 |
Thời
Sự Y Học số 70
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHỨNG MIÊN HÀNH ĐƯỢC LÀM DỄ
BỞI SỰ THIẾU NGỦ
Chứng miên hành (somnambulisme) từ nay có thể được chẩn đoán một cách
chắc chắn trong phòng thí nghiệm bằng cách làm mất ngủ.
Mặc dầu đang hoàn toàn chìm đắm trong giấc ngủ, người ngủ bị chứng miên
hành đứng dậy, đi loanh quanh một cách vô ý thức, thực hiện vài động tác
giản đơn và sau đó được mang trở lại giường, và ngày hôm sau không còn
nhớ một chút gì về những gì đã xảy ra.
Mãi đến ngày nay, đối với các thầy thuốc, việc xác nhận được rối loạn
này rất là khó, và chẩn đoán chỉ có thể dựa vào những lời xác nhận của
các người thân của bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu người Canada của Centre
du sommeil của Đại học Montréal vừa chứng tỏ rằng sự thiếu ngủ là một
yếu tố làm dễ các cơn miên hành (crises de somnambulisme).Thật vậy, các
nhà nghiên cứu nhận thức rằng người ta có thể gây nên chứng miên hành
trong phòng thí nghiệm để khảo sát tốt hơn rối loạn này, bằng cách buộc
các người tình nguyện phải thức trắng đêm. Các công trình của họ vừa được
công bố trong Annals of Neurology số ngày 19/ 3/2008 .
Nhóm nghiên cứu của Jacques Montplaisir đã chọn lọc 40 người bị chứng
miên hành và làm cho những người này thức ngủ 25 giờ liên tiếp trong phòng
thí nghiệm, rồi sau đó quay phim họ vào lúc giấc ngủ bù trừ (sommeil réparateur).
Việc làm mất giấc ngủ này đã có một tác dụng ly kỳ lên số những người
miên hành (somnambule) : từ 20 người trong đêm trước khi bị làm mất ngủ,
con số này lên đến 36 vào lúc giấc ngủ bù trừ (sommeil de récupération).
Ngoài ra, số các đợt hoạt động về đêm nơi toàn bộ những người này hầu
như đã tăng gấp ba.
YẾU TỐ DI TRUYỀN
“Công trình nghiên cứu này là quý giá vì nhiều lẽ, BS Damien Léger, của
Centre du sommeil thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris) đã đánh giá như vậy.
Trước hết, công trình nghiên cứu được tiến hành trên một số lượng cao
các bệnh nhân, điều này khó có thể thực hiện, bởi vì chứng miên hành rất
hiếm xảy ra ở người trưởng thành. Bây giờ chúng ta biết rằng, phải làm
mất ngủ kéo dài chứ không phải vài giờ như người ta đã thực hiện trước
đây, để làm khuếch đại hiện tượng miên hành. Điều này sẽ giúp chúng ta
phân biệt tốt hơn chứng miên hành với các cơn động kinh ”
Chiến lược của các nhà nghiên cứu là làm tăng lên giai đoạn được gọi là
giấc ngủ chậm và sâu, bằng cách gây ngủ chậm lại. “Thật vậy, các cơn miên
hành xảy ra chủ yếu trong giai đoạn này của giấc ngủ, là giai đoạn bù
sức nhất. Nơi những người bị chứng miên hành, các giai đoạn này dường
như không ổn định và ngừng lại dễ dàng hơn : khi đó các người này ở trong
một tình trạng trung gian, một nửa thức tỉnh, một nửa thiu thiu ngủ ”,
Antonio Zadra, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu, đã xác nhận
như vậy.
Ngoài sự hiện diện khả dĩ của một yếu tố di truyền, chứng miên hành có
thể được làm dễ bởi một rối loạn giấc ngủ, ví dụ do khó thở cũng như stress
hay uống rượu.Trong khi chứng miên hành chỉ ảnh hưởng lên khoảng 2% các
người trưởng thành, bù lại, chứng này thường xảy ra nhiều hơn nơi các
trẻ em và hơn 20% các trẻ em bị chứng bệnh này vào một lúc nào đó trong
thời thơ ấu. Với sự thành thục của não bộ, chứng miên hành sẽ biến mất
ở tuổi thiếu niên. Nhưng rất hiếm khi các cơn miên hành xảy ra đều đặn.
Do đó, việc dùng thuốc để điều trị không ích lợi gì. Điều cần thiết nhất,
là phải chăm lo thế nào để phòng của trẻ không có những đồ vật có thể
gây thương tích và trẻ có thể ngủ ít nhất 10 giờ mỗi đêm.
Sự thiếu ngủ nơi trẻ em phải chăng làm tăng cường chứng miên hành? Đối
với Antonio Zadra, điều đó có vẻ ít có khả năng: “Ở người trưởng thành,
đó là một rối loạn cố hữu trong giấc ngủ có sóng chậm, mà người ta có
thể tìm cách phát hiện trong những điều kiện tốt. Ở trẻ em, rối loạn này
sẽ biến mất một cách tự nhiên. Và về mặt đạo đức, chúng ta không có thể,
để khảo sát rối loạn này, làm các trẻ mất ngủ trong 25 giờ liên tiếp.
Phương pháp của chúng tôi, đúng hơn, nhằm giúp chẩn đóan tốt hơn nơi người
trưởng thành. Trong khung cảnh pháp y học, phương pháp này cũng có thể
đánh giá những người cho là họ đã phạm những hành động tội phạm trong
một cơn miên hành”. Công trình này cũng cho phép khuyên những người bị
chứng miên hành phải chăm lo để có một thời gian ngủ đầy đủ, nhằm tránh
sự tái phát của các cơn. Nguồn : LE FIGARO 25/3/2008
2/ MỘT LOẠI VI KHUẨN ĂN CHOLESTEROL
Hiện diện trong ruột già, vi trùng này làm cho cholestérol không thể hấp
thụ được bởi cơ thể con người.
Ruột già của chúng ta là một canh cấy thật sự. Có khoảng 100 tỉ vi khuẩn
cùng nhau sinh sống trong mỗi gam phân, hoặc khoảng cùng số lượng neurone
trong não bộ của chúng ta.
Quần thể vi khuẩn dồi dào này trong ruột, được tạo thành suốt trong hai
năm đầu của đời sống, là cần thiết cho sự vận hành tốt của cơ thể. “Người
ta có thể nói rằng đó là một cơ quan nói riêng, mà thành phần là chuyên
biệt cho mỗi cá nhân”, Philippe Gérard thuộc phòng thí nghiệm sinh thái
và sinh lý học của hệ tiêu hóa ở trung tâm Inra, đã nhấn mạnh như vậy.
Nhà vi trùng học này đã tiết lộ hôm qua, nhân một cuộc họp báo, rằng một
vài trong số các vi khuẩn này, có tính chất lạ lùng là làm hủy hoại cholestérol
(mà sự thặng dư gây đọng mỡ trong các động mạch) thành coprostanol, một
chất mà cơ thể không thể hấp thụ được và do đó được thải ra trong phân.
“Sự kiện này đã được biết từ lâu, nhưng đến mãi ngày nay, không ai đã
thành công nhận diện ra loài hay các loài vi khuẩn có liên quan trong
quá trình sinh hóa học này ở người”, Philippe Gérard đã nói tiếp như vậy.
Cái trở ngại chính là các vi khuẩn của ống tiêu hóa không có thể tồn tại
trong một môi trường giàu oxygène. Các vi khuẩn sẽ chết ngay khi được
đem ra khỏi ruột non của ký chủ và chỉ có 20% các vi khuẩn này là có thể
cấy được trong phòng thí nghiệm.
MỘT TỶ VI KHUẨN CHO MỖI GAM PHÂN.
Trong một bài báo được công bố mới đây trong tạp chí Applied and Environmental
Microbiology, nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi Philippe Gérard đã giải
thích làm sao họ đã cô lập được một trong các vi khuẩn “giết cholestérol”
này, bằng cách cấy trong phân được làm phong phú với óc bê được làm đông
lạnh. Đó là giống D8 của loài Bacteroides Dorei, (chiếm 20% quần thể vi
khuẩn ruột). “ Sự kiện loài vi khuẩn này rất khác với giống Eubacterium
đã được nhận diện ở chuột, heo và babouin, dường như chỉ rõ rằng nhiều
họ vi khuẩn có liên hệ trong việc làm thoái hóa cholestérol của ruột người”,
nhà nghiên cứu phát biểu như vậy.
Khám phá này phải chăng sẽ dẫn đến việc hiệu chính một thuốc mới chống
lại cholestérol ? Điều này ít có thể xảy ra vào ngay lúc này. Thật vậy,
hầu hết cholestérol nguồn gốc thức ăn đều được hấp thụ ở ruột non. Cholestérol
dầu có được thoái biến thành coprostanol bởi vi khuẩn hay không, phần
cholestérol đi đến đại tràng dầu sao cũng được thải ra theo phân.
Tuy nhiên, trong những năm 1980, một công trình nghiên cứu của Nhật Bản
đã chứng tỏ rằng một nồng độ coprostanol cao trong phân liên kết với một
nồng độ cholestérol thấp hơn trong máu.
Theo Philippe Gérard, “người ta không thể loại trừ rằng một phần cholestérol
được thoái biến trong phần dưới của ruột non, nơi đây người ta đếm được
1 tỷ vi khuẩn trong 1 gam phân. Đó là 100 lần ít hơn trong ruột già, nhưng
điều đó có thể cũng đủ để giải thích các kết quả của công trình nghiên
cứu Nhật Bản”. Nguồn : LE FIGARO 13/3/2008
3/ RAU LÀM HẠ HUYẾT ÁP
Một công trình nghiên cứu của Anh được điều khiển bởi BS Andrew Webb,
thuộc William Harvey Institute de Londre, đã trắc nghiệm trên những người
tình nguyện lành mạnh, tác dụng của nước ép củ cải đường (jus de betterave)
lên huyết áp động mạch. Những người này phải uống (lúc bụng đói) một ngày
500 ml nước ép củ cải đường, và một ngày khác 500 ml nước. Sau thời gian
ba giờ : sau khi uống nước, huyết áp vẫn không thay đổi, nhưng sau khi
uống nước vắt củ cải đường, huyết áp đã giảm trung bình 10 mmHg và kết
quả này được duy trì suốt ngày. Tác giả và nhóm nghiên cứu đã có thể xác
nhận rằng hiệu quả này là do sự biến đổi (bởi một loại vi khuẩn trong
miệng) các nitrates bất hoạt hiện diện trong rau, thành nitrates hoạt
tính làm giãn và bảo vệ các động mạch. Nguồn : PARIS
MATCH 20/3-26/3/2008
4/ Ô NHIỄM
: THƯƠNG SỐ THÔNG MINH CỦA TRẺ EM BỊ BIẾN ĐỔI
Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Havard Hoa Kỳ đã xác lập, nơi hơn 200
trẻ em từ 8 đến 11 tuổi, rằng sự ô nhiễm, nhất là sự ô nhiễm do các phần
tử carbone phát xuất từ giao thông đường xá, có một tác dụng có hại lên
thương số thông minh (QI : Quotient Intelligent). Những trẻ em sống trong
những vùng ô nhiễm nhất, trung bình có những điểm số (scores) ít tốt hơn
về mặt ngữ vựng, trí nhớ, học tập và lúc đo thương số thông minh, có 3,5
điểm kém hơn. Sự ô nhiễm không khí sản sinh các gốc tự do (radicaux libres)
và làm biến đổi chức năng não bộ do các gốc tự do này và bởi phản ứng
viêm do chúng gây ra. Nguồn : PARIS MATCH (20/3-26/3/2008)
5/ CÁC PHẦN TỬ DIESEL VÀ NÃO BỘ CON NGƯỜI
Các nhà nghiên cứu Hòa Lan đã chứng tỏ rằng sự tiếp xúc với các phần tử
diesel (paticules diesel) gây nên những biến đổi trên điện não đồ nơi
những người tình nguyện.
Người ta đã chứng tỏ rằng, các phần tử nhỏ và các nanoparticules hiện
diện trong không khí xung quanh, có thể mở đường lên đến tận não bộ. Nhưng,
mãi đến ngày nay, người ta đã không chứng minh được là các phần tử này
cũng có thể gây nên những thay đổi chức năng ở não bộ hay không. Để biết
rõ hơn điều này, Bjoern Cruts (Centre d’expertise in Life Sciences, Zuyd
University, Heerlen, Hòa Lan) và các cộng sự viên đã cho 10 người tình
nguyện tiếp xúc với khói thoát ra từ các động cơ diesel (300 microgramme/m3)
và đã so sánh họ với những người thở không khí được lọc.
Các người tình nguyện đã được cho tiếp xúc với các phần tử diesel (paticules
diesel) trong 1 giờ, cũng như một giờ sau đó, trong khi đó hoạt động não
bộ của họ được theo dõi. Chính là một kỹ thuật điện não đồ định lượng
đã được sử dụng. 8 điện cực đã được đặt ở các mức khác nhau trên da đầu.
Các tác giả đã ghi tần số năng lượng trung bình (MPF: median power frequency)
và chứng nhận một sự gia tăng đáng kể đáp ứng MPF trong vỏ não vùng trán
của những người đã thở vào các hơi diesel trong 30 phút theo sau sự tiếp
xúc này. Sự gia tăng này vẫn tiếp tục tồn tại suốt trong một giờ tiếp
theo sau đó.
Đối với các tác giả, đó là bằng cớ đầu tiên về ảnh hưởng của một sự tiếp
xúc với các phần tử diesel lên trên chức năng của não bộ. Điện não đồ
đã ghi một phản ứng điện tương ứng với một stress lên toàn thể vỏ não.
Cần các công trình nghiên cứu bổ sung để xác định xem ở mức độ nào, hiệu
quả này được gây nên bởi các nanoparticule hiện diện trong khói của diesel
và xác định cách tác dụng của chúng. Nguồn : LE JOURNAL
DU MEDECIN 18/3/2008
6/ CAI THUỐC LÁ TRONG THAI KỲ : EM BÉ HẠNH
PHÚC HƠN
Các bà mẹ ngừng hút thuốc trong thời kỳ thai nghén dường như cho ra đời
các em bé hạnh phúc hơn và dễ tính hơn. Các nhà nghiên cứu người Anh đã
đạt được kết luận này trong Journal of Epidemiology and Community Health.
Kate Pickett ( Britain‘s University of York) và nhóm nghiên cứu đã theo
dõi 18.000 em bé người Anh sinh ra giữa năm 2.000 và 2.002. Các tác giả
đã hỏi các bà mẹ về tính tình của các em bé của họ. Sau khi đã phân chia
các bà mẹ ra thành các nhóm nghiện thuốc lá nặng, nghiện thuốc lá nhẹ,
không bao giờ hút thuốc hoặc trước đây đã nghiện thuốc. Người ta nhận
thấy rằng, các bà mẹ đã ngừng hút thuốc trong thời kỳ thai nghén, có những
đứa trẻ dễ tính hơn. Các đứa trẻ của những bà mẹ vẫn tiếp tục hút thuốc,
nói chung là khó tính hơn. Ngay cả những đứa trẻ của các bà mẹ không hút
thuốc, cũng khó tính hơn là các em bé của các bà mẹ đã ngừng hút thuốc.
Chính các trẻ sinh ra từ các bà mẹ nghiện thuốc lá nặng là khó tính nhất.
Theo các tác giả, sự tiếp xúc với khói thuốc lá có thể có tính chất quyết
định lên tính tình của đứa trẻ cũng như lên các đặc điểm riêng của hành
vi nghiện thuốc lá của bà mẹ.
Có thể rằng, các bà mẹ đã thành công trong việc ngưng hút thuốc, có một
bản chất uyển chuyển hơn và trong lúc có thai, họ đã truyền cho các con
của họ cái nét tính chất này. Nguồn : LE JOURNAL DU
MEDECIN 21/3/2008
7/ ĐAỊ HỌC ULB (BỈ) LẬP BẢN ĐỒ VỀ NGUY CƠ
CÚM GIA CẦM Ở CHÂU Á
Vịt, dân số người và nghề trồng lúa là những yếu tố nguy cơ chính liên
kết với sự hiện hiện diện của cúm gia cầm (H5N1) ở Việt Nam và Thái lan.
Đối với các nhà nghiên cứu của Đại Học Tự Do Bruxelles (ULB : Université
Libre đe Bruxelles), những yếu tố nguy cơ này cho phép họ lập một bản
đồ về các nguy cơ, có thể áp dụng cho toàn cõi vùng Đông Nam Á.
Trong bài báo “Lập bản đồ nguy cơ cúm gia cầm H5N1 có tính chất gây bệnh
cao ở Đông Nam Á”, được công bố tuần này bởi Annales de l’Académie des
Sciences aux Etats-Unis, Marius Gilbert (nhà nghiên cứu lành nghề của
FNRS) và các cộng sự viên, đã quan tâm đến các làn sóng dịch khác nhau
của virus cúm gia cầm H5N1 có khả năng sinh bệnh cao (IAHP: influenza
aviaire hautement pathogène), đã gây dịch cho Thái Lan và Việt Nam trong
khoảng thời gian giữa năm 2004 và 2005.
Những công trình này là kết quả của một cộng tác với FAO, Đại học New
Hampshire, Royal Veterinary College de Londres và các Ty sản xuất động
vật ở Thái Lan và Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến các yếu tố nguy cơ khác nhau liên kết
với sự hiện diện của bệnh. Trong bối cảnh này, dân số vịt, sự thâm canh
trong sản xuất lúa và dân số người, xuất hiện như những yếu tố nguy cơ
có ý nghĩa nhất, và điều này đúng với hai nước Việt Nam và Thái Lan, mặc
dầu các chiến lược chống lại bệnh rất khác nhau.
Mô hình nguy cơ ở Thái Lan được xác nhận trên các dữ kiện dịch tễ học
của Việt Nam, điều này cho phép suy diễn sự dự đoán các nguy cơ sẽ xảy
ra nơi các nước kế cận có liên quan với bệnh này, như Lào, Cao Mên và
Nam Dương. Những công trình này cho phép tiên đoán tốt hơn vị trí của
những vùng nguy cơ và như thế sẽ hướng tốt hơn các hành động phòng chống
bệnh cúm gia cầm. Nguồn : LE SOIR 26/3/2008
8/ PHÁT HIỆN BẰNG IRM TÍNH HÁU ĂN CỦA CÁC
U NÃO
Résonance magnétique cho phép phát hiện tính háu ăn đột ngột của các khối
u não.
Một kỹ thuật đặc biệt của résonance magnétique cho phép theo dõi những
biến thiên của luồng máu trong não bộ, luôn luôn xảy ra trước khi các
khối u não biến hóa thành ung thư, tạp chí Radiology đã loan báo như vậy.
« Chúng tôi đã khám phá ra rằng sự gia tăng thể tích máu bên trong khối
u não, xảy ra trước khi các chỉ dấu biến đổi ung thư khác xuất hiện. Sự
gia tăng này được đo bằng cách truyền một chất cản quang lúc làm résonance
magnétique. Điều này cho phép lợi được cả một năm hoặc hơn nữa », một
trong những đồng tác giả, giáo sư Adam Waldman của Imperial College de
Londres đã giải thích như vậy.
Các u thần kinh đệm có độ mạnh thấp (gliomes à basse intensité) là các
khối u nảy sinh trong não bộ và tăng trưởng chậm trong nhiều năm. Nhưng
hầu hết các khối u có độ mạnh thấp đều tiến triển thành các u hung hãn
hơn, mà tiến triển rất nghiêm trọng đối với bệnh nhân.
PHÁT HIỆN SỚM HƠN
“Các bệnh nhân bị u thần kinh đệm có độ mạnh thấp thường trẻ tuổi và có
thể khỏe mạnh về mặt lâm sàng trong nhiều năm. Nhưng vào một lúc nào đó
mà chúng ta không thể tiên đoán được, các khối u này thình lình trở nên
rất ác tính, giáo sư Waldman đã giải thích như thế. Chính để dự đoán tốt
hơn tiến triển này và do đó để thích ứng điều trị, mà công trình nghiên
cứu đã theo dõi tiến triển của luồng máu não bộ, nơi 13 bệnh nhân bị các
u thần kinh đệm có độ mạnh thấp. Nếu như sự tiến triển của luồng máu não
là một chỉ dấu của sự tiến triển của khối u, thì đó là vì khối u này đã
tạo nên những huyết quản mới để được tiếp dưỡng tốt hơn, một hiện tượng
được mô tả bởi thuật ngữ “angiogenèse“ . Thế mà hiện tượng này có thể
được phát hiện bởi các thầy thuốc chiếu điện bằng cách truyền một chất
cản quang ngay trước khi trở nên rõ ràng với những hình ảnh quang tuyến
thông thường.
Theo giáo sư Waldman, điều này sẽ cho phép các thầy thuốc chiếu điện,
nhận diện sớm hơn những bệnh nhân nào nhất thiết phải được điều trị tấn
công hơn để chống lại bệnh. Đồng thời, kỹ thuật này cũng cho phép tránh
những hậu quả nặng nề gây nên bởi loại điều trị hung hãn này nơi các bệnh
nhân mà khối u vẫn tạm thời phát triển « âm thầm »
«Công trình nghiên cứu này là đáng quan tâm, nhưng lợi ích của IRM de
perfusion trong nghiên cứu các khối u não không phải là mới», Dominique
Balériaux, trưởng clinique de neuroradiologie của bệnh viện Erasme (ULB)
đã phát biểu như vậy. «Không nên từ đó mà suy ra rằng, chúng ta sẽ có
thể phát hiện sớm, ai sẽ bị và ai sẽ không bị ung thư, nhưng quả thật
có thể nhận diện được các bệnh nhân cần đến một trị liệu tấn công và những
bệnh nhân tốt hơn là «để yên», chừng nào mà khối u không tiến triển. Nguồn
: LE SOIR 25/3/2008
9/ TỪ PHỐI ĐẾN TIM
Một công trình nghiên cứu trên hơn 20.000 người già 70 tuổi hoặc hơn,
xác nhận mối liên hệ giữa các nhiễm trùng cấp tính đường hô hấp và các
tai biến tim mạch xảy ra trong lứa tuổi này. Mặc dầu có tính đến những
yếu tố nguy cơ khác ( tăng thể trọng, nghiện thuốc lá, bệnh viêm phế quản
phổi mãn tính ), người ta quan sát thấy bệnh nhồi máu cơ tim và các tai
biến mạch máu não xảy ra hai lần nhiều hơn nơi những bệnh nhân, 7 ngày
sau một đợt viêm phế quản hay viêm phổi, so với những bệnh nhân không
có thương tổn hô hấp nào. Do đó cần phải khuyến khích việc điều trị tốt
hơn các bệnh cấp tính đường hô hấp nơi các người già. Nguồn : SCIENCES
ET AVENIR 3/2008
10/ VACCIN CHỐNG CÚM
Uống vaccin chống cúm thay vì phải nhận một mũi chích ? Giấc mơ này đã
được nghiên cứu nghiêm chỉnh, không chỉ vì sự thoải mái do đường dùng
thuốc này mang lại, mà nhất là bởi vì phương cách cho thuốc này cho phép
thiết đặt một sự bảo vệ ở nơi cửa vào của vi trùng : các niêm mạc. Một
nhóm nghiên cứu người Triều Tiên đã thu được những kết quả đáng phấn khởi
trên chuột. Họ đã cho chuột uống bằng đường dưới lưỡi, một vaccin chống
cúm được chế tạo bởi virus H5N1 bị giết chết và một chất hổ trợ làm thuốc
dễ đi vào các niêm mạc. Được cho tiếp xúc với các virus cúm cùng giống
gốc, 100% các động vật gậm nhấm được bảo vệ chống lại bệnh. Nguồn
: LA RECHERCHE 3/2008
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/3/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |