 |
Thời
Sự Y Học số 76
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ DOROTHY REED MENDENHALL
Bệnh Hodgkin hay lymphome de Hodgkin là một u bạch huyết được đặc trưng
bởi sự hiện diện của các tế bào khổng lồ không điển hình (cellules géantes
atypiques), còn được gọi là các tế bào Reed hay các tế bào Sternberg-Reed.
Nhưng người ta có biết rằng đứng đằng sau Sternberg-Reed là 2 người thầy
thuốc, một người là Carl Sternberg, nhà giải phẫu bệnh học người Áo và
người kia là một thầy thuốc nữ người Mỹ : Dorothy Reed ?
MỘT QUYẾT ĐỊNH LÀM RỤNG RỜI
Dorothy Reed sinh năm 1874 ở Columbus thuộc tiểu bang Ohio. Bà xuất thân
từ một môi trường khá giả ; thật vậy gia đình bà là chủ của một nhà máy
chế tạo giày. Cha bà mất khi bà chỉ mới 6 tuổi. Dorothy nhận được nền
học vấn đầu tiên tại nhà bởi một giáo sư dạy tư. Sau đó bà ghi tên vào
một trường trung học dành cho các thiếu nữ của Northampton trong tiểu
bang Massachussets. Lúc còn là thiếu nữ bà yêu cầu được phép tự mình quản
lý lấy phần gia sản thừa kế của mình : thật vậy, với phương cách này,
bà có thể theo đuổi việc học mà không phải lệ thuộc vào gia đình. Gia
đình bà không mấy thiện cảm với lựa chọn này. Mẹ bà ưa thích rằng Dorothy
theo con đường của các thiếu nữ con nhà danh giá là đi lấy chồng, tốt
nhất là với một người nào đó giàu có.
Dorothy trước hết học hóa học và vật lý ở Massachussetts Institute of
Technology năm 1895. Nhưng bà đã có một ý nghĩ trong đầu : thật ra việc
học này chỉ là một bàn đạp để trở thành thầy thuốc. Dorothy đã viết thư
cho giám đốc của Johns Hopkins Medical School vừa mới được thành lập.
Trường y này đã mở cửa năm 1893 là nhờ các người theo chủ nghĩa nữ quyền
(féministes). Những người này đã chấp nhận tài trợ cho ngôi trường y khoa
mới này với điều kiện là các phụ nữ phải được chấp nhận cho vào học ở
đó. Quyết định của Dorothy làm rụng rời gia đình. Gia đình đã không do
dự tuyên bố rằng bà đi nghỉ mát ở miền Nam để người ta khỏi biết rằng
bà đang theo học một trường y.
MỘT “ SỰ TÒ MÒ TÍNH DỤC KHÔNG LÀNH MẠNH ”
Dorothy bắt đầu học y khoa năm 1896, và đã trải qua những khó khăn mà
các phụ nữ vào thời kỳ đó đã kinh qua khi vào học trong một môi trường
lúc đó chỉ dành cho nam giới . Giữa những lời giễu cợt của các sinh viên
và những lời ác ý của các giáo sư, Dorothy đứng vững và cuối cùng đã nhận
được văn bằng tốt nghiệp năm 1900. Bà đứng thứ năm của khóa học gồm 43
sinh viên, sau một người phụ nữ khác đứng thứ hai.Vị thứ của bà lúc tốt
nghiệp đã cho phép bà nhận được một chức vụ nội trú bệnh viện nhưng khi
đó người ta lấy cớ rằng hai nội trú phụ nữ sẽ tạo nên vấn đề. Dorothy
năn nỉ và cuối cùng đã được chấp nhận. Bà sẽ có người đỡ đầu và là giáo
sư nội trú, BS William Osler.Trong thời gian làm nội trú, bà xem thường
những lời bắt bẽ muốn ngăn cản một phụ nữ da trắng săn sóc những người
đàn ông da đen. Một giáo sư đã không do dự trách bà “ về sự tò mò tính
dục không lành mạnh ”. Việc bổ nhiệm làm nội trú của bà cũng sẽ khép lại
các cảnh cửa đối với vài thành viên trong gia đình bà.
TỪ PHÒNG NGHIÊN CỨU ĐẾN KHOA NHI.
Vào cuối thời kỳ nội trú, BS Reed nhận được một nhiệm sở trong phòng thí
nghiệm giải phẫu bệnh lý của BS William Welch. Chính ở đó vào năm 1902
bà đã hoàn thành việc mô tả cuối cùng của tế bào đã được khám phá năm
1898 bởi nhà giải phẫu bệnh lý Carl Sternberg trong bệnh Hodgkin. Với
những nghiên cứu của bà, BS Reed chứng tỏ vai trò của những tế bào này
trong bệnh Hodgkin và như thế cho phép phân biệt bệnh lý này với bệnh
lao. Các công trình của bà được quốc tế công nhận.Tuy nhiên, năm 1903,
bà đã từ giã lãnh vực nghiên cứu. Người ta không biết điều gì đã khiến
bà đã đi đến quyết định này : các khả năng tiến thân bị giới hạn, hay
chuyện tình duyên không được may mắn ? Dẫu sao đi nữa, Dorothy đã từ giã
phòng thí nghiệm mặc dầu nơi đây bà đã được xác nhận như là một nữ tiền
phong của nghiên cứu y khoa. Sau do bà nhận một nhiệm sở ở khoa nhi, trước
hết ở New York Infirmary for Women and Children ( được thành lập bởi BS
Elizabeth Blackwell ) và từ năm 1903 đến 1906 ở Babies Hospital de New
York.
THẦY THUỐC, VỢ VÀ MẸ : CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NGƯỜI
PHỤ NỮ.
Vào năm 1906, bà cưới Charles Elwood Mendenhall . Cặp vợ chồng sinh sống
ở Madison trong Wisconsin, nơi đây Charles được bổ nhiệm làm giáo sư vật
lý ở đại học. Suốt trong những năm tiếp theo sau đó, sau khi đứa trẻ đầu
lòng qua đời vào lúc sinh, Dorothy lại sinh 3 đứa trẻ khác và dành thời
gian ưu tiên cho cuộc sống gia đình dầu có bị thiệt hại đến nghề nghiệp
y khoa của mình..
Vào khoảng năm 1910, bà lại bắt đầu hành nghề dần dần trở lại và bởi vì
lần sinh đẻ đầu tiên của bà đã bị kết thúc bởi tử vong của đứa con sơ
sinh, do đó bà sẽ đặt ưu tiên cho việc săn sóc tốt các sản phụ và sức
khỏe của các trẻ em. Bà tạo nên những trung tâm y tế cho các trẻ em, thuyết
trình tại các hội nghị về các săn sóc tiền sản, viết nhiều bài văn chuyên
về sự nuôi dưỡng các trẻ em. Công việc của bà bị dèm pha bởi một vài đồng
nghiệp nam giới. Những người này đã không ngần ngại nói rằng những bổn
phận của bà đối với gia đình và sự quan tâm của bà đối với y tế cộng đồng
thể hiện sự thiếu quan tâm đối với nền y khoa “nghiêm túc” Và trong giới
đại học, người ta đã không do dự trách bà là đã “ lãng phí sự giáo dục
y khoa đầy tốn kém mà bà đã nhận được ”.
CUỘC VẬN ĐỘNG VÌ CÁC BÀ MẸ VÀ TRẺ EM.
Năm 1917, Dorothy cùng gia đình đi định cư ở Washington là nơi mà chồng
bà được bổ nhiệm. Bà nhận được một nhiệm sở ở Bureau national de l’enfance.
Bà ở lại đó cho đến cuối cuộc đời và từ nay cống hiến chủ yếu cho sự thăng
tiến sức khỏe của các phụ nữ và trẻ em . Bà xuất bản nhiều bài báo về
sức khỏe của bà mẹ và trẻ em, trong đó có bài « Milk, the indispensable
food ». Các bài báo của bà xuất hiện trong những tạp chí có uy tín như
John Hopkins Hospital Report hay American Journal of Medical Science.
Năm 1926, bà thực hiện một nghiên cứu về tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ
em ở Đan Mạch và so sánh với những thống kê của Hoa Kỳ. Năm 1929, Bureau
national de l’enfance công bố công trình nghiên cứu này, "Midwifery
in Denmark", mà những kết luận phát hiện rằng tỷ lệ tử vong của các
bà mẹ và trẻ em ở Hoa Kỳ cao hơn là do những can thiệp y khoa thừa hoặc
không thích đáng .
BS Dorothy Reed thực hiện cuộc vận động nhằm cải thiện sức khỏe của các
bà mẹ và trẻ em cho đến cuối đời. Bà mất năm 1964 hưởng thọ 90 tuổi. Nguồn:
SEMAINE MEDICALE 10/4/2008
2/ HÚT THUỐC CÓ HẠI CHO GIẤC NGỦ SÂU.
Những người hút thuốc ngủ kém. Sự phân tích quang phổ của điện não đồ
những người hút 25 điếu thuốc mỗi ngày, đã xác nhận như thế. Những người
này trải qua nhiều thời gian hơn những người không hút thuốc trong giai
đoạn giấc ngủ nhẹ (sommeil léger) với một hoạt động alpha tăng mạnh trên
điện não đồ, và ít thời gian hơn trong giai đoạn giấc ngủ sâu (sommeil
profond) với các sóng delta. Những biến đổi này được quan sát, có tính
đến tuổi, giới tính và những yếu tố khác khả dĩ làm biến đổi chất lượng
của giấc ngủ (tăng thể trọng, uống cà phê..) Nguồn:
SCIENCE ET AVENIR 5/2008
3/ ĐỪNG CHỜ ĐỢI RỒI MỚI CÓ CON
Nếu các phụ nữ cứ trì hoãn quá lúc mang thai, thì họ sẽ có nguy cơ không
thể có thai được nữa. “Tuổi trung bình của thai nghén lần đầu thụt lùi
mãi từ năm này qua năm khác. Ngày nay, ở Pháp tuổi trung bình có thai
lần đầu là 30 tuổi. Ở lứa tuổi này, phụ nữ đang ở ngay trong thời kỳ có
khả năng sinh sản. Nhưng cái « cửa sổ » này chỉ kéo dài một thời gian.
Hầu hết các phụ nữ nghĩ rằng khả năng sinh đẻ của họ bắt đầu từ lúc xuất
hiện những kinh nguyệt đầu tiên và chấm dứt vào lúc mãn kinh. Thực tế,
đó là thời kỳ trong đó người phụ nữ có những chu kỳ kinh nguyệt.Thời gian
có khả năng sinh sản thật sự (là thời kỳ người phụ nữ có thể có con) thì
lại ngắn hơn. Khả năng sinh sản của phụ nữ không bằng nhau trong thời
kỳ này . Khả năng này tối ưu cho đến tuổi 36, sau đó giảm dần cho đến
40 tuổi rồi sụt giảm một cách nguy hiểm từ 40 tuổi trở đi. Sau 43 tuổi
rất ít phụ nữ có thể có một thai nghén tự phát, mặc dầu ai cũng biết có
những phụ nữ mang thai muộn.”. Giáo sư François Olivennes (chuyên gia
về thụ thai nhân tạo ở Paris), trong một tác phẩm tựa đề “ Đừng chờ đợi
quá lâu mới có con ” (N’attendez pas trop longtemps pour avoir un enfant)
được công bố vào tháng 3, với kinh nghiệm của bản thân, đã đưa ra một
tiếng kêu báo động thật sự để cảnh giác các phụ nữ về vấn đề mà họ thường
không hay biết này. Nếu như quả thật có một sự bất bình đẳng thật sự giữa
đàn ông và phụ nữ, thì chính đó là khoảng thời gian quá khác nhau của
thời kỳ có khả năng sinh sản giữa nam và nữ. Nếu chúng ta cho rằng thời
kỳ này bắt đầu ở nam và nữ sau tuổi dậy thì, thì ở phụ nữ trung bình thời
kỳ này dừng lại ở tuổi 42, trong khi đó ở đàn ông được xem là vô hạn ..
Cuốn sách của giáo sư Olivennes, rõ ràng, chính xác, dựa vào các tư liệu,
nhằm thông tin cho các phụ nữ về các giới hạn này. Do thiếu thông tin,
nhiều phụ nữ ở tuổi 40 hoặc hơn phải nhờ đến thụ thai nhân tạo, mà không
còn có một lựa chọn nào khác. “ Tôi tin chắc rằng cần phải phát động những
chiến dịch như các chiến dịch được phổ biến trong truyền thông Hoa Kỳ,
qua đó nhắc lại rằng các phụ nữ phải nghĩ đến có con trước tuổi 40 nếu
như họ thật sự muốn có », giáo sư Olivennes đã viết như thế trong phần
kết luận của cuốn sách của mình . Nguồn : LE FIGARO
28/4/2008
4/ NHỒI MÁU CƠ TIM : TỐT HƠN LÀ HÚT CỤC
MÁU ĐÔNG.
Tạo hình động mạch vành (angioplastie coronarienne) là thủ thuật nhằm
điều trị bệnh nhồi máu cơ tim. Người thao tác đưa một ống thông có quả
bóng nhỏ (une sonde à ballonnet) từ một động mạch ngoại biên lên động
mạch vành bị nghẽn, rồi thổi phồng quả bóng nhỏ này lên để mở huyết quản
và đặt một ống nhỏ dạng hình lưới (hay stent) để duy trì một tuần hoàn
đầy đủ. Theo những kết quả thu được nơi hơn 1.000 bệnh nhân, việc hút
trực tiếp cục máu đông trước khi đặt stent được thể hiện bởi một sự tái
tạo mạch (revascularisation) quan trọng hơn so với việc thổi phồng quả
bóng nhỏ. Nguồn : SCIENCE ET AVENIR 5/2008
5/ TRIỆT SẢN PHỤ NỮ : MỘT KỸ THUẬT BỊT VÒI
TRỨNG BẰNG ĐƯỜNG TỰ NHIÊN CÓ HIỆU QUẢ
BS Caroline Dhainaut, chuyên khoa phụ sản của bệnh viện Bichat giải thích
những lợi ích của kỹ thuật triệt sản không cần phẫu thuật Essure. Từ nay
kỹ thuật này được đề nghị cho các phụ nữ trên 40 tuổi không muốn có con
nữa.
Hỏi : Trong trường hợp nào bà dự kiến một sự triệt sản ?
B.S Caroiline Dhainaut. Chúng tôi đề nghị triệt sản cho các phụ nữ mong
muốn ngừa thai vĩnh viễn bởi vì họ không muốn có con nữa, với điều kiện
là quyết định này phải rõ ràng. Chúng tôi cũng khuyên các phụ nữ có khả
năng bị nguy hiểm cho sức khỏe của họ trong trường hợp có thai (5% các
trường hợp). Một vài bệnh nhân cũng đòi chúng tôi triệt sản để tránh phải
ở vào trong tình huống tế nhị là phải yêu cầu một gián đoạn thai nghén
(interruption de grossesse).
Hỏi : Luật liên quan đến yêu cầu triệt sản quy định điều gì ?
B.S C.D. Luật được ban hành tháng 7 năm 2001, cho phép triệt sản đàn ông
và phụ nữ tuổi thành niên với điều kiện đã tôn trọng một thời hạn suy
nghĩ 4 tháng.
Hỏi : Ngay khi công bố đạo luật này, kỹ thuật nào đã được sử dụng ưu tiên
một. ?
B.S.C.D. Phương thức cổ điển bằng đường nội soi (par voie coelioscopique),
cần gây mê tổng quát và nhập viện 24 đến 48 giờ. Kỹ thuật này nhằm bịt
các vòi trứng bằng các clips (hoặc một phương tiện đóng vòi khác), làm
gián đoạn sự thông thương của các vòi trứng. Loại phẫu thuật này cần thực
hiện hai hoặc ba đường xẻ nhỏ nơi bụng để đưa vào đó những giùi chọc (trocart)
Qua những giùi chọc này, phẫu thuật viên sẽ đưa vào một caméra nhỏ xíu
và các vi dụng cụ ngoại khoa. Nhà phẫu thuật thực hiện động tác giải phẫu
bằng cách nhìn vào một màn ảnh tạo lại hình ảnh phẫu trường.
Hỏi : Với phương thức cổ điển này, những kết quả nào đã đạt được ?
B.S C.D. Do đau bụng sau mổ, cần một thời gian dưỡng sức vài ngày. Nhưng
phương thức này có lợi điểm là có hiệu quả tức thời. Về lâu dài, 10 năm
sau, tỷ lệ thất bại được ghi nhận là 1% bởi vì clip có thể đã bị tuột
hay vòi trứng có thể đã trở nên thông thương trở lại. Các vết sẹo không
còn có thể nhìn thấy nữa.
Hỏi : Tiến bộ trong những kỹ thuật triệt sản Essure là những tiến bộ nào
?
B.S.C.D. Essure, một phương thức triệt sản mới bằng các đường tự nhiên,
đã được hiệu chính ở Hoa Kỳ và Úc 1999. Ở Pháp, phương pháp này đã không
được sử dụng trước năm 2001 và không được đề nghị như là phương pháp được
chọn lựa đầu tiên. Một trong những lợi thế lớn của kỹ thuật này là có
thể thực hiện mà không cần phải gây mê chút nào cả. Kỹ thuật Essure nhằm
thiết đặt qua đường âm đạo và cổ tử cung, một hệ thống đặc biệt làm bịt
các vòi trứng : một loại lò xo chứa các sợi polyéthylène. Một khi đã được
đưa vào trong vòi trứng, các sợi này gây ra một phản ứng mô làm bịt vòi
trứng trong vòng 3 tháng. Can thiệp này kéo dài khoảng 10 phút và chỉ
gây một đau đớn nhẹ, như vài cơn đau kinh nguyệt. Do đó bệnh nhân còn
cần phải tiếp tục phương pháp ngừa thai thông thường trong 3 tháng và
sau đó phải chụp X quang hình bụng để kiểm tra. Nếu phim chụp hình bụng
đạt yêu cầu, chúng ta biết rằng bệnh nhân đã được triệt sản vĩnh viễn,
và phương pháp ngừa thai thông thường có thể dừng lại. Sự kiểm tra này
vô cùng quan trọng bởi vì nếu cần có thể được bổ sung bằng một chụp tử
cung-vòi (hystérosalpingographie).
Hỏi : Và nếu thăm khám phát hiện thiết bị được đặt không đúng vị trí,
thì phải làm gì ?
B.S.C.D. Vấn đề này rất hiếm khi xảy ra ; chỉ trong 2% các trường hợp.
Khi đó sẽ dự kiến một xử trí khác, thích nghi tùy trường hợp.
Hỏi : Về lâu dài, hiệu quả của Essure như thế nào ?
B..S.C.D. Từ khi thực hiện, tỷ lệ thất bại được quan sát là 1 trên 1000
, thấp hơn nhiều so với phương pháp triệt sản bằng đường nội soi bụng.
Hỏi : Theo bà, những lợi điểm chính nào đã khiến giới hữu trách y tế từ
nay đặt kỹ thuật triệt sản bằng đường tự nhiên này thành phương pháp được
chọn lựa ưu tiên ?
B.S.C.D. Có 3 ưu điểm : 1/ Không cần gây mê toàn thân. 2/ Không cần thời
kỳ dưỡng bệnh, tạo nên một phí tổn. 3/ Hiệu quả rõ rệt hơn so với kỹ thuật
triệt sản bằng đường nội soi bụng.
Hỏi : Có những chống chỉ định cho kỹ thuật này hay không ?
B.S.C.D. Có. Không thể đề nghị phương thức này trong lúc đang có thai
; khi một nhiễm trùng âm đạo hay cổ tử cung được phát hiện và nơi những
phụ nữ có vài rối loạn kinh nguyệt ( quá nhiều hoặc quá không đều) Nguồn
: PARIS MATCH 17-23/4/2008
6/ MỘT VI KHUẨN CHỐNG SỎI ĐƯỜNG TIỂU.
Oxalobacter formigenes là một vi khuẩn kỵ khí bình thường hiện diện trong
ống tiêu hóa và có khả năng làm thoái biến oxalate, nguyên nhân của hầu
hết các sỏi tiết niệu . Sự hiện diện của vi khuẩn không sinh bệnh này
trong ruột phải chăng có thể làm giảm nguy cơ phát sinh ra sỏi trong đường
tiết niệu ? Đó là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu quy tụ
500 người mà một nửa đã bị những cơn đau quặn thận lặp đi lặp lại, do
các hòn sỏi oxalate. Nguồn : SCIENCE ET AVENIR 5/2008
7/ THẮNG BỆNH DẠI.
Một thiếu nữ bị bệnh dại, được truyền bệnh bởi một con dơi, và đã được
cứu sống sau khi được đắm chìm trong một cơn hôn mê nhân tạo và đã nhận
các thuốc chống lại virus nhưng đồng thời bảo vệ não bộ. Một trường hợp
đặc biệt mở ra vài hướng để điều trị bệnh này.
Bệnh dại là một trong những bệnh đáng sợ nhất. Bệnh tấn công não bộ và
gây nên sự kích động và những cơn co giật. Trước hết nạn nhân bị những
cơn co thắt thanh quản và không thể nào uống hoặc ăn được. Sau đó là bại
liệt các chi.Tuy vậy những người bị nhiễm bởi virus bệnh dại vẫn tỉnh
táo cho đến lúc chết và có thể truyền đạt những nỗi lo âu và đau khổ của
mình cho các người thân quen. Có một thuốc chủng phòng bệnh dại, ngăn
cản sự phát triển của bệnh, nhưng thuốc chủng chỉ có hiệu quả lúc được
tiêm trước khi bị cắn bởi con vật bị dại hoặc ngay sau đó. Các thầy thuốc
không thể cứu sống một bệnh nhân không được tiêm chủng và bị nhiễm virus
bệnh dại từ nhiều ngày qua. Nói chung, khoảng 2 tháng sau khi bị cắn,
các triệu chứng xuất hiện và tử vong là điều không thể tránh được.
Tuy nhiên, năm 2004, nhóm nghiên cứu của Children’s Hospital ở Milwaukee,
Wisconsin, đã cứu sống một thiếu nữ 15 tuổi. Jeanna Giese đã trở nên bệnh
nhân đầu tiên không được tiêm chủng nhưng đã sống sót sau khi bị bệnh
dại.
Bệnh dại hiếm xảy ra ở Hoa Kỳ và châu Âu, bởi vì các chiến dịch y tế cộng
đồng đã thật sự loại bỏ virus này nơi các động vật nuôi trong gia đình
như chó, mèo và gia súc. Chỉ hai đến ba bệnh nhân chết vì bệnh dại ở Hoa
Kỳ mỗi năm. Ở Pháp tình hình khác hẳn và chỉ có dơi là truyền virus. Tuy
nhiên một điều trị chống lại bệnh dại sẽ rất là hữu ích trong vài nước
đang phát triển, nơi đây bệnh này vẫn còn là một mối quan tâm lớn ; ở
Châu Á , Châu Phi, Nam Mỹ và Đông Âu, Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng
bệnh dại giết chết 55.000 người mỗi năm, phần lớn các nạn nhân bị nhiễm
trùng bởi các vết cắn của chó. Virus bệnh dại phát triển chủ yếu trong
các dây thần kinh và não bộ, do đó phát sinh những triệu chứng co thắt,
bại liệt và lú lẩn, và hiếm khi ở những nơi khác trong cơ thể.
Khi một động vật bị dại cắn một người nào đó, động vật này truyền vào
trong vết thương nước miếng bị nhiễm bởi virus ; siêu vi trùng này tăng
sinh tại chỗ trong các cơ hoặc da. Vì lẽ virus hiện diện với nồng độ rất
thấp và không đi vào trong tuần hoàn máu hay các hạch bạch huyết, nên
hệ miễn dịch của cơ thể không thể phát hiện được virus vào lúc đó. Thời
kỳ tiềm phục (période d’incubation) này nói chung kéo dài từ hai đến 8
tuần, nhưng có thể kéo dài nhiều năm.Vào một lúc nào đó, virus tiến đến
các dây thần kinh và len lỏi vào trong đó: lúc đó thì chẳng còn làm gì
được nữa.
Vào cuối thế kỷ thứ XIX, Louis Pasteur đã khám phá ra rằng một mũi tiêm
virus bệnh dại “ bị giết chết ” (không gây bệnh) kích thích hệ miễn dịch
sản xuất các kháng thể chống lại virus. Ngoài ra ông đã chứng nhận rằng
thời gian cần thiết cho cơ thể phát triển phản ứng miễn dịch này là dưới
thời gian tiềm phục của bệnh. Pasteur đã tiêm các virus bị giết chết,
được phân lập từ tủy sống của các con thỏ bị nhiễm trùng, vào những người
bị chó dại cắn : những người này đã sống sót nhờ thụ đắc một miễn dịch
chống dại trước khi xuất hiện các triệu chứng.
Tuy nhiên bệnh dại luôn luôn có thể phát triển giữa lúc tiêm chủng và
lúc hoạt hóa phản ứng miễn dịch, vì vậy ngày nay các thầy thuốc cho các
bệnh nhân các kháng thể đặc hiệu để che chở trong khoảng thời gian này.
Ngoài ra điều quan trọng là phải rửa thật kỹ vết thương bằng nước và xà
phòng, bởi vì động tác này giết chết virus bằng cách phá hủy màng của
nó. Phương pháp dự phòng sau khi tiếp xúc với virus bệnh dại ( rửa sạch
vết thương, 5 mũi tiêm vaccin và một liều kháng thể ) đã không bao giờ
thất bại ở Hoa Kỳ từ khi được đưa vào thực hiện năm 1975.
Nhưng trường hợp của Jeanna thì khác. Cuộc chiến đấu của cô bé chống lại
bệnh dại bắt đầu năm 2004 khi một con dơi bay vào nhà thờ làm vỡ nát một
cửa kính và làm Jeanna bị thương ở ngón tay trỏ. Những chiếc răng của
một con dơi rất nhỏ và sắc bén như một lưỡi dao cạo. Thường thường, người
ta không cảm thấy các vết cắn, khó phát hiện, chính vì vậy mà giới hữu
trách y tế khuyên chủng ngừa phòng bệnh dại cho mọi người đã tiếp xúc
với một con dơi hay đã ngủ trong một căn phòng mà một con dơi đã được
tìm thấy. Jeanna đã rửa vết cắn bằng eau oxygénée, nhưng không được tiêm
chủng phòng bệnh dại
Virus bệnh dại tăng sinh trong ngón tay bị thương của cô trong khoảng
một tháng, rồi theo một dây thần kinh và nhanh chóng đến não bộ, với vận
tốc 1 cm mỗi giờ.Vì mục tiêu là hệ thần kinh, nơi đây nhiều loại tế bào
miễn dich không tác động, vì vậy cơ thể chỉ phát hiện virus lúc nó đã
xâm nhập ồ ạt tủy sống và não bộ. Khi đó bệnh nhân mắc phải bệnh dại,
bị liệt các chi và mất toàn bộ cảm giác ngoại biên bởi vì những dây thần
kinh vận động và cảm giác bị nhiễm trùng.
Vào tháng 10 năm 2004, một tháng sau khi bị dơi cắn, Jeanna có triệu chứng
cảm cúm. Sau đó cô bị tê bàn tay trái, bị yếu chân trái và nhìn đôi. Cô
được nhập viện và trở nên ngủ lịm (léthargique) và bị thất điều vận động.
Những triệu chứng này là đặc điểm của viêm não, một thương tổn não bộ
khá thường xảy ra.
Phải làm gì khi thật sự đó là bệnh dại ? Kết cục cổ điển là không có gì
có thể điều trị bệnh dại khi các triệu chứng đã xuất hiện ; trong trường
hợp Jeanna, chúng ta chỉ có thể điều trị nhằm xoa dịu sự đau đớn mà thôi...trừ
phi một kết quả nghiên cứu mới cho phép dự kiến một điều trị khác. Cách
nay gần 30 năm, các chuyên gia đã chứng nhận rằng các bệnh nhân bị bệnh
dại chết mà không có các bất thường ở não bộ.Và khi chết sau nhiều tuần
được điều trị ở phòng hồi sức, người ta không còn tìm thấy virus trong
cơ thể nữa. Như thế, hệ miễn dịch người loại bỏ virus với thời gian, nhưng
sự trừ tiệt này quá chậm nên không cứu sống bệnh nhân được. Do đó một
chiến lược đã được phát họa : virus bệnh dại dường như có khả năng chuyển
hướng các chức năng của não bộ để giết bệnh nhân, nhưng không làm thương
tổn mô não, do đó các nhà nghiên cứu đã đặt não bộ của Jeanna trong trạng
thái nghỉ ngơi bằng cách làm bệnh nhân chìm đắm trong một trạng thái mất
tri giác kéo dài. Như vậy Jeanna vẫn sống khá lâu để hệ miễn dịch của
cô được hoạt hóa... và loại trừ virus. Hệ miễn dịch của Jeanna phải cần
khoảng 7 ngày để sản xuất các kháng thể chống lại virus bệnh dại. Nhưng
loại thuốc nào được sử dụng để làm cô ở trong tình trạng hôn mê ? Vài
công trình nghiên cứu nói đến vai trò bảo vệ của các chất dẫn truyền thần
kinh (neurotransmetteurs) hay những can thiệp khác nhằm bảo vệ não bộ
chống lại các thương tổn. Năm 1992, các công trình của nhóm nghiên cứu
của Henri Tsiang của Viện Pasteur Paris đã chứng tỏ rằng một thuốc gây
mê, kétamine, có thể cản virus bệnh dại trong các tế bào thần kinh của
vỏ não chuột.
Vì lẽ não bộ của Jeanna đã bị xâm chiếm bởi virus, do đó thêm virus dưới
dạng một vaccin chứa các virus bị giết chết là không có hiệu quả. Điều
này có thể có hại vì làm chuyển hướng phản ứng miễn dịch chống lại virus
đã hiện diện trong não bộ của Jeanna.Vì những lý do tương tự nên các nhà
nghiên cứu đã không tiêm các kháng thể đặc hiệu đối với bệnh dại hay các
interféron. Do đó Jeanna được đặt một tuần trong tình trạng hôn mê, và
máu và nước não tủy đã được phân tích trong thời kỳ này để xác nhận sự
sản xuất các kháng thể. Sau một tuần, cơ thể cua Jeanna sản xuất những
số lượng lớn các kháng thể có tác dụng “ làm vô hiệu hóa ”, ngăn cản virus
xâm nhập các tế bào mới. Sau 7 ngày, Jeanna được làm tỉnh trở lại. Cô
mở mắt và phục hồi lại các phản xạ ở cẳng chân ngày hôm sau. 6 ngày sau
cô nhìn mẹ và mở miệng để ăn. Sau 12 ngày, cô ngồi dậy trên giường. Nguồn
: POUR LA SCIENCE 5/2008
8/ ALBERT
HOFMAN ĐÃ KHÁM PHÁ RA LSD.
Nhà khoa học người Thụy Sĩ đã qua đời ở tuổi 102. Nhà dược lý-hóa học
thụy sĩ đã qua đời hôm thứ ba sau một cơn đau tim tại tư thất của ông
ở Burg, trong canton de Bâle-Campagne, ở tuổi 102. Chính ông vào năm 1938
đã tách được cái chất mà sau đó được gọi tên là LSD, rồi đã khám phá do
tình cờ các tác dụng gây ảo giác của chất này. Sinh năm 1906 ở Baden,
Hoffmann ngay năm 1929 và trong hơn 40 năm đã làm việc cho các phòng bào
chế của nhóm dược phẩm Sandoz ở Bâle. Chính ở đó ông đã phân lập diéthylamide
de l’acide lysergique (LSD), một alcaloide dẫn xuất của các hợp chất của
ergot de seigle
Ergot de seigle, một loài nấm đã được biết đến do các tác dụng thần kinh
và tâm thần, gây nên đặc biệt là “ danse de Saint-Guy ”. Ở Sandoz, các
nhà hóa học hy vọng rút ra các chất có thể hữu ích trong y học, đặc biệt
là trong tâm thần học.
Năm 1943, Hoffmann đã khám phá ra những tính chất của LSD sau khi đã để
rơi do vô ý vài giọt chất này trên một ngón tay. Nhà dược sĩ-hoá học đã
kể lại sau đó rằng ông ta đã phải mau chóng đi về nhà, vì bị chóng mặt
và có cảm giác kỳ lạ. Về đến nhà, ông bắt đầu có những “ ảo ảnh ”. Hofffmann
đã kể lại rằng “ Tất cả những gì ông nghĩ lúc đó có vẻ như bằng màu sắc
và bằng các hình ảnh ”. 3 ngày sau đó, một lần nữa Hoffmann đã trắc nghiệm
dưới sự theo dõi những tác dụng của LSD, nhưng với một liều mạnh hơn.
Khi đó, đó là một cuộc “ du hành ” về nỗi lo âu “ trong một thế giới khác,
với một thời gian khác ”.
Hoffmann và các đồng nghiệp sau đó cho rằng sự sử dụng LSD 25 có thể hữu
ích trong nghiên cứu thần kinh học và tâm thần học, đặc biệt là trong
các điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Sandoz đã thương mại hóa LSD 25
dưới tên Delysid
Trong những năm 50, LSD trở thành thuốc được sùng bái (drogue-culte).
Nhưng những hậu quả có hại của thuốc này ( tự tử, giết người dưới ảnh
hưởng của thuốc) đã khiến chính phủ Hoa Kỳ năm 1966 cấm lưu hành, cũng
như sau đó bởi các chính phủ khác. Về phần mình, Hoffmann đã luôn luôn
bào chửa là đã không muốn đem sử dụng LSD như một thuốc ma túy. Đối với
ông, LSD chỉ là một dược phẩm. Nguồn : LE SOIR 2/5/2008
9/ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG BẰNG GHÉP TRONG
CÁNH TAY.
François Pattou điều khiển đơn vị Inserm liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire)
điều trị bệnh đái đường, ở Lille (Pháp)
Từ 7 năm nay, hơn 600 bệnh nhân đái đường trên thế giới đã nhận ghép những
tế bào sản xuất insuline ở gan. Để được an toàn hơn mảnh ghép vừa được
thực hiện trong cơ.
Hỏi : Khoảng 20 nhóm nghiên cứu trên thế giới đang điều trị bệnh đái đường
bằng liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire). Đó là gì vậy ?
François Pattou : đó là một kỹ thuật cho phép chúng ta nhiên hậu sẽ không
cần đến ghép tụy tạng. Kỹ thuật ghép tụy tạng là khó khăn bởi vì, để được
ghép, một tụy tạng phải chứa đủ các đảo nhỏ Langherans (ilôts de Langherans),
tức là các tế bào sản xuất insuline. Thế mà cứ hai tụy tạng thì chỉ có
một là đạt được tiêu chuẩn này mà thôi. Do đó, từ vài năm nay, chúng tôi
chỉ tách ra các đảo nhỏ Langherans và tiêm chúng vào trong tĩnh mạch cửa
của những bệnh nhân đái đường trầm trọng. Tĩnh mạch này, mang máu phát
xuất từ hầu hết các nội tạng của bụng, tận cùng trong gan. Do đó các tế
bào tụy tạng lưu lại đó và sản xuất đủ insuline để bệnh nhân có glucose
huyết bình thường. Hiện chúng tôi đang còn trong giai đoạn lâm sàng
Hỏi : Tại sao lại tìm cách ghép các tế bào tụy tạng này trong cơ của cẳng
tay ?
François Pattou : để bảo đảm an toàn hơn cho mảnh ghép này. Điều trị bệnh
đái đường bằng liệu pháp tế bào có một mối lợi lớn : phép điều trị không
hung bạo. Không cần can thiệp ngoại khoa để tiêm các tế bào vào tĩnh mạch
cửa. Nhưng vẫn có một nguy cơ xuất huyết gan lúc thực hiện động tác này.
Và những nghiên cứu nơi động vật đã cho thấy rằng các đảo nhỏ Langherans
khi được ghép vào gan có thể bị các « cơn giông tố viêm » (orages inflammatoires)
phát khởi ở trong cơ quan này. Do đó một nhóm nghiên cứu Thụy Điển đã
có ý nghĩ ghép những tế bào này vào trong cẳng tay của một cô bé nhỏ.
Cơ cẳng tay dễ nhận mảnh ghép, có rất nhiều mạch máu và ít chịu phản ứng
viêm. Và kết quả tốt. Vì vậy trong tương lai vị trí cẳng tay sẽ được sử
dụng để ghép thường xuyên hơn.
Hỏi : Loại ghép này phải chăng được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân đái
đường.
François Pattou : Không, loại ghép này chỉ áp dụng cho những bệnh nhân
với bệnh khả năng khiến họ chấp nhận nguy cơ của một điều trị bằng thuốc
làm suy giảm miễn dịch. Thật vậy việc ghép các đảo nhỏ Langherans hàm
ý sử dụng điều trị suy giảm miễn dịch suốt đời, với các hậu quả âm tính
do điều trị này mang lại : các bệnh cơ hội, độc tính lên thận, viêm gan.
Cái ngày nào đó nếu chúng ta biết cách làm giảm sự suy giảm miễn dịch
này, khi đó chúng ta sẽ nhận điều trị nhiều bệnh nhân hơn bằng kỹ thuật
này. Nguồn : LA RECHERCHE 4/2008
10/ CÀ PHÊ KHÔNG CÓ TÁC DỤNG LÊN NHỊP TIM.
Nhiều bệnh nhân cho rằng cảm thấy hồi hộp khi uống quá nhiều cà phê. Tác
dụng của caféine lên tỷ lệ rối loạn nhịp tim đã được thăm dò qua một công
trình nghiên cứu viễn cảnh của Đan mạch, được thực hiện bởi Frost và các
cộng sự viên trên 48.000 người. Sau khi uống những lượng quan trọng caféine
( 997 mg caféine mỗi ngày), không có một tác dụng nào đã được quan sát
cả. Một công trình nghiên cứu viễn cảnh khác của Hoa Kỳ, được thực hiện
bởi Klatsky và các cộng sự viên, đã theo dõi trong 8 năm 129.000 người
và đã không thể xác lập được mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cà phê và việc
xảy ra tử vong do các rối loạn nhịp tim. Cũng vậy không có một tương quan
nào thuộc loại này được phát hiện qua các nghiên cứu trong đó caféine
được tiêu thụ với các liều lượng lên đến 450 mg mỗi ngày. Cũng có vẻ như
là cà phê không ảnh hưởng loại hoặc tần số các rối loạn nhịp tim. Trái
lại, việc hạn chế tiêu thụ cà phê không chứng tỏ tác dụng lên tim đập
nhanh thất (tachycardie ventriculaire).
Nguồn : LE MAGAZINE DES GLEMS 4/2008
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/5/2008)
Copyright,
2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn
Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |