 |
Thời
Sự Y Học số 68
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MÃN KINH: UNG
THƯ VÚ VẪN TỒN TẠI SAU KHI DỪNG ĐIỀU TRỊ HORMONE THAY THẾ
Theo một điều tra của Hoa Kỳ, sau khi dừng điều trị bằng
hormone thay thế (traitement hormonal substitutif), nguy cơ tim mạch tan
biến đi, trong khi nguy cơ ung thư vú vẫn còn tồn tại.
Rõ ràng là những vấn đề được đặt ra do việc điều trị chứng mãn kinh bằng
hormone thay thế đã không hết gây tranh cãi : một công trình nghiên cứu
mới được công bố hôm qua trong Journal of the American Medical Association
(JAMA) tiết lộ rằng nguy cơ bị ung thư vú do điều trị chứng mãn kinh bằng
hormone thay thế vẫn tồn tại sau khi đã ngừng điều trị.
Vào tháng 7 năm 2002, các thầy thuốc Hoa Kỳ đã công bố các kết quả của
một thử nghiệm điều trị có quy mô lớn, được gọi là WHI (Women’s Health
Initiative) nhằm đánh giá những lợi ích và các nguy cơ của điều trị bằng
hormone thay thế và đã phát hiện một nguy cơ gia tăng bị bệnh tim mạch,
huyết khối tắc tĩnh mạch (thromboembolie veineuse), ung thư vú nơi các
phụ nữ sử dụng hormone sau thời kỳ mãn kinh.
Các kết luận này đã làm giảm đáng kể việc điều trị bằng hormone thay thế
khắp nơi trên thế giới và dẫn đến sự giới hạn kê toa nơi các phụ nữ thật
sự cần điều trị này (các cơn bừng mặt không chịu đựng được, nguy cơ mắc
phải chứng loãng xương tăng cao). Mãi đến vào lúc đó và từ những năm 1980,
trong các nước công nghiệp hoá, các phụ nữ vào tuổi mãn kinh đều được
đề nghị điều trị bằng hormone thay thế. Các nhà nghiên cứu của công trình
WIH đã tiếp tục theo dõi các phụ nữ của công trình nghiên cứu này để xem
sau khi ngưng điều trị bằng hormone thay thế thì nguy cơ tim mạch hay
nguy cơ ung thư vú có trở nên tương đương với nguy cơ của một phụ nữ ở
cùng lứa tuổi nhưng không sử dụng hormone thay thế hay không.
Công trình nghiên cứu WHI được khởi động năm 1995 nhằm vào 15.730 phụ
nữ mãn kinh từ 50 đến 79 tuổi (tuổi trung bình 63), được chia thành hai
nhóm, một nửa nhóm nhận một điều trị hormone (oestrogènes équins, progestatifs
de synthèse), nửa nhóm kia nhận một placebo. Tất cả các phụ nữ tình nguyện
này đã được theo dõi một cách tích cực sau khi ngừng hormone vào tháng
7 năm 2002, và như thế cho đến tháng 3 năm 2005, với một thăm khám sức
khỏe và chụp tuyến vú (mammographie) hàng năm.
Các kết quả theo dõi này đã phát hiện nhiều thông tin quan trọng. Một
mặt, các phụ nữ đã được điều trị bằng hormone thay thế và rồi sau đó ngừng
không sử dụng nữa, đã không có các nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, tai biến
mạch máu não hay huyết khối tắc tĩnh mạch sâu (thromboembolie veineuse),
hơn các phụ nữ khác. Các nguy cơ này biến mất nhanh chóng sau khi ngừng
điều trị hormones.
LIỀU LƯỢNG CÀNG NHỎ CÀNG TỐT
Ngược lại, nguy cơ bị ung thư vú sau khi ngừng điều trị,
vẫn ở cùng mức độ với lúc dùng thuốc hormone, ít nhất vẫn tồn tại trong
hai hoặc ba năm sau khi ngừng điều trị. Như thế có 27% trường hợp ung
thư vú được thêm vào đối với các phụ nữ đã được điều trị bằng hormone
so với các phụ nữ khác. Những điều tra khác về chủ đề này, mặc dầu với
quy mô nhỏ hơn, cho thấy một kết quả đảo ngược, đó là sự trở lại bình
thường đối với ung thư vú sau khi ngừng điều trị bằng hormone thay thế.
Mặt khác, trong suốt những năm theo dõi này, đã có tất cả 63 trường hợp
ung thư đủ loại được thêm vào nơi các phụ nữ được điều trị bằng hormone
so với các phụ nữ khác. Đối với các tác giả của công trình này, một kết
luận đầu tiên cần phải được rút ra : phải khẩn thiết tiếp tục theo dõi
bằng chụp tuyến vú đều đặn nơi các phụ nữ đã được điều trị trong nhiều
năm với hormone thay thế, ngay cả sau khi đã ngừng điều trị.
Một phân tích mới đây đã phát hiện lần đầu tiên một sự giảm số các trường
hợp mới ung thư vú ở Pháp trong năm 2005. Sự thoái bộ các trường hợp ung
thư vú cũng đã được quan sát ở Hoa Kỳ, ở Canada và ở Đức. Có lẽ với thời
gian, nguy cơ mắc phải ung thư vú đối với các phụ nữ trước đây đã được
điều trị hormone, sẽ trở lại ngang bằng với nguy cơ của các phụ nữ đã
không được điều trị.
Nguy cơ ung thư vú phải chăng tùy thuộc loại hormone đã được sử dụng ?
Một vài thầy thuốc người Pháp nêu rõ rằng oestradiol được dùng bằng đường
qua da (voie parcutanée), liên kết với progestérone thiên nhiên, không
làm gia tăng nguy cơ bị ung thư vú. Mặc dầu thông điệp này rất gây sự
chú ý của các phụ nữ, nhưng giả định này chưa hề là đối tượng của một
chứng minh khoa học nào.
Hiện nay, giới hữu trách y tế ở Pháp, nhưng cũng ở nước ngoài, khuyến
nghị rằng điều trị bằng hormone thay thế nên được cho với liều lượng càng
nhỏ càng tốt trong một thời gian càng ngắn càng hay, với thời gian điều
trị đừng quá 5 năm. Nguồn: (LE FIGARO 6/3/2008)
2/ UNG THƯ VÚ VÀ THỂ DỤC
Một công trình nghiên cứu của Ba Lan đã so sánh 2.176
phụ nữ bị ung thư vú với 2.326 những phụ nữ khác, dùng làm chứng và không
bị ung thư này. Người ta đã ghi nhận một mối tương quan rất rõ rệt giữa
hoạt động vậy lý và việc giảm nguy cơ xảy ra ung thư vú. Hiệu quả có lợi
xuất hiện nhất là nếu tập thể dục đều đặn, được thực hiện trong những
giờ rảnh và tương đối cật lực, và không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố
nguy cơ được biết khác như mãn kinh, tuổi tác hay chứng béo phì. Tỷ lệ
giảm nguy cơ khoảng 30 đến 40%. Nguồn: (PARIS MATCH
6/3-12/3/2008)
3/ STATINES VÀ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH
Statines rất ít được sử dụng nơi các bệnh nhân già và
nhất là những người rất lớn tuổi có một thương tổn động mạch vành. Các
bệnh động mạch vành là nguyên nhân tử vong chính yếu nơi các bệnh nhân
già cả. Mặt khác, hơn 80% các trường hợp tử vong do bệnh động mạch vành
xảy ra nơi những người trên 65 tuổi.
Mặc dầu những lời khuyến nghị của Third National Cholesterol Education
Program Adult Treatmant Panel về việc cần thiết tăng cường điều trị giảm
lipit-huyết (traitement hypolipidémiant) nơi những người già bị bệnh động
mạch vành, nhưng thuốc statines vẫn ít được sử dụng nơi các người già
sau một tai biến mạch máu não. Điều này có thể là do sự kiện rằng người
ta tiếp tục đặt nghi vấn về hiệu quả của các statines lên sự giảm tỷ lệ
tử vong nơi các người già. Một phân tích méta 16 công trình nghiên cứu,
trong đó có vài công trình với quy mô lớn. Công trình phân tích này cho
phép đạt được những kết quả rất thuyết phục : việc cho statines nơi các
bệnh nhân già bị bệnh động mạch vành được chẩn đoán, đã làm giảm tỷ lệ
tử vong do tất cả các nguyên nhân 22%, tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch
vành 30%, các nhồi máu cơ tim không đe dọa đến mạng sống 26%, sự cần thiết
phải tái phân bố mạch (revascularisation) 30% và các tai biến mạch máu
não 25%. Theo các tác giả, lợi ích của điều trị bằng statines thường bị
đánh giá thấp nơi các người già.
Công trinh nghiên cứu quan sát rộng rãi nhất chứng tỏ một cách rõ ràng
rằng các statines làm giảm tỷ lệ tử vong do tất cả mọi nguyên nhân, nơi
các bệnh nhân bị thương tổn động mạch vành được chứng tỏ bởi chụp động
mạch, và điều này cho đến tuổi ...97!
Lợi ích do điều trị bởi statines nơi người già quan trọng hơn so với những
người trẻ tuổi hơn. Trong khi sự giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân
là 30% nơi những người dưới 65 tuổi, tỷ lệ này tăng lên 44% nơi những
người từ 65 đến 79 tuổi và đạt 50% nơi những người từ 80 đến 97 tuổi.
Nguồn: (TEMPO MEDICAL 2-3/2008)
4/ BỆNH
XƠ CỨNG BÊN TEO CƠ : MỘT BỆNH CỦA CÁC VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO?
Bệnh xơ cứng bên teo cơ (sclérose
latérale amyotrophique, amyotrophic lateral sclerosis) là một bệnh đặc
trưng bởi một sự teo cơ tiến triển. Được mô tả lầu đầu tiên bởi Charcot
(do đó còn được gọi là bệnh Charcot), bệnh khởi đầu bởi những thương tổn
thoái hóa của các neurone vận động của sừng trước tủy sống và của các
nhân vận động của các dây thần kinh sọ cuối. Trong văn liệu anglo-saxon,
bệnh này còn được gọi dưới tên bệnh Lou Gehrig, tên của một cầu thủ base-ball
nổi tiếng của Hoa Kỳ. Lou Gehrig chết do hậu quả của bệnh xơ cứng bên
teo cơ lúc mới 38 tuổi. Nhiều nhân vật tên tuổi cũng mắc phải bệnh này
: diễn viên người Anh David Niven, nhà soạn nhạc người Nga Dimitri Chostakovitch,
Mao Trạch Đông, cũng như nhà thiên văn học Stephen Hawking. Stephen Hawking
giữ ghế giáo sư của Isaac Newton tại đại học Cambridge. Ông đã sống với
bệnh xơ cứng bên teo cơ từ hơn 40 năm nay (đây là một điều rất ngoại lệ)
và vẫn tiếp tục nghiên cứu vũ trụ luận (cosmologie) và vật lý lượng tử
(physique quantique) mặc dầu bị tật nguyền. Một logiciel (ngày nay được
thương mãi hóa dưới tên “clicker” dành cho các người tàn tật) cho phép
ông trao đổi, nhờ một bộ phận tổng hợp âm thanh (synthétiseur vocal) được
nối với một ordinateur và được kiểm soát bởi một cái ngắt điện (ông vẫn
còn có thể cử động hai ngón tay của bàn tay phải).
Một vài điều tra dường như cho thấy rằng, bệnh này thường xảy ra hơn nơi
những người có một hoạt động vật lý cật lực, như các nhà nông hay những
nhà đại thể thao. Một điều tra được tiến hành sau những cáo buộc dopage
trong bóng đá Ý đã phát hiện một tý lệ tử vong sớm, cao một cách bất thường
nơi các cựu cầu thủ. Khoảng 40 người trong số họ là nạn nhân của bệnh
xơ cứng bên teo cơ này.
Bệnh xơ cứng bên teo cơ có lẽ không hiếm như người ta tưởng. Thật vậy
bệnh này liên quan đến 8.000 người ở Pháp. Ở đây tỷ lệ mắc bệnh dường
như gia tăng (800 trường hợp mới mỗi năm).Theo các thống kê Canada, bệnh
xơ cứng bên teo cơ hàng năm gây nhiều nạn nhân hơn là các nạn nhân của
các bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques), loạn dưỡng cơ (dystrophie
musculaire) và xơ hóa nang (fibrose kystique) cộng lại.
Bệnh xơ cứng bên teo cơ nói chung xuất hiện trong lứa tuổi từ 40 đến 70
và gây bệnh ở đàn ông 2 lần nhiều hơn so với đàn bà.
Mãi đến hôm nay không có một phép điều trị nào chữa lành được bệnh này.Tiến
triển diễn ra từ từ và tử vong xảy ra trung bình 2-3 năm sau khi xuất
hiện các triệu chứng đầu tiên. Nguồn: (LE GENERALISTE
6/3/2008)
5/ PHẢI SINH NHIỀU CON ĐỂ ĐƯỢC SỐNG LÂU
HƠN?
Dường như những người có nhiều con, có tuổi thọ
đặc biệt cao.Vẫn còn phải tìm hiểu tại sao.
Các nhà nghiên cứu đã căn cứ trên một sổ ghi dân số của Na Uy để xem xét
mối liên hệ giữa khả năng sinh đẻ và tuổi thọ nơi những người sinh từ
năm 1935 đến 1958. Trên tổng số những người sinh ra trong khoảng thời
gian này, có tất cả 63.312 người chết từ năm 1980 đến 2003. Nhưng tỷ lệ
tử vong đặc biệt cao nơi những người không có con so với những người có
hai con : 1,5 nơi các phụ nữ và 1,35 nơi đàn ông.
Có một con, con số này là 1,31 đối với phụ nữ và 1,20 đối với đàn ông.
Mặt khác, cá nhân còn trẻ lúc có con đầu lòng, thì nguy cơ tử vong càng
ít cao và nhìn toàn bộ, những người sống càng lâu khi họ càng có nhiều
con
Vậy phải chăng phải có nhiều con để được sống lâu hơn? Có thể sự việc
có con mang lại một tác dụng bảo vệ nào đó chống lại sự chết non, nhưng
mối quan hệ cũng có thể được giải thích theo một chiều hướng khác : một
sức khỏe tốt hơn giải thích đồng thời số con có nhiều hơn và khoảng thời
gian sống được gia tăng. Nguồn: (LE GENERALISTE 6/3/2008)
6/ HY VỌNG MỚI CHỐNG LẠI U HẮC TỐ ÁC TÍNH
Hai nhóm nghiên cứu đã khám phá những hướng đi
mới để chống lại các tế bào hoạt động nhất của u hắc tố ác tính (mélanome
malin), một trong những ung thư da nghiêm trọng nhất.
Sau hai thập niên phát triển rất mạnh, số các trường hợp mới hàng năm
của ung thư da nghiêm trọng nhất này, u hắc tố (mélanome), đã ổn định
trong những năm qua, theo những con số sau cùng được công bố bởi viện
quốc gia ung thư (Inca) và Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire).
Công cụ chính để chống lại ung thư này cũng vẫn là công tác điều tra phát
hiện sớm bởi vì, như giáo sư Françoise Avril, thuộc bệnh viện viện Cochin
ở Paris, đã công nhận, « vào giai đoạn tiến triển của các di căn, căn
bệnh này đề kháng với tất cả hóa học trị liệu pháp »
Tuy vậy, vào năm 2003, các nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ đã thành công chọc
thủng bí mật về sự đề kháng với điều trị này : Markus Frank và nhóm nghiên
cứu của Havard Medical School đã khám phá ra rằng một vài tế bào của ung
thư này có khả năng loại bỏ nhiều độc dược được sử dụng để chống lại chúng,
nhờ một yếu tố vận chuyển (transporteur) hiện diện trên bề mặt các tế
bào của chúng, được gọi là ABCB5 mà mãi đến nay không được biết đến
Các nhà nghiên cứu mới đây đã chứng tỏ trong tạp chí Nature rằng các tế
bào đề kháng này cũng là những tế bào duy nhất có khả năng gây bệnh một
khi được truyền cho động vật. "Công trình của chúng tôi là công trình
đầu tiên chứng tỏ sự hiện hữu của những tế bào gốc (cellules souches)
đối với u hắc tố, Markus Frank đã xác nhận như vậy, có nghĩa là các tế
bào phát xuất từ những khối u có khả năng tự đổi mới, truyền bệnh và có
một chỉ dấu đặc biệt, ABCB5. Chỉ dấu này hiện diện trong tất cả các mẫu
nghiệm lâm sàng của chúng tôi. Và bệnh càng ở vào một giai đoạn tiến triển,
thì chỉ dấu này càng nhiều". Lúc tiêm một kháng thể chống lại ABCB5,
các nhà nghiên cứu đã có thể hủy bỏ sự xuất hiện của các khối u nơi các
con chuột mang những tế bào ung thư này.
« Công trình này rất là lý thú, Marie-Françoise Avril đã xác nhận như
vậy, nhưng cần phải thận trọng, bởi vì những kháng thể khác đã từng cho
những kết quả ngoạn mục trên chuột nhưng sau đó lại không có một tác dụng
nào cả trên người »
MỤC TIÊU CHÍNH XÁC
Tuy vậy, với ABCB5, các nhà nghiên cứu lần đầu tiên có
một mục tiêu chính xác để chống lại u hắc tố. Hơn nữa mục tiêu này được
mang bởi những tế bào nguy hiểm nhất, các tế bào nguyên nhân của các di
căn. Ngoài ra, cũng những nhà nghiên cứu này đã chứng tỏ rằng các kháng
thể chống ABCB5 phong bế các tế bào này tống xuất doxorubicine, một dược
phẩm cổ điển của hoá học trị liệu.
“Việc sử dụng kháng thể antiABCB5 đã được cho phép và bây giờ đây chúng
tôi đang tìm cách thương mãi hóa nhằm điều trị chống ung thư”, Markus
Frank đã kết luận như vậy. Cùng lúc, các nhà nghiên cứu đã loan báo trong
tạp chí Cancer Cell là đã nhận diện các tế bào gốc của ung thư gan. Sử
dụng cùng phương cách của nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, Zhen Fan Yang và các
cộng sự của đại học Hong Kong đã chứng tỏ rằng chỉ có những tế bào carcinome
hépatocellulaire được đặc trưng bởi một chất chỉ dấu CD90, là có khả năng
tự đổi mới và cho những khối u mới nơi động vật.Tất cả các bệnh nhân của
họ có cùng loại tế bào này. Ngoài ra những tế bào này có thể bị phá hủy
bởi một kháng thể chống lại một chất chỉ đấu khác trên bề mặt của chúng,
CD44.
Các khám phá này bổ sung số các trường hợp những ung thư mà các tế bào
gốc đã được nhận diện trong những năm qua. Sau cùng những khám phá này
mang lại triển vọng điều trị nhắm tốt hơn vào các tế bào ung thư cần loại
bỏ, nhất là các tế bào vẫn còn đề kháng với các điều trị hiện nay. Nguồn:
(LE FIGARO 4/3/2008)
7/ PROZAC, THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CÓ NGUY
CƠ ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN
Một công trình nghiên cứu trên các chuột nhỏ chứng
tỏ các tác dụng có hại của Prozac lên sự tăng trưởng. Cơ quan an toàn
các dược phẩm y tế của Pháp (Afssaps) rung chuông báo động về việc kê
toa các thuốc chống trầm cảm cho các thiếu niên. Fluoxétine (Prozac) được
Cơ quan dược phẩm châu Âu (Agence européenne du médicament) cho phép sử
dụng nơi trẻ trên 8 tuổi bị chứng trầm cảm nặng, không đáp ứng dương tính
với tâm lý trị liệu pháp.Thế mà một công trình nghiên cứu tiền lâm sàng
nơi chuột non, đã tiết lộ rằng fluoxétine có thể có những tác dụng độc
hại lên sự tăng trưởng cũng như lên sự trưởng thành sinh dục của động
vật. Mặt khác, trong những thử nghiệm lâm sàng nơi người, nguy cơ có hành
vi tự tử (comportement suicidaire), nhất là ở giai đoạn đầu của điều trị,
đã được báo cáo. “Do đó, Cơ quan dược phẩm châu Âu đã yêu cầu những nghiên
cứu bổ sung nơi động vật, Marie-France le Heuzy, bác sĩ chuyên khoa tâm
thần trẻ em, thuộc khoa bệnh lý tâm thần trẻ em của bệnh viện Robert-Debré
Paris và uỷ viên của nhóm chuyên viên Afsaps đã xác nhận như thế. Trong
lúc chờ đợi để biết nhiều hơn, chúng tôi khuyến nghị sử dụng các thuốc
chống trầm cảm một cách hết sức thận trọng”
Afssaps chỉ rõ rằng các trẻ em được điều trị bởi Prozac phải được theo
dõi sát và sự tăng trưởng phải được kiểm tra.Việc kê toa phải do một bác
sĩ chuyên khoa tâm thần đã chẩn đoán bệnh trầm cảm. Bởi vì chẩn đoán bệnh
này ở trẻ em là khó. Ở một đứa trẻ, “các triệu chứng là dần dần tự rút
mình lại, đạt điểm thấp ở lớp học, không thích thú luyện tập thể thao,
v...v., tất cả mọi điều khó chẩn đoán”. Ở các thiếu niên, chứng trầm cảm
thường được che dấu bằng một tâm trạng bực bội, cáu kỉnh, hung bạo.
Do khó khăn trong chẩn đoán và các nguy cơ do fluoxétine mang lại, nên
việc cho toa cần phải thận trọng. “ Ở Pháp, chúng tôi đã có phương thức
xử lý tốt, Marie-France Le Heuzy đã xác nhận như thế.Thuốc chống trầm
cảm không được xem như là phương thức điều trị được chọn đầu tiên và không
bao giờ được cho trong trường hợp cấp cứu. Đứa bé bị trầm cảm có thể được
chữa lành bằng cách thay đổi môi trường và bằng những biện pháp tâm lý.
Các nguy cơ của thuốc phải được cân nhắc với mối lợi mong muốn”. Nguồn:
(SCIENCES ET AVENIR 3/2008)
8/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : SAU CÙNG MỘT NIỀM
HY VỌNG
Các nhà nghiên cứu đã xác nhận điều đó: chính sự
thức dậy của một rétrovirus nằm nép mình trong ADN của chúng ta từ hàng
triệu thế kỷ nay đã làm phát khởi căn bệnh này. Thế là một phép trị liệu
được xem xét. Một trường hợp đầu tiên.
Bộ gène (génome) của chúng ta quả là một di sản rất lớn! bằng cớ : cách
nay hàng triệu năm, một rétrovirus lồng vào trong bộ gène người và ở lại
đó, nép mình trong ADN, mặc dầu vô hại. Vô hại? Còn phải xem. Bởi vì các
nhà khoa học vừa khám phá ra rằng rétrovirus này có thể là chìa khóa của
… bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques, multiple sclerosis). Xơ cứng
rải rác là căn bệnh thoái hóa (maladie dégénérative) của não bộ, gây bệnh
cho hơn 60.000 người ở Pháp, hai triệu người trên thế giới và vẫn luôn
luôn không có phương pháp điều trị chữa lành cho bệnh này. Xơ cứng rải
rác là một trong những bệnh thần kinh thường xảy ra nhất và là nguyên
nhân thứ hai gây tàn phế nơi các người trưởng thành trẻ tuổi, sau tai
nạn xe cộ. Bệnh được thể hiện bởi nhiều rối loạn (vận động, cảm giác,
thị giác, thần kinh). Tiến triển thật nhanh hay rất chậm, bệnh xơ cứng
rải rác là một bệnh không thể tiên đoán được. Một hiểu biết tốt hơn các
cơ chế sinh bệnh có thể mở ra những triển vọng về điều trị. Nguồn:
(SCIENCE ET VIE 3/2008)
9/ CAO HUYẾT ÁP VÀ NHIỄM TRÙNG THAI NHI
BỞI VIRUS
Theo một công trình nghiên cứu của Úc, tiền sản
giật (prééclampsie), chứng cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén gây nguy
hiểm cho bà mẹ và đứa bé, có khả năng được gây ra bởi một nhiễm trùng
virus xảy ra nơi thai nhi.
Các nhà nghiên cứu đã so sánh 609 thai nghén bình thường với 717 thai
nghén có một hay nhiều hơn, 4 kết cục sau đây : sinh non, thai nhi có
trọng lượng nhỏ so với tuổi thai nghén, xuất huyết trong thời kỳ mang
thai hay tiền sản giật.
Các nhà khoa học đã trắc nghiệm máu của mỗi em bé trong vòng 5 ngày sau
khi sinh để tìm ADN hay RNA của 8 loại virus khác nhau, bao gồm cả 5 loại
herpes. Việc nhiễm trùng thai nhi bởi virus đã được liên kết với tất cả
4 kết cục âm tính, nhưng đặc biệt là với tiền sản giật. Các bà mẹ của
những em bé được trắc nghiệm dương tính với bất cứ virus nào, có khả năng
bị tiền sản giật 5 lần nhiều hơn, và các bà mẹ có các em bé được trắc
nghiệm dương tính đối với virus herpes hầu như có nguy cơ bị tiền sản
giật 6 lần nhiều hơn.
Công trình nghiên cứu này được công bố trong số tháng 3 của British Journal
of Obstetrics and Gynecology. Các tác giả đã công nhận rằng các trường
hợp tiền sản giật và các trường hợp chứng không thích ứng với nhau và
rằng số ít ỏi các trường hợp tiền sản giật trong mẫu nghiên cứu của họ
làm cho việc rút ra một kết luận vững chắc là điều khó khăn.
Tuy nhiên, Alastair MacLennan, một đồng tác giả của bài báo và là trưởng
bộ môn sản của Đại học Adelaide, đã nói rằng điều được tìm thấy là lý
thú mặc dầu cần được xác nhận bởi nhiều trường hợp hơn. Ông nói : “Đến
nay, chúng ta vẫn không biết rõ ý nghĩ lâm sàng của điều đã được tìm thấy”.
Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/3/2008)
10/ ĐỂ LÀM GIẢM ĐAU CÁC EM BÉ, HÃY THỬ CHO
CHÚNG UỐNG NƯỚC ĐƯỜNG
Các em bé phải bị tiêm chích, và chúng la khóc
đau đớn. Nhưng một công trình nghiên cứu mới nhận thấy rằng có một thứ
thuốc gây tê không những có hiệu quả mà còn dễ cho và an toàn : nước đường.
Các nhà nghiên cứu đã trắc nghiệm 83 em bé ở lứa tuổi 2 tháng và 4 tháng.
Trước và sau khi tiêm chích như lệ thường, khoảng một nửa các trẻ em này
được cho uống dung dịch sucrose 24% và được cho một đầu vú giả (tétine).
Còn nửa kia được cho uống nước vô trùng và một đầu vú giả. Sau đó các
nhà nghiên cứu (không được cho biết các trẻ em nào đã nhận nước đường)
đã đánh giá mức độ đau đớn và khó chịu bằng một thang định mức chuẩn.
Thang đánh giá này đo lường cường độ của sự la khóc, vẻ mặt đau đớn, các
cử động của cơ thể và giấc ngủ.
Công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng
hai của tờ Pediatrics, đã nhận thấy rằng các trẻ em được cho
uống dung dịch sucrose thoải mái hơn nhiều so với các trẻ em chỉ nhận
nước uống đơn thuần. Ngay cả 5 phút sau khi được chích, các trẻ uống nước
đường ghi được trên thang đánh giá đau đớn, 78% thấp hơn so với các trẻ
khác.
“Các trẻ đúng là khá khốn khổ khi phản ứng với việc tiêm chủng”, Linda
Hatfield, tác giả chính và là phó giáo sư của trường điều dưỡng ở tiểu
bang Pennsylvania đã nói như vậy. “Hy vọng của chúng tôi là những điều
được tìm thấy này sẽ giúp làm giảm đau các em bé và làm cho cha mẹ thoải
mái hơn về việc phải mang các con của họ đến để được chủng ngừa.” Nguồn:
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/3/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/3/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |