cá hai lần mỗi tuần, hoặc nhiều hơn nếu
trái tim của chúng ta muốn như vậy, ngoại trừ các phụ nữ có thai. Nguồn:
(LE FIGARO 11/6/2008)
7/ RUNG NHĨ :
HIỆU QUẢ ƯU VIỆT CỦA CÁC THUỐC CHỐNG VITAMINE K
Giáo sư Ariel Cohen, trưởng khoa Tim bệnh viện Saint-Antoine, bình luận
các kết quả của Active W, một công trình nghiên cứu quốc tế, trong đó
điều trị các rung nhĩ (fibrillation auriculaire) bằng các thuốc kháng
đông (anticoagulant) được xác nhận là có hiệu năng hơn các thuốc chống
ngưng kết (antiagrégant) như aspirine.
Hỏi : Ông có thể cho một định nghĩa ngắn gọn về cái mà
người ta gọi là rung nhĩ (fibrillation auriculaire)?
G.S Ariel Cohen : Tim gồm hai tâm nhĩ (oreillette) phải và trái, có nhiệm
vụ nhận đầy máu và hai tâm thất (ventricule) dùng để phóng máu vào mỗi
lần tim co bóp. Trong trường hợp rung nhĩ, tâm thất, khi đó loạn nhịp,
bắt đầu bóp một cách nhanh chóng và hỗn loạn; nó thoát khỏi sự kiểm soát
của hệ thần kinh. Nhưng may mắn thay, một cái lọc nhĩ-thất (filtre auriculo-ventriculaire)
làm giảm các co bóp để đảm bảo một sự nhịp nhàng tâm thất từ 60 đến 200
đập mỗi phút, bình thường là 60.
Hỏi : Những triệu chứng của bệnh rung nhĩ?
G.S A.C : Các triệu chứng chỉ xuất hiện trong 1 trên 2 trường hợp, bởi
vì một rung nhĩ có thể tiến triển không gây triệu chứng. Khi các triệu
chứng được biểu lộ, bệnh nhân kêu khó thở, đau ở giữa ngực, hồi hộp. Bệnh
nhân nói rằng có cảm giác như tim lồng lên. Thật vậy, những mạch đập quá
mạnh và không đều. Vài bệnh nhân cũng có thể cảm thấy khó ở, chóng mặt.
Tuyệt đối phải xác lập một chẩn đoán càng sớm càng tốt để có gắng ngăn
ngừa một biến chứng trầm trọng, như sự tạo thành một cục máu đông với
nguy cơ di chuyển trong tuần hoàn động mạch và gây nên một nhồi máu, đặc
biệt là não bộ. Chính biến chứng này tạo nên mối hiểm nguy của căn bệnh
và biện minh cho một điều trị phòng ngừa.
Hỏi : Làm sao xác lập chẩn đoán rung nhĩ?
G.S.A.C : Người ta phát hiện nó lúc làm điện tâm đồ, cho thấy các tâm
nhĩ hỗn loạn và các tâm thất không đều. Phần lớn các trường hợp, người
ta phát hiện một cách tình cờ, lúc thăm khám kiểm tra đơn thuần.
Hỏi : Tần số mắc bệnh loạn nhịp tâm nhĩ này?
G.S.A.C : Trong thế giới Phương Tây, nơi người ta sống càng ngày càng
già, bệnh này tạo nên một loại dịch bệnh bởi vì nó gia tăng với tuổi tác,
và tỷ lệ mắc bệnh ở đàn ông cao hơn so với phụ nữ. Ví dụ ở Hoa Kỳ, người
ta thống kê được 2 triệu trường hợp năm 1990, người ta dự kiến 3 triệu
cho năm 2015 và 6 triệu vào năm 2050 ! Tiếc thay, chúng tôi nghĩ rằng,
ở Pháp, cứ hai bệnh nhân chỉ có một được hưởng thật sự một điều trị tối
ưu.
Hỏi : Có những cá nhân có tố bẩm với bệnh rung nhĩ không?
G.S.A.C : Yếu tố nguy cơ lớn đầu tiên là tuổi tác, gây nên sự lão hóa
các tâm nhĩ sau 60 tuổi. Sau đó, chính những bệnh lý có khuynh hướng làm
giãn tâm nhĩ như cao huyết áp, bệnh đái đường. Các bệnh tim nhiên hậu
rồi cũng đưa đến giãn các tâm nhĩ này.
Hỏi : Những điều trị thông thường của rung nhĩ ?
G.S.A.C: Có hai phương thức: phương thức đầu tiên là các thuốc kháng đông
(anticoagulants), làm tránh sự tạo thành một cục máu đông (thí dụ, các
antivitamines K). Theo những công trình nghiên cứu mới đây, chúng cho
phép làm giảm 2/3 nguy cơ. Phương thức thứ hai là điều trị bằng các thuốc
chống ngưng kết (antiagrégants) (trên hết là aspirine), ngăn cản sự tích
tụ của các tiểu cầu (plaquettes), hiện tượng căn nguyên của quá trình
đông máu. Nhưng phép điều trị này chỉ hiệu quả trong 1/3 các trường hợp.
Thật vậy, việc lựa chọn thuốc tùy thuộc vào sự đánh giá nguy cơ bị nghẽn
mạch (embolie) nơi bệnh nhân. Phải quân bình giữa các mối lợi của điều
trị với các mối hiểm nguy do điều trị này : ví dụ các chất kháng đông
có thể gây nên chảy máu. Sự đánh giá này có tính đến các tiền sử nghẽn
mạch (embolie), sự hiện diện một bệnh tim tiềm ẩn, sự hiện diện của một
yếu tố nguy cơ như cao huyết áp và tuổi tác. Nếu sự đe dọa bị nghẽn mạch
gia tăng với thời gian, thì nguy cơ xuất huyết cũng vậy. Do đó cần cho
thuốc tùy trường hợp.
Hỏi : Theo những kết luận của công trình nghiên cứu quốc
tế lớn mới đây Active W, những lời khuyến nghị mới nhất là những lời khuyến
nghị nào ?
G.S A.C : Công trình nghiên cứu này đã so sánh những hiệu quả của một
điều trị bằng một thuốc kháng đông với những hiệu quả của một điều trị
được tăng cường bởi hai thuốc chống ngưng kết (sự liên kết của aspirine
và clopidogrel). Các kết quả đã xác nhận một sự hiệu quả lớn hơn của thuốc
kháng đông so với sự phối hợp hai thuốc chống ngưng kết. Tuy nhiên, trong
trường hợp chống chỉ định, sự phối hợp của hai thuốc chống ngưng kết có
thể tỏ ra hiệu quả hơn một điều trị đơn độc với aspirine. Chúng ta chỉ
có thể thật sự biết được điều đó sau những kết luận của những công trình
nghiên cứu đang được tiến hành.
Hỏi : Trong lãnh vực điều trị này, những tiến bộ sắp
đến là những tiến bộ nào ?
G.S A.C : Mãi đến ngày nay, chúng ta đã điều trị các hậu quả của các rung
nhĩ chứ không phải là nguyên nhân của chúng, điều này giải thích một phần
tại sao việc đe dọa tái phát là cao (1 bệnh nhân trên 2). Do đó lợi ích
của những phương thức cực kỳ hiện đại, như là sự phá hủy bằng đường qua
da (voie percutanée) những ổ gây loạn nhịp ( kỹ thuật của G.S Haissaguerre
ở Bordeaux) hay là sự hiệu chính những điều trị mới nhằm làm giảm kích
thước của tâm nhĩ. Về lãnh vực nghiên cứu, người ta tìm những thuốc kháng
đông và các thuốc chống loạn nhịp gây ít tác dụng phụ hơn và ít nguy cơ
bị tái phát hơn. Nguồn: (PARIS MATCH 24/4-30/4/2008)
8/ TEM
CHỦNG CHỐNG ỈA CHẢY CỦA KHÁCH DU LỊCH CHO NHỮNG KẾT QUẢ ĐẦY HỨA HẸN
Mỗi năm có 27 triệu khách du lịch là nạn nhân của ỉa chảy. Con tem da
(timbre dermique) chống ỉa chảy của khách du lịch (patch anti-tourista)
làm giảm bệnh ỉa chảy nặng. Nhưng nó không tác dụng chống lại tất cả các
“ vi khuẩn du lịch ” ( bactéries à “ tourista ” )
Loại tem chủng (patch vaccinal) chống bệnh ỉa chảy của khách du lịch (diarrhée
du voyageur hay “ tourisra ” ) đang ở vào giai đoạn 3 của thí nghiệm trên
người, nghĩa là giai đoạn cuối trước khi được đem bán trên thị trường.
Những tem chủng này đã chứng tỏ những kết quả đầy hứa hẹn, theo một bài
báo được công bố tuần này trên The Lancet.
Mỗi năm, có khoảng 27 triệu du khách lưu trú trong những vùng mà các vi
khuẩn gây “tourista” tạo nên dịch địa phương. Các khách du lịch này là
nạn nhân của bệnh ỉa chảy, thường là lành tính nhưng cũng có thể làm hỏng
một cuộc du lịch và buộc du khách phải nghỉ ngơi và bù nước. Do tình trạng
nghèo nàn và điều kiện vệ sinh, mỗi năm có 380.000 trẻ em lìa đời.
Các vi khuẩn thủ phạm gây tiêu chảy của khách du lịch, đứng đầu là Escherichia
coli sinh độc tố ruột (entérotoxinogène), thường được truyền bằng các
thức ăn và thức uống bị nhiễm bẩn. Bệnh ỉa chảy của khách du lịch (diarrhée
du voyageur) kéo dài khoảng 5 ngày và thường kèm theo nôn, mửa, đau bụng,
khó ở và mất nước.
Tem chủng được hiệu chính nhằm vào vi khuẩn E.coli sinh độc tố ruột. Một
thử nghiệm lâm sàng giai đoạn hai của tem chủng (patch vaccinal) này đã
được tiến hành ở Hoa Kỳ trên 170 người trưởng thành đã du lịch ở Mễ tây
Cơ và Guatemala. Các kết quả cho thấy rằng 22% của nhóm placebo bị tourista
(ỉa chảy của khách du lịch) so sánh với 15% trong nhóm đã mang tem chủng,
nhưng chỉ 5% là liên quan với E.coli sinh độc tố ruột.
Trường hợp ỉa chảy nặng cũng nhiều hơn (11%) trong nhóm placebo, so với
nhóm được chủng (2%). Sau hết, các đợt ỉa chảy có thời gian ngắn hơn.
Công trình nghiên cứu này gợi ý rằng tem chủng có thể bảo vệ các người
du lịch chống lại bệnh ỉa chảy này, nhưng hiệu quả của nó cần phải được
xác nhận.
“ Một vaccin chống lại bệnh ỉa chảy của khách du lịch, một khi được đưa
lên thị trường, sẽ là rất hữu ích . Tuy nhiên, sự việc tem chủng này dường
như không có tác dụng chống lại tất cả các loại vi khuẩn E.Coli sinh độc
tố ruột, làm giới hạn tầm tác dụng của nó, bác sĩ Yves Van Laethem, thuộc
khoa các bệnh nhiễm trùng và của khách du lịch, CHU Saint-Pierre (Bruxelles)
đã phát biểu như vậy. Trong vài nước, người ta sử dụng Dukoral, một thuốc
chủng chống lại dịch tả và vaccin này dường như cũng có một hiệu quả chống
lại tourista, nhưng ở Bỉ, chúng tôi không khuyến nghị điều này. Vấn đề
chủ yếu là sự che chở mà bệnh nhân sẽ có được. Nếu bệnh nhân chỉ được
bảo vệ chống lại vài loại vi khuẩn, thì anh ta sẽ phải duy trì, cùng tinh
thần cảnh giác, với nguy cơ nước không đóng chai, nước đá, kem, thịt không
nấu chín và các đồ ăn sống. Nước chấm được chế biến với trứng, tôm ốc
ngao sò và các loài tôm cua cũng phải được tiếp cận một cách thận trọng”.
Nguồn: (LE SOIR 13/6/2008)
9/ RAU XANH, TRÀ, RƯỢU VANG VÀ CACAO CÓ
LỢI CHO NHỮNG NGƯỜI HÚT THUỐC
Các flavonoides là những chất chống gây ung thư (anticancérigènes). Nguy
cơ phát triển ung thư phổi được giảm 32 đến 51% đối với 4 flavonoides
được xác định.
Thở, đó là tự oxy hóa ! Thật vậy việc sử dụng oxy, sinh tử, cũng sản sinh
những dạng oxy được gọi là phản ứng (réactif), có thể tấn công những cấu
trúc sinh học. Những hiện tượng oxy hóa này được xem như là một yếu tố
lão hóa và là một yếu tố làm dễ nhiều loại bệnh khác nhau, nhất là ung
thư. Vậy phổi đứng hàng đầu trong việc chịu các hiện tượng này.
Việc tiếp xúc này lại càng rõ nét hơn đối với những người hút thuốc, và
người ta đánh giá rằng sự tiếp xúc với oxy phản ứng góp phần rất lớn trong
việc làm gia tăng nguy cơ ung thư phổi. Vấn đề tìm biết xem việc hấp thụ
các hợp chất có khả năng làm giảm thiểu các hiện tượng oxy hóa và các
tổn hại do các hiện tượng này gây ra, đã làm ngứa ngáy các nhà nghiên
cứu từ nhiều năm qua. Các hợp chất này ám chỉ các chất chống oxy hóa (antioxydants).
Một vài chất chống oxy hóa là các vitamine hay những oligo-éléments, nhưng
nơi dự trữ các chất chống oxy hóa lớn nhất là các flavonoide, một họ gồm
hơn 4.000 phân tử.
Trong phòng thí nghiệm, các flavonoides đã chứng tỏ, ngoài khả năng chống
oxy hóa đôi khi rất mạnh, những tính chất chống đột biến (antimutagénique)
và chống ung thư. Được cổ vũ, các nhà khoa học đã thăm dò những mối liên
hệ giữa sự hiện diện của những hợp chất này trong thực phẩm và sức khỏe
của dân chúng. Các thức ăn như rau xanh, trái cây, trà, rượu vang và ngay
cả cacao đều giàu các flavonoides. Nhiều công trình nghiên cứu đã báo
cáo sự hiện hữu của một mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ các flavonoides
khác nhau và nguy cơ của vài bệnh tật, đặc biệt là trong lãnh vực tim
mạch.Và chính đó là điều vừa được chứng nhận bởi một nhóm các nhà dịch
tễ học bao gồm những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Trung Quốc, đối đầu với
ung thư phổi. Các nhà nghiên cứu mà các công trình được công bố trong
Cancer, đã nghiên cứu sự tiêu thụ flavonoides nơi 558 người đã phát triển
một ung thư phổi, và nơi 837 người làm nhóm kiểm tra.
Công trình nghiên cứu tiết lộ rằng nơi những người hút thuốc, nguy cơ
phát triển ung thư phổi được thu giảm từ 32% đến 51% đối với 4 flavonoides
được xác định rõ. Mặt khác, các rau xanh, trà và rượu vang, các nguồn
thực phẩm quan trọng của flavonoides, cũng tỷ lệ nghịch với nguy cơ phát
triển một ung thư phổi. Tuy nhiên không có một tác dụng đáng kể nào nơi
những người không hút thuốc. Các dữ kiện của nghiên cứu gợi ý rằng các
flavonoides có thể có một lợi ích đặc biệt nơi các người nghiện thuốc
lá mặc dầu sẽ là ảo tưởng khi hy vọng rằng có thể huỷ bỏ tất cả các tác
dụng của thuốc lá bằng các chất chống oxy hóa (antioxydants). Nguồn:
(LE SOIR 11/6/2008)
10 / H5N1 : GIA CẦM BỊ HẠ SÁT Ở TRUNG QUỐC
Nhà cầm quyền y tế Trung Quốc đã ra lệnh giết chết gia cầm sau khi đã
phát hiện sự hiện diện của virus cúm gia cầm. Tuần qua, báo động đã được
khởi động sau khi khám phá ra gia cầm bị chết ở Jiangmen trong tỉnh Quảng
Đông. Gần 3.900 con vịt bị chết và 17.000 gia cầm đã được hạ sát, do thận
trọng. Theo OMS, có 383 trường hợp cúm gia cầm đã gây bệnh nơi người từ
năm 2003, trong đó 241 trường hợp tử vong. Nguồn: (LE
FIGARO 18/6/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/6/2008 )
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |