 |
Thời
Sự Y Học số 69
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN TỐT HƠN
Những thương tổn phẳng (lésions plates), ngày nay đã được phát hiện, là
các thương tổn tiền ung thư của ruột. Các thương tổn này tuy kín đáo,
nhưng cũng nguy hiểm như các polype. Đây là một loại thương tổn dễ bị
bỏ sót lúc thăm khám nội soi, nhưng là loại thương tổn dễ trở thành ung
thư nhất và thường xảy ra hơn là điều mà người ta nghĩ trước đây, các
nhà nghiên cứu đã báo cáo như vậy
Các thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa, từ nhiều năm nay, sống với một giáo
điều không thể xâm phạm : sự tiến triển của những ung thư đại tràng hay
trực tràng được gắn liền với sự hiện diện của các polypes tiền ung thư,
có thể thấy được và có thể loại bỏ bằng nội sôi. Và tất cả mọi cố gắng
để ngăn ngừa các khối u này, nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai do
ung thư ở Pháp, được căn cứ trên sự phát hiện và loại bỏ các polype này.
Sự điều tra phát hiện đại trà được thực hiện bằng phát hiện máu ẩn trong
phân, sự điều tra phát hiện cá thể hóa được tiến hành bằng nội soi đại
tràng.
« Cái nhìn giản đơn mà chúng ta đã có từ nhiều năm nay, chắc chắn là phức
tạp hơn », Giáo sư René Lambert (Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư,
Lyon) đã đánh giá như thế. Dầu sao cái ý niệm này đã bị bác bỏ bởi một
công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu
của Veteran Affairs Health System de Palo Alto (California) và được công
bố trong tờ Journal of the American Medical Association (Jama), số ngày
5 tháng 3 năm 2008.
Từ những năm 1980, các thầy thuốc Nhật Bản đã biết rằng trong lòng ruột
có những thương tổn bằng phẳng (lésions plates), thường có kích thước
nằm trong giới hạn nhìn thấy được của mắt thường, có cùng màu sắc như
phần còn lại của niêm mạc ruột. Những thương tổn này được mệnh danh là
những thương tổn « không phải dạng polype » (non polypoid) ( ở Pháp thương
tổn này được gọi là polype dẹt : polype plan). Các thương tổn này hoặc
hơi nhô cao lên hoặc như những hố nhỏ ít sâu. Khác hẳn với các polype
ruột xuất hiện như là những chiếc nấm có cuống và dễ nhìn thấy. Thế nhưng
các hố phẳng (cratères plans) này lại có một nguy cơ biến đổi thành ung
thư nhanh hơn so với các polype có cuống.
B.S Christian Boustière, một trong những người hữu trách của Hội nội soi
tiêu hóa Pháp, đã giải thích : « Tốc độ thoái hóa của các thương tổn phẳng
là cao hơn. Chúng tiếp xúc trực tiếp với thành ruột, chúng lan nhanh xuống
trong lớp cơ ruột và tỏa sâu phía dưới ». Các thầy thuốc Nhật Bản thường
phát hiện những thương tổn này trong dạ dày (ở đây các thương tổn phẳng
cũng là những thương tổn tiền ung thư đáng sợ của cơ quan này. Nhưng từ
lâu, cộng đồng y khoa quốc tế đã tin rằng các thương tổn này chỉ xảy ra
nơi ruột của các trẻ em của đất nước Mặt Trời Mọc mà thôi.
154.000 TRƯỜNG HỢP MỚI
Công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ xuất hiện trong JAMA, xác nhận những
dữ kiện đã được xác lập bởi người Pháp René Lambert và chứng tỏ rằng những
người Mỹ cũng có những thương tổn dẹt, nép mình trong những nếp gấp của
ruột. Các thầy thuốc Hoa Kỳ có khuynh hướng nghĩ rằng các thương tổn dẹt
thường ít thường xảy ra và ít nguy hiểm hơn ở Hoa Kỳ, nhưng công trình
nghiên cứu được công bố trên tờ Journal of the American Medical Association,
lại có ý kiến ngược lại. Một vài thầy thuốc nội soi cũng đã cảnh giác
với các thương tổn dẹt, nhưng đối với các thầy thuốc khác, việc tìm kiếm
các thương tổn này lại là một thách thức bởi vì cần có một đôi mắt được
tập luyện và chăm chú mới có thể tìm thấy các thương tổn và cần có những
kỹ thuật đặc biệt để loại bỏ chúng. Điều đặc biệt quan trọng để đạt được
kết quả là bệnh nhân phải dùng thuốc tẩy mạnh trước khi tiến hành thủ
thuật và điều này làm cho các bệnh nhân e ngại.Từ năm 1999, sau khi đã
tập luyện đôi mắt nội soi bên cạnh các thầy thuốc của National Cancer
Center của Tokyo, các thầy thuốc của các cựu chiến binh và của đại học
Standford (Californie) đã tìm kiếm một cách có hệ thống các thương tổn
dẹt này, chiếm 30% đến 40% trong số 150.000 những trường hợp ung thư mới
được phát hiện mỗi năm ở Hoa Kỳ.
Trên 1.819 cựu chiến binh được thăm khám bằng nội soi, 9,35% có những
thương tổn phẳng, 5 lần khả dĩ là tiền ung thư hơn các polype. Và các
thương tổn dẹt, mặc dầu chỉ chiếm 15% các thương tổn có tiềm năng nguy
hiểm được phát hiện, nhưng lại là căn nguyên của ½ các ung thư được xác
nhận.
Ung thư đại tràng là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của tử vong do ung
thư ở Hoa Kỳ, sau ung thư phổi, với khoảng 154.000 trường hợp mới được
phát hiện và 52.000 tử vong mỗi năm. Đây là một trong vài ung thư hoàn
toàn có thể phòng ngừa được, nếu các u tiền ung thư được tìm thấy và loại
bỏ; ung thư này cũng có thể được chữa khỏi, chỉ với giải phẫu, nếu được
tìm thấy khá sớm.
Hội nội soi tiêu hóa Pháp đã không chờ đợi kết quả của công trình nghiên
cứu rồi mới hành động và đã khuyến nghị 1.500 hội viên (60% các nhà nội
soi Pháp) hãy mua các đèn nội soi thuộc thế hệ sau cùng (với bộ phận quang
học có độ phóng đại cao), hãy chuẩn bị tuyệt hảo ống tiêu hóa bằng thuốc
nhuận trường trước khi thực hiện nội soi, và hãy sử dụng một kỹ thuật
hiện đại nhuộm màu điện tử. Sau cùng, các thương tổn này cũng có thể được
lấy đi, như các polype, bằng đường nội soi. Nguồn :
LE FIGARO 11/3/2008 - INTERNATIONAL HERALD
TRIBUNE 6/3/2008
2/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
: COI CHỪNG CAFEINE !
Caféine làm gia tăng đường trong máu. Đó là một thông điệp mà BS James
Lane thuộc đại học Duke ( Durham, Caroline du Nord, Hoa Kỳ) đã gởi đến
cho các bệnh nhân đái đường loại 2 ( đái đường không phụ thuộc vào insuline,
hay đái đường béo). Các bệnh nhân thuộc loại đái đường này đông nhất (85%
các trường hợp). Bằng một loạt các xét nghiệm khá phức tạp (đường huyết,
insuline…) được thực hiện nơi 14 người bị bệnh đái đường béo ( 11 đàn
ông, 3 phụ nữ), công trình nghiên cứu của ông đã chứng tỏ rằng sự hấp
thụ caféine làm gia tăng nồng độ glucose trong máu, 9% sau bữa ăn sáng,
15% sau bữa ăn trưa và 26% sau bữa ăn chiều. Nguyên nhân chính xác vẫn
không được biết tới. Nguồn : PARIS MATCH (13/3-19/3/2007)
3/ BỆNH XƠ CỨNG BÊN TEO CƠ VÀ LITHIUM
Bệnh xơ cứng bên teo cơ (sclérose latérale amyotrophique) là do sự thoái
hóa của các neurone vận động điều khiến các cơ, nằm ở vỏ não hoặc trong
tủy sống. Bệnh này dẫn đến bại liệt dần dần, chỉ thuần vận động. Sự bại
liệt này sẽ đe dọa đến mạng sống khi các cơ hô hấp đến lượt cũng bị thương
tổn. Trong vòng ba năm, tiến triển của bệnh sẽ gây tử vong cho một nửa
trong số các bệnh nhân. Nhưng có những trường hợp ngoại lệ, mà trường
hợp nổi tiếng nhất là nhà vật lý thiên văn Stephen Hawking, đã sống sót
căn bệnh đáng sợ này từ 40 năm nay. Mặc dầu trong bệnh xơ cứng bên teo
cơ, các neurone bị thương tổn là do các tác dụng gây chết người của các
gốc tự do (radicaux libres) hay các chất độc như glutamate, nhưng nguyên
nhân chính xác của một loạn chức năng như thế vẫn không được biết đến.
Ở Pháp, hơn 8000 người bị bệnh này. Riluzole với tác dụng làm giảm độc
tính của glutamate, là thuốc duy nhất mà hiệu quả được công nhận cho đến
ngày nay. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã gán những tính chất bảo vệ thần
kinh là do lithium. Giáo sư Francesco Fornai ở Pise đã muốn trắc nghiệm
hiệu quả của lithium trong bệnh xơ cứng bên teo cơ bằng một thử nghiệm
lâm sàng trên 44 bệnh nhân. Nơi những bệnh nhân đã nhận một liều lượng
150 mg , hai lần mỗi ngày (kết hợp với riluzole), đã không có một tử vong
nào trong 15 tháng theo dõi so với 30% tử vong nơi các bệnh nhân chỉ nhận
riluzole. Mặt khác, lithium đã làm giảm rõ rệt tiến triển của các triệu
chứng nơi các bệnh nhân được điều trị. Đây là điều chưa từng thấy trong
bệnh xơ cứng bên teo cơ cho đến ngày hôm nay. Nguồn :
PARIS MATCH (6/3- 12/3/2008)
4/ RAU VÀ ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Trung Quốc đã nghiên cứu mối liên kết giữa
việc tiêu thụ trái cây và rau và tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 2. R.Villegas
và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu viễn cảnh nơi
64.191 phụ nữ Trung Hoa không có tiền sử bệnh đái đường loại 2 hay những
bệnh mãn tính khác. Cách ăn uống của họ được đánh giá bằng những cuộc
phỏng vấn. Suốt trong 297.755 người-năm theo dõi, 1.608 trường hợp đái
đường mới đã được chẩn đoán. Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng
việc tiêu thụ rau liên kết nghịch với nguy cơ mắc phải bệnh đái đường
: sự tiêu thụ nhiều rau (428g/ngày) được kèm theo một sự giảm trung bình
28% nguy cơ mắc phải bệnh đái đường, so với một sự tiêu thụ thấp (121,5g/ngày).
Tất cả các nhóm người tham dự và tiêu thụ rau, đều liên kết nghịch và
một cách đáng kể với nguy cơ mắc phải bệnh đái đường. Trái lại, việc ăn
trái cây đã không liên kết với tỷ lệ mắc phải bệnh đái đường trong nhóm
người được nghiên cứu này. Đối với các tác giả, vậy thì rau mang lại một
tác dụng bảo vệ chống lại sự phát triển của bệnh đái đường loại 2. Nguồn
: LE JOURNAL DU MEDECIN 7/3/2008
5/ MỘT HƯỚNG ĐIỀU TRỊ MỚI CỦA BỆNH XƠ CỨNG
RẢI RÁC
Sự tiến triển không thể tránh và không thể đảo ngược được của các di chứng
thần kinh gây tàn phế, không phải là do các cơn kịch phát của bệnh xơ
cứng rải rác (sclérose en plaques) mà là do sự thoái hóa tỏa lan mãn tính
của não bộ.
Nhà thần kinh học Christian Confavreux ( Inserm 842, Lyon) đã trình bày
hôm qua trước Viện hàn lâm y học một lý thuyết mới về nguồn gốc của bệnh
xơ cứng rải rác (sclérose en plaques). Lý thuyết này, ngày càng được sự
ủng hộ của các nhà nghiên cứu, có thể có những ảnh hưởng rất quan trọng
lên các chiến lược điều trị. Bệnh xơ cứng rải rác là một bệnh thần kinh
mãn tính tiến triển, thường xảy ra nhất nơi những người trưởng thành trẻ
tuổi ở Pháp : cứ 1000 người thì có một người bị bệnh, hoặc 60.000 người
Pháp mắc phải bệnh này trong đó 2000 đến 3000 trường hợp mới xảy ra mỗi
năm.
Mặc dầu là đáng ngạc nhiên, nhưng mãi đến năm 2007, định nghĩa của bệnh
xơ cứng rải rác vẫn là định nghĩa cơ thể bệnh lý, và chỉ có sự quan sát
trực tiếp các tổn thương mới cho phép chẩn đoán bệnh này. « Chưa có một
xét nghiệm chẩn đoán đặc hiệu nào đáng tin cậy », Christian Confavreux
đã nhắc lại như thế.
Hai dạng tiến triển chính xảy ra trong căn bệnh mãn tính này : những đợt
kịch phát kéo dài hơn 24 giờ , với sự xuất hiện các triệu chứng mới (
mù mắt, rối loạn bước đi, liệt) theo sau là một sự hồi phục một phần ;
và một tiến triển liên tục đưa đến sự tàn phế không hồi phục và không
ngừng bị gia trọng thêm. Các bệnh nhân có thể chỉ có những cơn bộc phát,
có những dạng mãn tính thứ phát (85% các trường hợp) hoặc tiến triển tức
thời (15%). « Cái giáo điều từ 50 năm nay, đó là các đợt bộc phát liên
tiếp của bệnh là nguyên nhân duy nhất gây nên sự tích lũy của chứng tật
nguyền. Đúng là một tư duy duy nhất ! », M.Confavreux đã giải thích như
vậy.
Công trình nghiên cứu với những nhóm bệnh nhân có số lượng lớn và những
cơ sở dữ kiện từ đầu những năm 1990, đã cho phép chứng tỏ rằng tốc độ
tích lũy toàn bộ của tật nguyền không bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện hay
vắng mặt của các cơn bộc phát của bệnh.
MỘT CĂN BỆNH THOÁI HÓA THẦN KINH NGUYÊN PHÁT
Các trị liệu hoạt động miễn dịch ( traitements immuno-actifs), mặc dầu
thành công trong việc dập tắt, hoặc hủy bỏ hoàn toàn các đợt bộc phát,
nhưng không dập tắt được sự tiếp tục tiến triển của các thương tổn thần
kinh và của sự teo của não bộ. Các interféron beta, được sử dụng như thuốc
được chọn đầu tiên, mặc dầu làm giảm 30% tần số các cơn bộc phát (và 50%
hoạt tính IRM của não bộ) : nhưng chúng không có hiệu quả lên tiến triển
của bệnh. Ngay cả Alemtuzumab, một kháng thể rất mạnh chống lại các tế
bào của miễn dịch và được sử dụng trong xơ cứng rải rác cấp tính (các
cơn bộc phát mạnh, tàn phế nhanh), mặc dầu cho phép hủy bỏ hầu như tất
cả các cơn bộc phát, lại không có khả năng làm chậm lại hay làm ngưng
tiến triển của sự tàn phế. Do đó, xơ cứng rải rác là một bệnh thoái hóa
thần kinh nguyên phát, chứ không phải là một bệnh tự miễn dịch như chúng
ta đã tưởng từ lâu.
“ Chúng ta đã bị thiển cận ”, M.Confavreux đã tự buộc tội mình như thế,
“ vì chỉ thấy cây của các cơn bộc phát che dấu khu rừng của sự phá hủy
mãn tính ”.Thật vậy, ngày nay, các kỹ thuật IRM tiên tiến đã cho phép
thấy được, trong các đợt bộc phát lâm sàng, sự xuất hiện của các thương
tổn khu trú cấp tính, cho phép liên kết sự tiến triển của tàn phế thần
kinh với sự tiến triển của sự thoái hóa thần kinh phân tán mãn tính. “
Điều đó muốn nói rằng các chiến lược điều trị của chúng ta phải tiến triển
”, BS Confavreux đã đánh giá như vậy. “ Việc điều trị các ổ viêm nhiễm
cấp tính không còn đủ nữa, mà phải tấn công vào sự viêm nhiễm phân tán
mãn tính, ngay trong sào huyệt nằm sâu trong não bộ. Đó là biên giới mới
của bệnh xơ cứng rải rác ”. Nguồn : LE FIGARO 5/3/2008
6/ CÁC SẢN PHẨM SỮA GẦY VÀ HUYẾT ÁP
Lu Wang (Hoa Kỳ) và các cộng sự viên đã căn cứ những điều khẳng định của
họ trên một công trình nghiên cứu các dự kiện của 28.886 phụ nữ Hoa Kỳ
tuổi 45 hoặc hơn. Các thói quen ăn uống của những người tham dự đã được
đánh giá bởi một bảng câu hỏi, và đặc biệt là sự tiêu thụ các sản phẩm
sữa gầy (produits laitiers maigres). Những trường hợp cao huyết áp mới,
đã được ghi nhận suốt trong một thời kỳ theo dõi 10 năm. Các tác giả đã
chứng nhận rằng các phụ nữ với chế độ dinh dưỡng có nhiều sản phẩm sữa
gầy nhất, có nguy cơ phát triển bệnh cao huyết áp thấp nhất. Sự tiêu thụ
các sản phẩm sữa trọn vẹn (produits laitiers entiers) đã không chứng tỏ
tác dụng bảo vệ này. Sự tiêu thụ đều đặn calcium và vitamine D, được hấp
thụ dưới dạng những sản phẩm sữa, cũng đã được liên kết, trong nghiên
cứu này, với một nguy cơ phát triển bệnh cao huyết áp ít hơn. Sự tiêu
thụ Ca và vitamine D dưới dạng các chất bổ sung (suppléments), trái lại
đã không có một tác dụng nào lên huyết áp .Theo các tác giả, những điều
quan sát này gợi ý vai trò tiềm năng của các sản phẩm sữa gầy (qua trung
gian Ca và vitamine D mà chúng chứa) trong việc ngăn ngừa bệnh cao huyết
áp và những biến chứng tim mạch của nó. Nguồn : LE
JOURNAL DU MEDECIN 11/3/2008
7/ CẤM HÚT THUỐC CỨU SỐNG NHIỀU MẠNG NGƯỜI
Thật vậy, từ tháng giêng năm 2008, việc cấm hút đã làm giảm 15% số các
trường hợp nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Những con số này
được thêm vào con số giảm 11% các biến cố động mạch vành, được quan sát
ở Rome, sau khi Ý đã thông qua đạo luật cấm hút thuốc vào năm 2005.
Do đó, Hiệp Hội Tim Châu Âu (European Society of Cardiology) khẩn thiết
yêu cầu các chính phủ hãy cứu sống các mạng người, bằng cách áp dụng luật
cấm hút thuốc này trên toàn châu Âu. « Khía cạnh quan trọng nhất của công
trình nghiên cứu này (của Pháp) là sự làm giảm 70 % mức độ ô nhiễm, từ
tháng mười hai 2007 và tháng giêng 2008, bên trong các quán café và các
cửa hàng ăn uống. Người ta đã chứng tỏ rằng nhiễm độc thuốc lá thụ động
(tabagisme passif) làm gia tăng nguy cơ các bệnh tim mạch và việc cấm
hút thuốc mới đây đã mang lại kết quả rõ ràng, đối với những người hút
thuốc cũng như những người không hút thuốc. », Giáo sư Daniel Thomas,
thuộc Hiệp Hội Tim Châu Âu và là thầy thuốc chuyên khoa tim của bệnh viện
Pitié-Salpetrière (Paris), đã bình luận như thế.
Ngoài ra Hiệp hội Tim Châu Âu cũng nhắc lại rằng, các lời khuyến nghị
của Châu Âu về việc phòng ngừa các tai biến mạch máu não xác nhận rằng
nghiện thuốc lá là nguyên nhân của 50% các trường hợp tử vong có thể tránh
được và là cơ sở của tai biến mạch máu não ở mọi lứa tuổi. Thí dụ trong
một công trình nghiên cứu, Giáo sư Pekka Jousilahti (Phần Lan) đã chứng
tỏ rằng việc hút thuốc lá gây ra sự phóng thích 400 chất hóa học có khả
năng ảnh hưởng lên tất cả các cơ quan.
« Mặc dầu các bệnh tim mạch có tính chất rất phức tạp và phát sinh do
các nguyên nhân khác nhau, nhưng việc cấm hút thuốc, không thể chối cãi
được, đã đưa đến sự giảm các biến cố động mạch vành, Roberto Ferrari,
chủ tịch của Hiệp Hội Tim Châu Âu đã đánh giá như vậy. Chính vì thế, Hiệp
Hội Tim Châu Âu khuyến khích việc ngưng thuốc lá trên toàn cõi Châu Âu
bằng những đạo luật cấm đoán hút thuốc và bằng sự gia tăng thuế đánh lên
thuốc lá. Thật vậy có một sự nhất trí về các lợi ích của việc ngưng hút
thuốc lá. Những lợi ích này nói chung có được tức thời và góp phần làm
giảm gánh nặng của các bệnh tim mạch »
Theo Hiệp Hội Tim Châu Âu, các kết quả tốt thể hiện qua các con số được
báo cáo ở Pháp, và ở Ý, hẳn phải cổ vũ các nước châu Âu khác áp dụng cùng
các biện pháp để bảo vệ cuộc sống của nhân dân các nước họ. Nguồn
: LE JOURNAL DU MEDECIN 7/3/2008
8/ MỘT VACCIN CHỐNG LẠI BỆNH CAO HUYẾT ÁP
ĐANG ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
Một thử nghiệm lâm sàng của một vaccin nhằm chống lại bệnh cao huyết áp
cho những kết quả hứa hẹn. Các nhà nghiên cứu châu Âu đang trên hướng
tìm ra một thuốc chủng, dựa trên một phần tử giống virus, chống lại angiotensine
II. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên chứng tỏ rằng sự tiêm chủng
chống lại một tác nhân có tác dụng vận mạch nội tại, cho phép làm giảm
huyết áp trên người.
Việc nghiên cứu các vaccin chống lại các bệnh lý không nhiễm khuẩn từ
nay thuận buồm xuôi gió. Đặc biệt, đó là trường hợp của cao huyết áp.
Một thử nghiệm lâm sàng đầu tiên trên người, của một vaccin nhằm chống
lại một trong các protéine chịu trách nhiệm rối loạn sinh lý này, angiotensine
II, vừa được công bố trong The Lancet bởi nhóm nghiên cứu của Martin Bachmann
(Cytos Biotechnology,Thụy Sĩ).
Thật vậy, mặc dầu có các thuốc thuộc thế hệ mới rất hiệu quả chống lại
enzyme de conversion de l’angiotensine hoặc có khả năng phong bế các thụ
thể của phân tử chủ yếu này trong việc kiểm soát huyết áp, nhưng tất cả
mọi điều không phải là đơn giản như thế trong thực tế. Bởi vì để chống
lại căn bệnh giết người thầm lặng, không gây một triệu chứng nào này,
bệnh nhân phải uống các viên thuốc mỗi ngày mà không cảm thấy được mối
lợi tức thời.
Và chính đó là điều chủ yếu, các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã lý luận như
vậy. « Chỉ 1/3 các bệnh nhân cao huyết áp ở Hoa Ky là có một huyết áp
được kiểm soát tốt mà thôi ». Hiểu ngầm : bởi vì sự tuân thủ điều trị
nơi các bệnh nhân là thấp. Hơn nữa các bệnh nhân phàn nàn về các tác dụng
phụ do thuốc, trong khi đó họ không cảm thấy một triệu chứng nào do bản
thân cao huyết áp gây nên cả. Việc nghiên cứu một vaccin chống cao huyết
áp chắc chắn không phải mới có từ hôm qua. Chính Irvine Page, nhà sinh
lý học Hoa Kỳ của Cleveland Clinic, vào năm 1958, đã là người đầu tiên
nêu lên khả năng tác động lên các phân tử nhỏ có nhiệm vụ kiểm tra huyết
áp, bằng một vaccin. Giáo sư Joel Ménard (cựu tổng giám đốc y tế) nhắc
lại : « Sự tiêm chuẩn đã bắt đầu với việc tiêm một dạng biến đổi nhẹ của
rénine (can dự trong việc kiếm soát huyết áp) nhằm làm phát sinh những
kháng thể với mục đích làm giảm huyết áp ».
MỤC TIÊU : ANGIOTENSINE II
Mặt khác, những tài liệu xuất bản đầu tiên đã có từ những năm 1950. Gần
chúng ta hơn, một thử nghiệm tiền lâm sàng của vaccin, được thực hiện
năm 2007 trên chuột (Journal of Hypertension) đã chứng tỏ rằng vaccin
này đúng là gây miễn dịch ( nghĩa là động vật phát triển các kháng thể
), chắc chắn và hiệu quả. Mục tiêu tiêm chủng được lựa chọn là angiotensine
II : thật vậy, hormone này gây nên co mạch mạnh, và do đó làm cao huyết
áp, cũng như kích thích các tuyến thượng thận và làm gia tăng tiết aldostérone,
chất này cũng làm gia tăng áp lực của các động mạch.
Trong công trình nghiên cứu được công bố tuần vừa qua bởi The Lancet,
72 bệnh nhân có cao huyết áp mức độ thấp (nhưng thật sự) và vừa phải đã
được phân chia một cách ngẫu nhiên thành 3 nhóm. Các bệnh nhân này đã
nhận 3 mũi tiêm 100 hay 300 microgramme của vaccin, hay một liều lượng
tương đương của một placebo. Huyết áp đã được đo trong 24 giờ trước khi
tiêm rồi 14 tuần sau đó. Các nhà nghiên cứu đã chứng nhận một sự giảm
đáng kể huyết áp ban ngày, gần 9 mmHg ( huyết áp thu tâm bình thường của
một người trưởng thành là 130 mmHg) trong nhóm đã nhận vaccin với liều
lượng mạnh nhất.
Không có một tác dụng phụ nghiêm trọng nào xảy ra trong suốt 16 tuần nghiên
cứu và thuốc chủng được dung nạp tốt. Hai bệnh nhân đã dừng điều trị trong
nhóm 100 microgramme, 3 trong nhóm 300 microgramme, và không có bệnh nhân
nào trong nhóm placebo. 5 bệnh nhân đã có những tác dụng phụ nghiêm trọng.
Hầu hết các tác dụng phụ là vừa phải, như một phản ứng thoảng qua nơi
được tiêm chủng. 3 bệnh nhân có những triệu chứng thuộc loại cảm cúm.
Các tác giả kết luận rằng một liều lượng 300 microgramme vaccin, được
lập lại 3 lần, cho phép làm giảm huyết áp nơi những bệnh nhân bị cao huyết
áp nhẹ và trung bình, đặc biệt là vào sáng sớm.
Có nên tiếp tục tiến tới trong lãnh vực nghiên cứu này ? « Tôi có cảm
tưởng rằng những hiểu biết của chúng ta là quá thấp », Giáo sư Ménard,
năm 2007, đã đánh giá như vậy, để đo lường đúng tương quan giữa lợi và
hại của một vaccin chồng cao huyết áp, « trong khi đã có một điều trị
cao huyết áp mỗi ngày bằng đường miệng, và điều trị này là chắc chắn và
được dung nạp tốt. Lý lẽ cho rằng bệnh nhân tuân thủ điều trị kém là nghèo
nàn và nông cạn ». Giáo sư Ménard biết rõ điều mà ông ta muốn nói : năm
1985, ông đã trắc nghiệm loại tiêm chủng này nơi động vật ouistiti, và
động vật này đã phát triển một bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune)
của thận, khiến ông phải dừng lại việc theo đuổi mọi cuộc thí nghiệm sau
đó. Sự kích thích liên tiếp hệ miễn dịch cũng có thể gây nên những bệnh
lý tự miễn dịch, như chúng ta đã thấy trong một thử nghiệm vaccin chống
bệnh Alzheimer. Việc tiêm chủng có lẽ cho phép cải thiện sự tuân thủ của
các bệnh nhân nhưng phải chăng họ sẽ vui thích khi phải bị chủng ngừa
nhiều lần trong năm với nguy cơ bị một hợp chứng cảm cúm mỗi lần được
tiêm chủng ? Một vaccin chống cao huyết áp phải chăng cũng cần khẩn cấp
như một vaccin chống lại bệnh sida hay ung thư ? « Ngay cả khi chúng ta
có thể rút ra những bài học về cách điều khiển hệ miễn dịch, mặc dầu vậy,
các quy tắc an toàn vẫn là ưu tiên. », Joel Ménard đã kết luận như vậy.
Nguồn : - LE FIGARO 14/3/2008 -
LE JOURNAL DU MEDECIN 18/3/2008
9/ CÁC THUỐC CHỦNG CHỐNG
BÉO PHÌ, NGHIỆN THUỐC LÁ, BỆNH ALZHEIMER ĐANG TRONG GIAI ĐOẠN THÍ NGHIỆM
Trong suốt năm thập niên qua, nhiều thử nghiệm đã đánh giá các vaccin
chống lại các bệnh không nhiễm khuẩn.Thí dụ, đã được hiệu chính, các vaccin
nhằm bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer, chống ung thư tiền liệt tuyến (
cancer de la prostate), chống chứng béo phì (obésité) hoặc chống nghiện
thuốc lá (addiction à là nicotine). Chúng ta đã đi xa khỏi lãnh vực truyền
thống của các vaccin nhằm chống lại các bệnh nhiễm trùng. Chúng ta hãy
nhớ rằng vaccin đầu tiên được hiệu chính bởi Pasteur năm 1885 là vaccin
chống lại bệnh chó dại.
Cách nay 10 năm, vaccin đầu tiên chống lại bệnh Alzheimer đã là đối tượng
của một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm trên các người bệnh. Thử
nghiệm đã bị dừng lại sớm vào năm 2002, do các biến chứng thuộc loại viêm
não xảy ra nơi nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, vào năm 2005, một đánh giá
các bệnh nhân đã dung nạp tốt sự tiêm chủng này, đã phát hiện một sự cải
thiện các chức năng nhận thức của họ.Và nhiều dự án mới chống lại bệnh
Alzheimer còn đang được tiến hành. Những thử nghiện đầu tiên của các vaccin
chống lại nghiện thuốc lá đã được trình bày cách nay 2 năm trong một hội
nghị ung thư học ở Hoa Kỳ và đã báo cáo những kết quả đáng phấn khởi nơi
229 người hút thuốc lá. Những người này đã được tiêm chủng bởi một protéine
của virus, ghép đôi với nicotine. Các thầy thuốc Hoa Kỳ cũng đã hiệu chính
một vaccin chống lại bệnh béo phì, với những kết quả, phải công nhận,
đến nay vẫn chưa rõ nét. Sau cùng, các công trình trên chuột đã nêu rõ
ý tưởng rằng có lẽ chúng ta sẽ có thể, vào một ngày nào đó, tiêm chủng
chống lại bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Tất cả mọi khó khăn là phải sản xuất các vaccin có hiệu quả, không gây
nên sự xuất hiện các kháng thể chống lại các tế bào của cơ thể và như
vậy sẽ gây nên một bệnh tự miễn dịch. Nguồn : LE FIGARO
14/3/2008
10/ CHỨNG TRẦM CẢM TRONG THỜI KỲ MÃN KINH
VÀ MELATONINE
Các rối loạn của nhịp sinh học (rythme circadien) có thể góp phần trong
sự phát sinh chứng trầm cảm trong thời kỳ mãn kinh (dépression de la ménopause).
Người ta đã quan sát thấy nơi các phụ nữ bị chứng trầm cảm này, một nồng
độ cao mélatonine và một sự xê dịch đường cong tiết của hormone này vào
buổi sáng.
Chúng ta có thể giả thiết rằng, một sự thay đổi trong hoạt động chức năng
nội tiết góp phần vào sự xuất hiện chứng trầm cảm của thời kỳ mãn kinh.Tuy
vậy, dường như khó xác định chính xác những gì không ổn nơi nhiều phụ
nữ vào thời kỳ này. Barbara L.Parry và các cộng sự viên (Đại học California,
San Diego, Hoa Kỳ) nghĩ rằng điều giải thích có thể được tìm thấy trong
sự biến đổi của nhịp sinh học của sự tiết mélatonine . Để kiểm tra giả
thuyết của họ, các nhà nghiên cứu đã thực hiện các đo lường nồng độ mélatonine
trong huyết thanh nơi 29 phụ nữ trong thời kỳ quanh hay sau mãn kinh (péri-
ou postménopause), có hoặc không có chứng trầm cảm. Ngoài các đo lường
mélatonine mỗi 30 phút, các tác giả cũng đã theo dõi các nồng độ trong
huyết thanh của gonadotrophines và các hormones stéroides, cũng như các
điểm số trên một thang đánh giá chứng trầm cảm. Lý thuyết của các tác
giả đã được xác nhận : nơi các bệnh nhân bị trầm cảm, thời gian giảm dần
của mélatonine bị chậm lại và bị xê dịch vào buổi sáng, trong khi các
nồng độ của hormone này gia tăng. Mặt khác có thể quan sát một mối liên
hệ giữa số năm trôi qua từ khi bắt đầu thời kỳ mãn kinh và thời gian tiết
mélatonine. Ngoài thời gian tiết mélatonine, những yếu tố khác cũng có
một ảnh hưởng lên các điểm số của chứng trầm cảm, như chỉ số khối lượng
cơ thể, số năm từ khi bắt đầu thời kỳ mãn kinh, các nồng độ FSH và giờ
thức giấc.Trái lại, các nồng độ oestradiol, progestérone và LH không có
ảnh hưởng đáng kể.
Các tác giả đã kết luận rằng một sự tiếp xúc ít hơn với ánh sáng có thể
giải thích sự khác nhau trong các đường cong tiết của mélatonine nơi các
bệnh nhân trầm cảm. Do đó các nhà nghiên cứu đề nghị một phép trị liệu
bằng giấc ngủ và ánh sáng, cũng như sự sử dụng betabloquants vào sáng
sớm để làm giảm sự tiết mélatonine vào buổi sáng. Nguồn : LE
GENERALISTE 28/2/2008
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/3/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |