Thời Sự Y Học số 74
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỬ DỤNG VITAMINE KHÔNG PHẢI LÀ KHÔNG NGUY HIỂM
Theo một công trình phân tích có quy mô rất lớn, được công bố bởi các nhà nghiên cứu Đan Mạch, các thuốc hỗ trợ như vitamine A, B, E và bêta-carotène có thể làm gia tăng tỷ lệ tử vong.
Việc sử dụng các chất bổ sung này không những đã không cải thiện tình trạng sức khỏe, mà lại còn có hại và làm gia tăng nguy cơ bị chết non. Đặc biệt trong trường hợp của vitamine A (mà chúng ta tìm thấy tự nhiên trong trứng, gan và các loại cá béo) sự sử dụng thuốc bổ này làm gia tăng các nguy cơ tử vong 16%. Đó là những kết luận của một công trình phân tích khổng lồ của 67 nghiên cứu được sưu tập bởi các nhà nghiên cứu nổi tiếng của đại học Copenhague. Theo phân tích này, không những vitamine A mà còn cả vitamine E, được tìm thấy trong dầu thực vật, trong các quả hồ đào (noix) và các quả phỉ (noisette), có thể ngăn cản các phản ứng phòng vệ tự nhiên của cơ thể.
Để thực hiện điều này, BS Goran Bjelakovic và các đồng nghiệp đã nghiên cứu các dữ kiện của Cochrane Library (một trong những ngân hàng tồn chứa các dữ kiện thử nghiệm điều trị tốt nhất thế giới) về việc sử dụng các chất bổ sung như vitamine A, C, E, bêta-carotène và sélénium, được cho là có tác dụng ngăn ngừa sự xuất hiện các bệnh tim mạch và ung thư do tác dụng chống lại “stress oydatif ”, nhờ sự loại bỏ các “ gốc tự do ” (radicaux libres). Các nhà nghiên cứu đã theo dõi tình trạng sức khỏe của 233.000 người uống đều đặn những vitamine này với mục đích phòng ngừa. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng các liều vitamine A, E và bêta-carotène làm gia tăng các nguy cơ chết non với các tỷ lệ lần lượt là 16%, 4% và 7%. Một nguy cơ tuy thấp nhưng không phải là số không.
ĐƯỢC CHO LÀ CÓ LỢI
Vitamine C dường như không bị liên hệ bởi những vấn đề của các vitamine nói trên. Nhưng các nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra thận trọng, ưa thích phát biểu rằng cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn. Điều này cũng đúng đối với sélénium (hiện diện rất nhiều trong cá ngừ hoặc gan bê)
Nhóm nghiên cứu Đan Mạch kết luận rằng dầu sao cũng không có một bằng cớ nào để cổ vũ cho việc sử dụng vitamine như chất bổ sung nhằm phòng ngừa nguyên phát hay thứ phát. BS Goran Bjelakovic và nhóm nghiên cứu của ông đã chứng tỏ vào tháng 10 năm 2004 (trong The Lancet) rằng một điều trị như thế so với một placebo không đem lại một lợi ích hay tác dụng bảo vệ nào cả nhằm chống lại sự phát sinh của 5 loại ung thư (thực quản, dạ dày, đại-trực tràng, gan và tụy tạng). Thế mà còn tệ hơn là đằng khác vì tỷ lệ tử vong toàn thể gia tăng một cách đáng kể về mặt thống kê trong nhóm được "làm giàu" bởi các vitamines
Vì những lý do gì, các viên thuốc vitamine bé nhỏ này, từ lâu được cho là có lợi, mà giờ đây lại có những tác hại như thế? Ở Anh quốc gần 12 triệu người Anh sử dụng một cách đều đặn các viên thuốc vitamine này, nhưng giới hữu trách y tế ưa thích tán dương các giá trị của một chế độ ăn uống đa dạng và quân bình, nhiều trái cây và rau, mang lại các vitamine tự nhiên cần thiết. Ở Pháp, 22% các người Pháp dùng ít nhất một chất bổ sung vitamine trong 12 tháng vừa qua. Trong xã hội phương Tây, các nguy cơ thiếu vitamine là rất thấp, trừ những người khốn khổ nhất. Nguồn: LE FIGARO 17/4/2008
2/ PHẪU THUẬT TÁI TẠO KHÍ QUẢN ĐẦU TIÊN

Một nhóm các nhà nghiên cứu người Pháp đã thành công chế tạo một khí quản mới cho các bệnh nhân, từ các mãnh da và sụn của chính những bệnh nhân này. Lần đầu tiên, hai nhà phẫu thuật người Pháp, G.S Philippe Dartevelle (trung tâm ngoại khoa Marie-Lannelongue, ở Plessis-Robinson) và BS Frédéric Kolb (thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình ở Viện Gustave-Roussy, ở Villejuif) đã thành công tái tạo khí quản nơi nhiều bệnh nhân. Họ đã trình bày các công trình này ở Valence vào khóa học quốc tế đầu tiên về phẫu thuật khí quản.
Khí quản, cơ quan mảnh dẻ có thể bị biến dạng bởi các thủ thuật thông nội khí quản khi hồi sức cấp cứu hay lúc gây mê, lúc bị xâm nhập bởi các khối u ung thư, hoặc nếu là nơi xuất hiện các rò (fistules) giữa khí quản và thực quản, sẽ là ác mộng của các nhà phẫu thuật ngực. Bởi vì khí quản, được bao phủ bởi một lớp biểu mô hô hấp, với các lông mao nhằm tống xuất niêm dịch và bụi bặm, và được cấu tạo bởi các vòng sụn có tác dụng làm mở, nằm kẹt giữa các huyết quản lớn của tim và thực quản. Chỉ cần một khối u nhỏ trong khí quản cũng đủ gây ngạt thở khá nhanh, hoặc những nhiễm trùng lặp đi lặp lại.
Thế mà mãi đến hiện nay, các nhà ngoại khoa đã không có một giải pháp thật sự vừa ý để thay thế khí quản. Người ta đã đề nghị “ thông ống ” (tuber) khí quản , bằng các vật liệu khác nhau, như các stents, các ống silicone, giữa thanh quản và các phế quản, nhằm tái lập sự liên tục. Nhóm nghiên cứu của GS Martinod (bệnh viện Avicenne) năm qua đã đề nghị dùng một mảnh ghép động mạch chủ bụng để thay thế khí quản bị bệnh, nơi một bệnh nhân bị ung thư khí quản. Hiện sự đánh giá lâm sàng đang được thực hiện ở nhiều trung tâm của Pháp.
Từ mười năm qua, các phẫu thuật ghép khí quản đã được thực hiện thành công trên heo, nhưng cho đến nay chưa bao giờ thành công trên người. Khí quản được tiếp vận máu rất kém, bằng các huyết quản nhỏ xuyên (petits vaisseaux perforants) : khí quản là cơ quan không có động mạch hay tĩnh mạch riêng. Và trong trường hợp ghép khí quản, nguy cơ hoại tử thường xảy ra. Hiện nay, các dự án ghép khối thanh quản-khí quản-thực quản ( greffe de bloc larynx-trachée-œsophage) với các mạch máu vẫn còn là... dự án .
KỸ THUẬT LAMBEAU RADIAL
Chính trong bối cảnh này mà một ngày nào đó năm 2004, Philippe Dartevelle đã tiếp Philippe Soto, một kỹ sư công chánh người Toulouse, 35 tuổi, đến khám bệnh. Thất vọng bởi vì không có một thầy thuốc ngoại khoa nào đề nghị cho ông một giải pháp : được phẫu thuật năm 2003 vì những “ hòn u ” (nodules) của tuyến giáp trạng . Nhưng thật ra đó là một lymphome của trung thất (médiastin) và thực quản của bệnh nhân bị xâm nhập bởi ung thư. Vài ngày sau phẫu thuật, một rò (fistule) đường kính 4-5 cm xuất hiện giữa thực quản và thành sau của khí quản. Không thể nào uống hoặc ăn mà không bị sai đường, ngay việc nuốt nước miếng cũng không thể được ! Được nuôi ăn bằng ống dạ dày, bệnh nhân lại còn chịu những buổi hóa học trị liệu nặng nề. Vào tháng 6 năm 2004, các thầy thuốc ngoại khoa của CHU Marseille thiết đặt một ống trong khí quản và một ống khác trong thực quản. “Một năm không ăn, tôi đã mất 15 kg, một năm không uống, không ngủ bởi vì bị ho. Tôi 35 tuổi, tôi không thể sống mãi như thế này”, Philippe Soto đã giải thích như vậy.
Giáo sư Dartevelle, cộng tác với đồng nghiệp Villejuif Frédéric Kolb, đã đề nghị với bệnh nhân một kỹ thuật mới : kỹ thuật được gọi là lambeau radial. Các nhà phẫu thuật lấy trên cẳng tay một bề mặt da rộng lớn, xuống tận lớp cân mạc (aponévrose) ; tất cả, gồm cả động và tĩnh mạch quay (artère et veine radiale) được may theo hình túi tiền (en portefeuille) vào nơi khí quản. Giáo sư Dartevelel giải thích "12 giờ phẫu thuật để ghép một mô được phân bố mạch (tissu vascularisé) có khả năng chống lại áp lực". Cuộc phẫu thuật thành công: “Hai tuần sau mổ, tôi đã có thể uống ly nước đầu tiên, Philippe Sota đã nói như vậy. Một sự hồi sinh. Nguồn: LE FIGARO 29-30/3/2008
3/ UỐNG RƯỢU LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ

Việc uống rượu (alcool) làm gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư vú. Công trình nghiên cứu lớn nhất về chủ đề này, trên hơn 184.000 phụ nữ, được thực hiện bởi Viện ung thư quốc gia Hoa kỳ, đã phát hiện rằng việc uống một hay hai ly rượu mỗi ngày cũng đủ làm tăng 30% nguy cơ mắc phải ung thư vú. Nếu uống 3 ly hay nhiều hơn sẽ làm gia tăng nguy cơ 50%. Và điều đó độc lập với loại rượu được tiêu thụ. Công trình nghiên cứu này đã được trình bày tuần qua trong một buổi hợp của Hiệp hội nghiên cứu Hoa kỳ ở San Diego. Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, các kết quả này được giải thích bởi một sự biến đổi của chuyển hóa của các hormones oestrogènes, gây nên bởi rượu. Nguồn: LE FIGARO 15/4/2008
4/ CÁC CHẤT MỠ HYDROGENE LÀM DỄ SỰ PHÁT SINH UNG THƯ VÚ

Các acide béo trans (AGT: acides gras trans), được sử dụng nhiều trong công nghiệp thực phẩm, là một yếu tố nguy cơ của ung thư vú.
Hiện nay không có ai thật sự hiểu được tại sao từ 30 năm nay các trường hợp ung thư vú lại bùng nổ đến như vậy trong các nước giàu có. Mặc dầu từ hai năm qua có hơi tạm ổn do việc sử dụng hormone để điều trị chứng mãn kinh ít hơn), mặc dầu thế người ta vẫn quan sát thấy rằng ở Pháp từ năm 1980, hàng năm có một gia tăng 2,4% số các trường hợp mới, và vào năm 2005 đã có hơn 49.000 trường hợp ung thư vú được chẩn đoán.
Hẳn là sự điều trị chứng mãn kính bằng hormone, sự việc có ít con hơn, có con muộn hơn, không cho con bú là những yếu tố nguy cơ đã được xác lập rõ ràng. Chứng béo phì cũng là một yếu tố tăng hoạt, nhưng tác dụng của các thành phần khác nhau của thức ăn từ trước đến nay đã không được thật sự nghiên cứu đầy đủ.
Trong mục đích tìm hiểu các yếu tố của thế giới hiện đại góp phần làm gia tăng ung thư vú, công cuộc điều tra E3N trên 100.000 phụ nữ ở Pháp, được thực hiện từ năm 1995 bởi Inserm mang lại nhiều thông tin. Một phần của điều tra này, được công bố trong American Journal of Epidemiology đã kết luận rằng sự tiêu thụ với số lượng quan trọng một vài loại chất béo được sử dụng ồ ạt trong công nghiệp thực phẩm (các axit béo trans) đã làm tăng gấp đôi nguy cơ bị ung thư vú.
Các axit béo trans (AGT) được phát sinh ra là do sự xử lý các dầu thực vật (như dầu cọ) bằng phản ứng hydrogénation trong công nghiệp. Lợi ích của phản ứng hydrogénation là các AGT được sản sinh không tổn phí lắm và sau đó chúng được bảo quản dài lâu. Các axit béo trans này có thể được sản xuất với quy mô lớn và được chứa (mà khách tiêu thụ không hay biết) trong nhiều sản phẩm thực phẩm nông nghiệp (biscuit, món ăn làm sẵn, fastfood). Vấn đề duy nhất là người ta đã chứng tỏ trong những năm 1990 rằng các axit béo trans làm gia tăng nguy cơ tai biến tim mạch. Các axit béo trans, đặc biệt có hại đối với cơ thể. Thật vậy một mặt chúng làm gia tăng nồng độ cholestérol xấu (LDL). Mặt khác chúng làm giảm nồng độ cholestérol tốt (HDL). Một tác dụng phối hợp với hậu quả là làm gia tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch và động mạch vành.
Các nhà nghiên cứu Pháp của công trình nghiên cứu E3N đã đo lường các chỉ dấu sinh học (biomarqueurs) khác nhau của thực phẩm trong máu, đặc biệt là nồng độ axit béo trans, để đánh giá tác dụng của chúng lên ung thư vú. Tính tổng cộng, sự đo lường này đã được thực hiện trên 365 phụ nữ bị ung thư vú (những mẫu nghiệm mẫu được lấy trước khi chẩn đoán) và trên 72 phụ nữ chứng, cùng lứa tuổi nhưng không bị ung thư vú.
Các kết quả cho thấy rằng nguy cơ bị ung thư vú gia tăng với nồng độ trong máu của axit béo trans, phản ảnh sự tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp thực phẩm. Các phụ nữ có những nồng độ axit béo trans cao trong máu có nguy cơ bị một ung thư vú 2 lần cao hơn so với các phụ nữ có nồng độ thấp nhất. “Chúng ta không thể khuyến cáo giảm tiêu thụ các sản phẩm chứa các axit béo trans nguồn gốc công nghiệp, các tác giả đã giải thích như vậy. Các axit béo trans phải được chỉ rõ trên nhãn của những sản phẩm chứa chúng”. Trái với một vài khẳng định, công trình này đã không làm rõ hiệu quả bảo vệ của các oméga 3 chống lại ung thư vú. Nguồn: LE FIGARO 15/4/2008, LE SOIR 12-13/4/2008
5/ UỐNG NƯỚC CHO ĐÃ KHÁT LÀ ĐỦ

Dan Negolanu và Stanley Goldfarb, thuộc Renal, Electrolyte and Hypertension Division ( Philadelphie), công bố trong Journal of the American Society of Nephrology một duyệt xét lại các tài liệu y học về các lợi ích của việc uống mỗi ngày 1,5 lít nước, theo những lời khuyến nghị hiện nay. Kết luận của các tác giả là không có bằng cớ về những lợi ích xác thực, đối với việc uống lượng nước nhiều hơn lượng mà cảm giác khát đòi hỏi.
Các chuyên gia đã xác nhận rằng uống nhiều nước cho phép “thải bỏ các độc tố, mang lại sự hoạt động tốt cho các cơ quan, làm giảm sự tăng thể trọng và cải thiện trương lực của da”.
Để làm sáng tỏ vấn đề, các tác giả đã tập hợp các nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành về đề tài này. Họ tìm thấy các luận cứ xác đáng để chứng tỏ rằng những người sống ở các vùng có khí hậu nóng và khô, cũng như các vận động viên điền kinh, đều có nhu cầu gia tăng về nước. Và rằng sự gia tăng nhu cầu nước có thể có lợi cho những tình trạng bệnh lý nhất định. Nhưng đối với những người lành mạnh thì hoàn toàn không phải như vậy.
Các nghiên cứu trong đó sự tiêu thụ nước được gia tăng trong mục đích chính là để cải thiện chức năng thận và bài xuất các độc tố, mặc dầu chứng tỏ một tác động lên sự thanh thải Na và Urée, nhưng không cho thấy một lợi ích lâm sàng nào đó.
Các nghiên cứu trong đó hiệu quả của nước lên hoạt động của các cơ quan đã được trắc nghiệm, cho thấy rằng tốc độ nước được uống có một hiệu quả : tốc độ uống nhanh gây nên sự thải nhanh, tốc độ uống chậm làm nước dễ bị giữ lại trong cơ thể. Nhưng không có một lợi ích nào trên sự hoạt động của các cơ quan cả. Các nghiên cứu về việc phòng ngừa sự tăng thể trọng liên kết với cảm giác no đầy do uống nước nhiều cũng không được thuyết phục
Mặt khác, người ta thường cho là một tình trạng thiếu nước gây nên đau đầu. Ở đây cũng thiếu các dữ kiện. Sau cùng, nước không phải là thuốc làm đẹp : không có luận cứ khoa học từ thí nghiệm lâm sàng chứng tỏ rằng uống nhiều nước cải thiện trương lực của da. Tóm lại, mặc dầu chúng ta không biết lời khuyến cáo và các ý niệm này xuất phát từ đâu, nhưng dầu sao chúng cũng đáng được xem xét lại. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 11/4/2008
6/ TIẾNG ĐỘNG CỦA PHI CƠ GÂY CAO HUYẾT ÁP NƠI NGƯỜI NGỦ

Để chứng minh điều đó, các nhà nghiên cứu Châu Âu đã đo, trong một đêm và cứ mỗi 15 phút, huyết áp của 140 người tình nguyện cư ngụ gần 4 phi trường lớn.Trung bình, sự đi qua của máy bay làm gia tăng huyết áp thu tâm (cực đại) 6,2 mm thủy ngân và huyết áp trương tâm (tối thiểu) 7,4 mm thủy ngân. Các tác giả đánh giá rằng các đợt cao huyết áp xảy ra sau một sự cố âm thanh có cường độ mạnh, dầu cho bản chất của tiếng động đó là gì đi nữa. Nguồn: SCIENCE ET VIE 4/2008
7/ ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP SAU 80 TUỔI?

Mặc dầu những nghiên cứu trước đây gợi ý rằng điều trị cao huyết áp nơi các người già 80 tuổi hoặc hơn là không có lợi lộc gì, nhưng theo một công trình quy mô lớn mới đây thì dường như việc điều trị chống cao huyết áp mang lại một lợi ích chắc chắn: ít tai biến mạch máu não hơn, ít suy tim hơn và một tuổi thọ cao hơn.
Cao huyết áp được biết là nguồn gốc của các bệnh tim mạch. Huyết áp tâm thu gia tăng một cách liên tục theo đường thẳng, ở đàn ông cũng như phụ nữ. Các trị số của huyết áp có liên hệ với việc xảy ra một tai biến mạch máu não, các bệnh tim do thiếu máu cục bộ (cardiopathies ischémiques) và tử vong do nguyên nhân tim mạch. Một công trình quy mô lớn chứng tỏ rằng các bệnh nhân với huyết áp trên 180 mmHg có nguy cơ bị một tai biến mạch máu não chết người 15 lần nhiều hơn, và có nguy cơ bị một bệnh tim do thiếu máu cục bộ 7 lần nhiều hơn, so sánh với những người có trị số huyết áp bình thường. Điều chứng nhận này dường như được áp dụng cho tất cả các loại tuổi, mặc dầu ở các bệnh nhân cao tuổi hơn, nguy cơ rõ rệt thấp hơn: những người từ 50 đến 59 tuổi với cao huyết áp (trị số trên 180 mmHg) có nguy cơ bị tai biến mạch máu não 16 lần cao hơn, trong khi đó cũng mối nguy cơ này nơi những người trên 80 tuổi với cùng các trị số huyết áp, chỉ 3 lần cao hơn.
KHÔNG BAO GIỜ QUÁ MUỘN
Năm 1937, thầy thuốc bệnh tim lỗi lạc Paul Dudley White đã viết rằng “cao huyết áp trong trường hợp các động mạch vành và các mạch máu não bị hẹp với mức độ quan trọng, có thể là một cơ chế bù trừ quan trọng và do đó không nên điều trị cao huyết áp trong trường hợp này”... Từ đó biết bao nhiều nước đã chảy qua cầu và các ý kiến đã không ngừng tiến triển. Nhưng vẫn còn tồn tại một mối hoài nghi nào đó về sự cần thiết phải nhờ đến các thuốc chống cao áp nơi các người già. Công trình nghiên cứu mới đây HYVET (Hypertension in the Very Elderly Trial) vừa đánh tan mối nghi ngờ này. Công trình nghiên cứu có quy mô lớn này, được thực hiện nơi hơn 3.800 lão ông 80 tuổi, đã đi đến kết luận rằng việc điều trị tích cực bệnh cao huyết áp cũng hữu ích nơi loại tuổi này. Nguy cơ xảy ra tai biến mạch máu não thấp hơn 30% và nguy cơ bị suy tim giảm 64%. Kết quả bất ngờ và chưa từng có: tỷ lệ tử vong do tất cả các nguyên nhân cũng được thu giảm 21%.
Các quan sát này mang lại lời đính chính đối với những phỏng đoán của các công trình nghiên cứu trước đây, theo đó các chức năng xấu của thận và tim, sự thương tổn của áp thụ quan (barorécepteur), giảm huyết áp thế đứng (hypotension orthostatique), các rối loạn nhận thức, tất cả các loại tác dụng phụ do việc uống nhiều thuốc và những tương tác thuốc, sẽ làm mất hiệu quả của các lợi ích lâm sàng của việc điều trị cao huyết áp.
Công trình nghiên cứu này chứng tỏ rõ ràng rằng sẽ không bao giờ quá muộn lúc tiến hành một điều trị cao huyết áp. Mặc dầu các lợi ích chắc chắn là ít rõ rệt hơn so với những người trẻ hơn, tuy nhiên vẫn có ý nghĩa. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 15/4/2008
8/ PHÒNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG : MỘT THÁCH THỨC ĐỐI VỚI Y TẾ CÔNG CỘNG

Trên thế giới, cứ mỗi 2 phút có một phụ nữ chết vì hậu quả của một ung thư cổ tử cung. Từ nay, sự phòng ngừa ung thư này là chuyện dễ dàng với sự ra đời của vaccin chống HPV (human papillomavirus). Trong khi ung thư vú lôi cuốn sự chú ý của các phụ nữ, của dư luận và của truyền thông, cũng như của những người hoạt động y tế, thì ung thư cổ tử cung, đứng hàng thứ hai sau ung thư vú, xảy ra nơi các phụ nữ từ 15 đến 45 tuổi, thì về mặt này, chỉ là một người bà con đáng thương .
Ung thư cổ tử cung có thể tấn công rất sớm, thường gây bệnh nơi các phụ nữ trẻ tuổi, đôi khi rất trẻ, trong lứa tuổi thanh xuân và đang có trách nhiệm với con cái đôi khi còn rất nhỏ tuổi. Mỗi năm có 500.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mới trên thế giới (một con số theo dự kiến sẽ vượt quá 1 triệu từ nay đến 2050 nếu không có một tiến bộ quan trọng nào trong phòng ngừa), trong khi 270.000 phụ nữ sẽ chết mỗi năm vì ung thư này, hoặc cứ mỗi hai phút. Ngoài ra, phần lớn các phụ nữ không hay biết gì về tỷ lệ sống sót khá thấp này so với một loạt các bệnh ung thư khác. Vậy, ung thư cổ tử cung là một ung thư thường xảy ra và đồng thời rất hung hãn, gây nên bởi một nhiễm trùng papillomavirus humain (HPV), chủ yếu là các giống gốc 16 và 18. Virus này rất dễ lây truyền lúc giao hợp, đến độ người ta thừa nhận rằng một phụ nữ trẻ, sống qua những lần giao hợp đầu tiên, mắc phải virus này trung bình ngay sau 11 lần giao hợp. Vì vậy đại đa số các phụ nữ đều nhiễm phải HPV. Vì sự tiếp xúc da-niêm mạc cũng đủ cho sự lây truyền virus, nên túi dương vật cũng không có tác dụng phòng ngừa là bao nhiêu.
Nơi đại đa số các phụ nữ, HPV cuối cùng được loại bỏ một cách ngẫu nhiên, nhưng không hẳn là thế cho tất cả các trường hợp và virus khi đó trở nên một trái bom nổ chậm, có thể phát khởi quá trình dẫn đến sự biến đổi ác tính vào một ngày nào đó.
Phải biết rằng mặc dầu có thể khuyến cáo thăm khám nhằm phát hiện ung thư cổ tử cung, một động tác đơn giản nhưng rất hữu ích, nhưng việc thăm khám này vẫn có thể bỏ sót vài ung thư, đặc biệt là các adénocarcinome, nằm khá sâu.
KỶ NGUYÊN PHÒNG NGỪA ĐÃ ĐẾN
Phương tiện phòng ngừa lý tưởng, đó là vaccin anti-HPV. Cervarix gồm 2 giống gốc 16 và 18, chịu trách nhiệm phần lớn các ung thư cổ tử cung. Lý tưởng là chủng ngừa vaccin này cho các thiếu nữ trước khi bắt đầu các giao hợp đầu tiên, nhưng sự việc đã giao hợp dĩ nhiên không khiến các bà mẹ và chính các đương sự tránh không phải tiêm chủng. Nói đúng ra không có lứa tuổi nào việc tiêm chủng là vô ích cả. Thật vậy chúng ta biết rằng một người càng già thì hệ miễn dịch tự nhiên của người này càng trở nên suy yếu.
Sự hiện diện của các chất hổ trợ (adjuvant) trong các vaccin nói chung bảo đảm cho sự tồn tại kéo dài của các kháng thể, nhưng sự kéo dài này cũng tùy thuộc vào bản chất chính xác của các chất hổ trợ. AS04 (Adjuvant System 04) mà GSK đã sử dụng cho vaccin anti-HPV, Cervarix, khiến cho vaccin này là vaccin duy nhất đã chứng tỏ sự kích thích gây nên các nồng độ đặc biệt cao và kéo dài của các kháng thể khiến chúng có khả năng đến tận cổ tử cung, nghĩa là nơi mà sự bảo vệ này được đòi hỏi.
Từ nay, việc tiêm chủng chống lại HPV phải trở thành những ưu tiên y tế công cộng trong giới các thanh thiếu nữ. Nguồn: LA SEMAINE MEDICALE 10/4/2008
9/ TRỨNG: MỘT THỨC ĂN KHÔNG TỐT CŨNG KHÔNG XẤU

Ăn trứng không thường xuyên dường như không ảnh hưởng lên nguy cơ tim mạch nơi các ông. Nhưng việc ăn trứng được liên kết một cách dương tính với tỷ lệ tử vong, một nguy cơ còn gia tăng hơn nữa nơi các người bị bệnh đái đường.
Tác dụng của trứng lên sức khỏe như thế nào? Và chính xác hơn lên nguy cơ tim mạch và tỷ lệ tử vong? Các nhà nghiên cứu Hoa kỳ, Luc Djoussé và Michael Gaziano của Havard Medical (Boston) đã thực hiện một công trình nghiên cứu nơi 21.327 người tham gia vào Physicians’ Health Study I. Những người này đã trả lời một bảng câu hỏi về chế độ ăn uống.
Các kết quả chứng tỏ rằng suốt trong quá trình theo dõi khoảng 20 năm, 1.550 người đã bị nhồi máu cơ tim, 1.342 người bị tai biến mạch máu não và 5.169 người tử vong. Việc tiêu thụ trứng không được liên kết với nguy cơ nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não. Trái lại, những người ăn 7 quả trứng hay nhiều hơn mỗi tuần có tỷ lệ tử vong 23% cao hơn những người ăn dưới 1 quả trứng mỗi tuần. Sự liên kết này lại càng rõ nét hơn nơi các người bị bệnh đái đường: những người ăn nhiều trứng nhất có nguy cơ tử vong 2 lần nhiều hơn những người ăn ít trứng nhất. “Tại sao trong công trình nghiên cứu này, trứng lại liên hệ với tỷ lệ tử vong mà không liên hệ với nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não?”, BS Robert Ecket (Đại học Colorado, Denver, Hoa Kỳ) đã tự hỏi như thế. Cần các công trình nghiên cứu khác để làm sáng tỏ sự việc, nhưng người ta có thể cho rằng các nguyên nhân cần phải tìm kiếm từ phía xơ mỡ động mạch (athérosclérose) hay do loạn nhịp tim.
Phải chăng là do nồng độ cholestéol trong trứng? Các tác giả đã chứng tỏ rằng cholestérol ít đóng vai trò trên nguy cơ tim mạch so với các axit béo bảo hòa và trans. “Việc tiêu thụ nhiều mỡ bảo hòa và trans làm gia tăng các nồng độ LDL-cholestérol nhiều hơn là do lượng lớn cholestérol mang lại” Luc Djoussé và Michael Gaziano đã ghi nhận như thế. Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 15/4/2008
10/ VIRUS CÚM CÓ NGUỒN GỐC DUY NHẤT TỪ CHÂU Á

Virus của bệnh cúm xảy ra theo mùa (grippe saisonnière) H3N2 có một khuyết tật lớn : siêu vi trùng biến dị thường trực. Tính đến nay, chẳng có ai đã thành công xác định các vùng phát sinh các giống gốc mới ( nouvelles souches) của virus này. Nhiều giả thuyết khác nhau đã được đưa ra, theo đó các cuộc di trú xảy ra giữa Bắc và Nam bán cầu hoặc rằng chúng phát xuất từ các vùng nhiệt đới. Để giải quyết bí ẩn này, các BS Derek Smith và Colin Russell, thuộc đại học Cambridge (Anh Quốc), cùng với Tổ chức y tế thế giới, đã phân tích 13.000 mẫu nghiệm virus H3N2 thu thập từ 6 lục địa, giữa năm 2002 và 2007.
Các kết quả được công bố hôm qua trong Science, chứng tỏ rằng các giống gốc mới đều phát xuất duy nhất từ Viễn Đông (Trung Quốc, Nhật bản) hay Đông Nam Á (Việt Nam, Nam Dương). Sau đó chúng lan tràn về phía phần còn lại của thế giới, cần từ 6 đến 9 tháng để đến châu Âu và Bắc Mỹ, trước khi chết dần một khi đến Nam Mỹ. Suốt trong thời gian di trú, mỗi biến thể mới gây nhiễm cho rất nhiều người (từ 5 đến 15% dân số thế giới) và gây ra từ 250.000 đến 500.000 tử vong hàng năm, tùy theo độc lực của virus. Vaccin, được đổi mới thường xuyên để thích nghi với mục tiêu, bảo vệ cho khoảng 300 triệu người chống lại các đợt tấn công của “tên giết người” này.
Sự khám phá bởi các nhà nghiên cứu người Anh ắt hẳn góp phần làm tăng cường tính hiệu quả của vaccin, vẫn còn không được hoàn hảo, nhờ việc dự đoán tốt hơn sự tiến triển hàng năm của virus H3N2. Nhưng muốn được như thế, sự hợp tác với các mạng lưới theo dõi của các nước châu Á sẽ phải được tăng cường. Nguồn: LE FIGARO 18/4/2008

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(25/4/2008)

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học