Thời Sự Y Học số 66
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG LỜI KHUYẾN NGHỊ CỦA THỤY SĨ VỀ BỆNH SIDA GÂY NÊN CUỘC TRANH CÃI
Các cặp ổn định, trong đó một trong hai người phối ngẫu có huyết thanh dương tính (séropositif), nhưng nhờ điều trị, không còn virus gây bệnh sida (VIH) có thể được phát hiện trong máu, như vậy họ có thể không cần đến các phương tiện phòng ngừa nữa hay không ? Vâng, các chuyên viên Thụy Sĩ của Uỷ Ban Liên bang về các vấn đề liên quan đến Sida (CFS) đã trả lời như vậy trong một văn kiện được công bố hôm thứ tư 30 tháng giêng. Một lập trường bị cho là còn quá sớm bởi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (OMS) và Onusida hay ở Pháp bởi Hội đồng sida quốc gia.
Các chuyên gia Thụy Sĩ phát xuất từ một điều chứng nhận đã được nhất trí : từ năm 1996, việc áp dụng điều trị những phối hợp thuốc antirétroviraux không những đã biến đổi tiến triển của bệnh Sida nơi những người bị nhiễm trùng, mà còn làm giảm sự lan truyền của VIH. Nguy cơ lan truyền càng quan trọng khi số các bản sao (exemplaires) của virus trong máu (còn được gọi là charge virale) được tăng cao. Nếu được theo đuổi tốt, điều trị antirétroviral sẽ làm cho charge virale không thể phát hiện được trong máu (dưới 40 bản sao của VIH cho mỗi ml) máu. Trong trường hợp như thế, liệu những giao hợp có còn cần phải được bảo vệ nữa hay không?
Các chuyên gia Thụy Sĩ dựa trên 3 công trình nghiên cứu quy tụ tổng cộng 548 cặp dị tính (hétérosexuel), với huyết thanh dương tính nơi một trong hai người phối ngẫu. Các nghiên cứu không cho thấy một trường hợp truyền bệnh nào với một điều trị được theo đuổi tốt và một charge virale không thể phát hiện được trong máu. CFS kết luận rằng « sự áp dụng nhất quán một điều trị antirétroviral cho phép loại bỏ mọi nguy cơ lan truyền quan trọng ».
Ba điều kiện cần phải hội đủ để không khỏi phải dùng biện pháp bảo vệ lúc giao hợp: tuân thủ «sát» điều trị có bác sĩ gia đình theo dõi, một charge virale không thể phát hiện được trong máu từ ít nhất 6 tháng và người có huyết thanh dương tính không bị một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục nào khác. Do đó quyết định không dùng biện pháp phòng ngừa nữa là thuộc vào nguời có huyết thanh âm tính, ủy ban đã nói như vậy.
« VẪN LUÔN THẬN TRỌNG »
Trong một thông báo chung, Onusida và OMS nhắc lại rằng sự việc một charge virale không thể phát hiện được trong máu “ loại bỏ hoàn toàn nguy cơ truyền virus ” là điều không được chứng minh và nhấn mạnh tầm quan trọng của “ những phương pháp phòng ngừa có hiệu quả và đã được thử thách chống lại VIH”. Nguồn: (LE MONDE 7/2/2008)
2/ LẦN ĐẦU TIÊN TỶ LỆ UNG THƯ VÚ ĐANG GIẢM Ở PHÁP
Đối với Viện Hàn Lâm Y Học Pháp, sự giảm số các trường hợp ung thư vú được giải thích là do việc sử dụng ít hơn sự điều trị bằng hormone thay thế.
Trong khi từ 30 năm nay ở Pháp số trường hợp ung thư vú không ngừng gia tăng, thì từ năm 2005 đến nay, tỷ lệ mắc phải ung thư vú lại đang trên đà giảm xuống. Hiện tượng này cũng được quan sát ở Hoa Kỳ. Hiện nay lối giải thích hợp lý nhất dường như là việc các phụ nữ đã từ bỏ hàng loạt không sử dụng điều trị chứng mãn kinh bằng hormone thay thế (traitement hormoanl substitutif) nữa. Đó là những bài học chính yếu được rút ra từ một báo cáo được công bố ngày 18 tháng hai bởi Viện hàn làm y học quốc gia Pháp. Mặt khác Viện hàn lâm đưa ra một loạt các lời khuyến nghị trong cố gắng tổ chức ngăn ngừa bệnh ung thư vú, căn nguyên của khoảng 10.000 trường hợp tử vong non mỗi năm.
Những kết luận của nhóm công tác của Viện hàn lâm y học, được tạo lập do sáng kiến của giáo sư Maurice Tubiana, được căn cứ một phần trên một tài liệu xuất bản số tháng giêng vừa rồi của Bulletin du cancer. Được chỉ đạo bởi bác sĩ Hubert Allemand (Quỹ bảo hiểm bệnh tật quốc gia), các tác giả đang nghiên cứu một hiện tượng khá nghịch lý : trong khi số các xét nghiệm quang tuyến nhằm điều tra phát hiện ung thư vú không ngừng gia tăng ở Pháp, thì ngược lại số các trường hợp ung thư vú được chẩn đoán lại giảm nhiều từ năm 2005.
Các tác giả viết : « Từ năm 2000 đến 2004, sự gia tăng trung bình hàng năm của tỷ lệ mắc phải ung thư vú là 2,1%. Rồi thì tỷ lệ này đã giảm xuống .Từ năm 2004 đến 2005, tỷ lệ này đã giảm 4,3% và từ 2005 đến 2006 3,3% ”. Trước hết việc giảm này liên quan đến các phụ nữ tuổi 50 hoặc hơn, với tỷ lệ giảm lần lượt là 6% và 5,3%. Số các trường hợp được chẩn đoán đã đạt đến 49.236 năm 2004.
Do thiếu sổ quốc gia đăng ký các ung thư, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu từ các dữ kiện mà cơ quan bảo hiểm xã hội có được. Các tác giả ghi nhận rằng từ năm 2002 đến 2006 các trường hợp kê toa điều trị bằng hormone thay thế đã giảm 62%, chủ yếu là do sự phổ biến rộng rãi những kết quả khoa học đầu tiên xác lập mối tương quan khả dĩ giữa một vài điều trị hormone thay thế với một khả năng gia tăng ung thư vú.
Trong cùng thời kỳ này, số các trường hợp điều tra phát hiện bằng chụp tia X vú (mammographie) đã gia tăng 335% .“Sự giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú trong giai đoạn triển khai chiến dịch điều tra phát hiện bằng chụp tia X vú là điều nghịch lý, bác sĩ Allemand và các đồng sự đã nhận xét như vậy. Việc giảm hàng loạt và đồng thời các điều trị bằng hormone thay thế là biến đổi quan trọng duy nhất của môi trường có thể giải thích tiến triển này.”
ĐIỀU TRỊ PHÒNG NGỪA.
Báo cáo của Viện hàn lâm y học quốc gia nhấn mạnh rằng sau một thời kỳ ổn định, tỷ lệ mắc phải ung thư vú ở Hoa Kỳ đã bắt đầu hạ 12% trong năm 2003, nghĩa là ít lâu sau việc điều trị bằng hormone thay thế bị giảm một nửa ở đất nước này. Các dữ kiện thống kê mới này có tính chất làm phát động trở lại cuộc tranh cải nhằm vào việc tìm biết xem một vài đặc điểm của điều trị hormone thay thế « kiểu Pháp » có làm ít xảy ra nguy cơ bị ung thư vú hay không. «Chúng ta phải nhất thiết tìm biết xem điều trị bằng hormone thay thế “kiểu Pháp” có phải là ít nguy cơ hơn hay không. Về điểm này các công trình nghiên cứu đang tiến hành nhất thiết phải được bổ sung», các tác giả của báo cáo đã nhấn mạnh như vậy.
Viện hàn lâm y học Pháp cũng ủng hộ việc thương mãi hóa hai dược phẩm (tamoxifène và raloxifène). Hai loại thuốc này đã chứng tỏ hiệu quả của chúng trong điều trị phòng ngừa nơi các phụ nữ được nhận dạng là có nguy cơ rất cao bị ung thư vú, đặc biệt là vì những lý do di truyền. Mặt khác, các tác giả của báo cáo chủ trương phát triển sự nghiên cứu cơ bản trong một lãnh vực hiện vẫn còn nhiều ẩn số. Theo các tác giả, những tiến bộ trong nghiên cứu di truyền rõ ràng cho phép hy vọng sự nảy sinh một phòng ngừa có trọng điểm và thích ứng theo đặc điểm của từng cá nhân. Nguồn: (LE MONDE 20/2/2008)
3/ CÓ CON SỚM VÀ CHO BÚ SỬA MẸ CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ CHỐNG UNG THƯ VÚ
Tỷ lệ ung thư vú có thể làm giảm bằng cách trẻ hóa tuổi có thai lần đầu, bằng cách khuyến khích cho bú sửa mẹ hoặc bằng cách giới hạn điều trị bằng hormone thay thế.
Không có một yếu tố duy nhất nào để giải thích ung thư vú nhưng có nhiều yếu tố nguy cơ, đặc biệt liên quan với lối sống và việc sử dụng hormone. Tuy nhiên, theo một báo cáo của Viện hàn lâm y học Pháp mới được công bố, có thể thiết lập một chính sách phòng ngừa thật sự cho căn bệnh ung thư thường xảy ra này (hơn 45.000 trường hợp ung thư vú mỗi năm ở Pháp). Các chuyên gia của Viện hàn lâm trước hết đánh giá rằng các phụ nữ cũng như các thầy thuốc đã không được thông tin đầy đủ và rằng cần phải tổ chức những chiến dịch phòng ngừa ung thư vú thật sự.
Đối với giáo sư Henri Rochefort và Jacques Rouesse, các tác giả của báo cáo này, tất cả đều nhất trí khuyên tất cả các phụ nữ tránh tiêu thụ quá nhiều các đồ uống có chất rượu (hơn hai ly ruợu vang mỗi ngày), sự ít hoạt động, thuốc lá và chứng béo phì sau thời kỳ mãn kinh.Tất cả các hành vi này đều là những yếu tố nguy cơ đã được xác lập của ung thư vú.
Về các điều trị bằng hormone thay thế chứng mãn kinh, các tác giả cho rằng « các điều trị này làm gia tăng nguy cơ ung thư vú.Theo các công trình nghiên cứu, nguy cơ này biến thiên từ 1,3 đến 2. Đến mãi ngày nay, không có chứng minh cho rằng các hormone tự nhiên sẽ ít hung hãn hơn các hormone được tổng hợp mặc dầu điều này đã được gợi ý mới đây ».Theo các tác giả, nếu chúng ta muốn giảm tỷ lệ mắc phải các ung thư vú, thì phải tránh một điều trị kéo dài bằng hormone thay thế, điều mà các giới hữu trách y tế đã khuyến nghị từ nhiều năm qua.
LỢI ÍCH CỦA MỘT THAI NGHÉN TRƯỚC 25 TUỔI
Mặt khác, từ lâu chúng ta đã biết rằng sự việc có thai đầu tiên xảy ra muộn là một yếu tố nguy cơ của ung thư vú. Nhưng đây là một yếu tố khó mà tác động vào. Ở Pháp, tuổi trung bình để có một đứa con đầu lòng đã chuyển từ 24 tuổi năm 1970 qua 28 đến 29 tuổi năm 2001. Và lứa tuổi 28-29 này không hề có khuynh hướng hạ xuống. « Các phụ nữ phải được thông tin về lợi ích của một thai nghén lần đầu tiên trước 25 tuổi. Điều này cũng có thể được khuyến khích bằng một chính sách gia đình tốt hơn (các trợ cấp gia đình cho đứa trẻ sinh đầu tiên cần được điều biến tùy theo tuổi người mẹ, nhà trẻ, v.v). », các báo cáo viên đã nhấn mạnh như vậy
Việc cho con bú cũng là một yếu tố bảo vệ, nhưng lại nữa, khó có thể tác động lên sự lựa chọn của các phụ nữ, ngoài việc thông tin cho họ. « Về mặt xã hội, việc khuyến khích các phụ nữ cho con bú là dễ dàng hơn (nếu có thể trong ít nhất 6 tháng). Ngoài lợi ích cho đứa trẻ, sự bảo vệ đối với bà mẹ giờ đây đã được chứng minh về mặt dịch tễ học. », các báo cáo viên đã thêm vào như thế.
Làm sao tổ chức phòng ngừa đối với các phụ nữ có bẩm chất bị ung thư vú ? « Ngày nay, ở Pháp, việc đề nghị cho giấy phép bán trên thị trường một vài loại thuốc chống œstrogène (antioestrogènes) như tamoxifène và raloxifène để điều trị phòng ngừa các phụ nữ mãn kinh với nguy cơ ung thư vú rất cao, có vẻ hợp thời. Thí dụ, đó là trường hợp của các phụ nữ có một ung thư tại chỗ (cancer in situ) cũng như các phụ nữ có nguy cơ do di truyền cao với hai tiền sử gia đình ung thư vú thế hệ 1 hay các phụ nữ mang những biến dị có nguy cơ. Nơi các phụ nữ có nguy cơ rất cao bị ung thư vú này, tamoxifène cũng như giải phẫu cắt bỏ buồng trứng (ovariectomie) dường như có một hiệu quả bảo vệ. », các báo cáo viên đã trả lời như vậy. Nguồn: (LE FIGARO 19/2/2008)
4/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : ÂM NHẠC CHỮA BỆNH
Âm nhạc cho phép phục hồi các năng lực sau một tai biến mạch máu não. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong báo y học Brain. Các nhà nghiên cứu của Phần Lan đã thí nghiệm những lợi ích của vài giờ âm nhạc mỗi ngày lên sự phục hồi trí nhớ ngôn từ (mémoire verbale) và sự chú ý của các bệnh nhân, nạn nhân của tai biến mạch máu não. Các bệnh nhân này đã cho thấy sự hồi phục của não bộ diễn ra tốt hơn. Khám phá này có thể có những ý nghĩa quan trọng trên thực hành lâm sàng.
« Các kết quả của chúng tôi chứng tỏ rằng việc nghe nhạc ngay trong những ngày đầu của quá trình hồi phục sau tai biến mạch máu não, mang lại một giá trị quý báu thêm vào trong sự săn sóc bệnh nhân, Teppo Sarkamo, tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy, nhất là khi những hình thức phục hồi chức năng khác thường không thể thực hiện được ở một giai đoạn hồi phục sớm như vậy ».Teppo Sarkamo đã tập trung nghiên cứu vào những bệnh nhân đã bị một cơn đột quỵ ở động mạch não trung (artère cérébrale moyenne) của bán cầu não bộ trái hoặc phải. Để thực hiện thí nghiệm, từ tháng 3 năm 2004 và tháng 5 năm 2006, Teppo Sarkamo đã làm việc với các bệnh nhân ngay lúc họ được nhập viện. « Chúng tôi nghĩ rằng điều quan trọng là bệnh nhân phải bắt đầu nghe càng nhanh càng tốt trong giai đoạn sau đột quỵ, bởi vì não bộ chịu những thay đổi rõ rệt trong những tuần và tháng đầu của thời kỳ bình phục và chúng ta biết rằng những thay đổi này có thể được khuếch đại bằng sự kích thích của môi trường ».
Hầu hết các bệnh nhân bị những vấn đề về vận động và nhận thức như là sự chú ý và trí nhớ. Các nhà nghiên cứu đã phân chia các bệnh nhân thành ba nhóm : nhóm thứ nhất nghe nhạc mỗi ngày, nhóm thứ hai nghe các chuyện kể và nhóm thứ ba không nghe gì hết .
CÁC BỆNH NHÂN MÊ NHẠC PHỤC HỒI.
3 tháng sau khi bị tai biến mạch máu não, trí nhớ ngôn từ (mémoire verbale) và khả năng thực hiện những động tác tinh thần tốt hơn nhiều nơi những bệnh nhân « mê nhạc ». Ngoài ra tinh thần của nhóm này dường như cũng được cải thiện.Theo các nhà nghiên cứu, những công trình này là đầy hứa hẹn, nhưng cần phải có những nghiên cứu khác để hiểu các cơ chế thần kinh can dự vào.
Khoảng 80% các tai biến mạch máu não xảy ra do thiếu máu cục bộ (ischémie) hoặc do giảm đột ngột tiếp vận máu vì các cục máu đông. Nếu như âm nhạc có thể giúp hồi phục, một nghiên cứu của Canada cho thấy rằng loại tai biến mạch máu não này có thể gây nên những thương tổn nghiêm trọng và thường trực trong não bộ chỉ trong vòng 3 phút.
Được công bố trong Neuroscience, các công trình này gợi ý rằng sự phòng vệ tốt nhất chống căn bệnh này, một trong những bệnh gây tử vong nhất trên thế giới, vẫn là sự phòng ngừa. Điều này nói lên tầm quan trọng của việc thay đổi lối sống bằng cách tránh thuốc lá, tránh tăng thể trọng, nghiện rượu, stress và các yếu tố nguy cơ khác. Nguồn:(LE SOIR 20/2/2008)
5/ VIAGRA CÓ THỂ LÀM HỎNG KHẢ NĂNG SINH SẢN
Những người sử dụng Viagra có thể bị hư hại về khả năng sinh sản của họ, tờ The Observer đã chỉ rõ như vậy.Viên thuốc bé nhỏ có màu xanh này rất có hiệu quả đối với sự cương cứng nhưng việc tiêu thụ thuốc này cũng có những hậu quả có hại lên chất lượng của tinh trùng. «Tôi nhận thấy điều đó là đáng quan ngại bởi vì các thầy thuốc càng ngày càng kê toa thuốc Viagra», bác sĩ David Glenn, thầy thuốc phụ khoa thuộc đại học Queen’s Belfast đã phản ứng như vậy. «Các cặp nam nữ được điều trị bởi Viagra, theo định nghĩa, là đã có những vấn đề về việc thụ thai một đứa con. Vậy cho các ông cái gì đó có thể còn làm gia trọng hơn vấn đề này là điều không thích hợp. Theo công trình nghiên cứu được tiến hành bởi thầy thuốc phụ khoa này, viên thuốc Viagra sẽ hủy hoại acrosome, màng bao quanh nhân của tinh trùng, cần thiết cho sự thụ thai. Nguồn: (METRO 25/2/2008)
6/ CHIẾN DỊCH PHÒNG BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME)
NHÃN KHOA. 400.000 người không hề hay biết rằng họ đang bị bệnh tăng nhãn áp. Một trung tâm điều tra phát hiện lưu động sẽ đi khắp nước Pháp trong vòng một tháng.
Nhân dịp ngày thế giới đầu tiên bệnh tăng nhãn áp vào ngày 6/3 sắp đến, và trong khung cảnh của chiến dịch điều tra phát hiện miễn phí lần thứ tư của căn bệnh này, hai xe tải, trong đó một chiếc mang một máy phỏng lái xe hơi (stimulateur de conduite automobile) sẽ đi khắp mọi miền của nước Pháp cho đến ngày 12/4. Một cuộc tuần du kéo dài sẽ lần lượt đi qua theo thứ tự thời gian Paris, Strasbourg, Toulouse, Lyon, Grenoble, Clermont-Ferrand, Bordeaux, Nice, Nantes, Brest và Lille. Một trong hai chiếc xe tải sẽ đề nghị khám nhãn khoa nhằm đo áp lực nhãn cầu và thị trường (champ visuel). Còn chiếc xe tải kia sẽ được trang bị một máy phỏng (simulateur), được sử dụng bởi công nghiệp xe hơi và được cải tạo lại nhằm phát hiện sự thu giảm dần dần của thị trường nơi những người bị chứng tăng nhãn áp. Bởi vì việc lái xe đòi hỏi thị giác ngoại biên (vision périphérique). Như vậy, máy phỏng này sẽ cho dân chúng khả năng ý thức về những hậu quả của bệnh tăng nhãn áp lên công việc hàng ngày, với một thị trường nhìn bên bị thu giảm .
MỘT KHÁM TỔNG KẾT NGAY Ở TUỔI 45
Ở Pháp, năm 2006, một triệu người bị bệnh tăng nhãn áp đã được điều trị, nhưng 400.000 người mắc bệnh mà không hay biết gì về điều đó. Bởi vì căn bệnh của dây thần kinh thị giác này vẫn không gây đau đớn và không gây một khó chịu gì đặc biệt trong một thời gian dài, nên nhiều người không biết rằng họ có áp lực nội nhãn tăng quá mức (nói chung trên 21 mm) có thể dẫn đến mù lòa. Điều này nói lên tầm quan trọng của việc thăm khám tổng kết nhãn khoa ngay ở tuổi 45, thậm chí ở tuổi 40 trong trường hợp có tiền sử gia đình về bệnh tăng nhãn áp. Ở Pháp, bệnh tăng nhãn áp chịu trách nhiệm 10 đến 15% những trường hợp mù lòa hay giảm thị lực, hoặc khoảng 15.000 trường hợp. Đó là nguyên nhân gây mù lòa đứng hàng thứ hai trong các nước công nghiệp hóa. Nguy cơ phát triển bệnh gia tăng với tuổi : 10% những người trên 70 tuổi mắc phải chứng bệnh này, nhưng sự di truyền cũng đóng một vai trò quan trọng (20 đến 30% các trường hợp là do di truyền).
Suốt trong những năm dài (từ 10 đến 20 năm), những người với bệnh tăng nhãn áp không có một triệu chứng nào, không đau đớn cũng như không mất thị giác. Chỉ có một khám nghiệm nhãn khoa kiểm tra mới cho phép phát hiện bệnh này. Mặt khác những tiến bộ về điều tra phát hiện đã có những trắc nghiệm cực kỳ nhanh.
Nếu bệnh tăng nhãn áp không được phát hiện đúng lúc và không được điều trị (bằng thuốc nhỏ mắt để ổn định áp lực nội nhãn, dùng laser và nếu cần, phẫu thuật trong trường hợp thất bại hai phương pháp trước), thị trường dần dần bị thu nhỏ lại. Vùng nhìn bị thu giảm được cảm nhận như một vết mờ, được mô tả rõ bởi bệnh nhân. Khi đó thì đã quá muộn, “ thị giác đã mất đi không thể kiếm trở lại được”, các chuyên gia đã xác định như thế. “ Nhiều bệnh nhân lái xe mà không nhận thức về nguy cơ, bởi vì thị giác trung tâm “thẳng phía trước” vẫn còn tốt trong thời gian lâu, Giáo sư Jean-Philippe Nordmann, trưởng khoa mắt ở bệnh viện Quinze-Vingts, Paris và chủ tịch của Hiệp hội bệnh tăng nhãn áp Pháp đã nêu nhận xét như vậy. Theo chuyên gia này, sự lái xe trở nên không thể thực hiện được khi bệnh tăng nhân áp đã rất tiến triển. Năm qua, 14.000 người đã được thăm khám trong chiến dịch điều tra phát hiện, 5.930 trường hợp đã được chẩn đoán và 1990 trường hợp nghi ngờ đã được kiểm kê.
Nguồn: (LE FIGARO 25/2/2008)
7/ NHỮNG ĐIỀU BÍ ẨN CỦA ĐIỂM G
Các nhà khoa học dùng máy siêu âm để thăm dò điểm G. Những khoái lạc cực độ âm đạo (orgasmes vaginaux) “tùy thuộc vào bề dày của vùng G (zone G)”.
Được khám phá bởi nhà giới tính học (sexologue) người Đức Ernest Grafenberg, điểm G là một vùng bao gồm các tuyến Skène và nằm giữa niệu đạo (urètre) và âm đạo. “Điểm G tương ứng với một đám dây thần kinh trong đó các tuyến Skène bảo đảm chức vụ bôi trơn”, nhà giới tính học người Liège (Belgique) Sabrina Bauwens đã giải thích như vậy. Mặc dầu vị trí của điểm G không ít thì nhiều đã được xác lập nhưng sự thành công trong việc kích thích không phải khi nào cũng đạt được. Do đó các nhà khoa học tự hỏi không biết tất cả các phụ nữ đều có điểm G này hay không. Mong muốn giải quyết bí ẩn này, Emmanuelle Jannini, thuộc Đại học l’Aquila của Ý, đã nghiên cứu cơ thể học của những vùng sâu kín cửa 20 phụ nữ. Các phụ nữ này được chọn tùy theo các khoái lạc mà họ cho là đã đạt được. 9 người trong số các phụ nữ này xác nhận là đã có những khoái lạc âm đạo trong khi 11 phụ nữ khác đã không có được khoái lạc này. Khoái lạc âm đạo độc lập với sự kích thích của âm vật (clitoris).
VÙNG G DÀY HƠN
Nhờ siêu âm, giáo sư Jannini đã phát hiện một sự khác nhau về cấu trúc nơi 2 nhóm phụ nữ này. Các phụ nữ “ âm đạo ” có vùng được gọi là điểm G dày hơn các phụ nữ khác.
“Vậy thì các phụ nữ không có điểm G không thể có khoái lạc âm đạo”, Emmanuele Jannini đã bình luận như thế. Nhưng tin tức mới này không hẳn thuyết phục được tất cả mọi người. “Để nghiên cứu này có thể được phổ cập, phải có hàng trăm ngàn phụ nữ tham dự, Sabrina Bauwens đã chỉ rõ như thế. Tất cả các phụ nữ đều có những điểm có tính nhận cảm cao nhưng những điểm này không nằm cùng một vị trí ”
Luôn luôn là tâm điểm của cuộc luận chiến, các ý kiến trái nhau về điểm G nổi tiếng này.Vài người đánh giá rằng bề dày của phần trước của âm đạo có liên quan với kích thước của âm vật. Trong khi những người khác cho rằng điểm G cũng hiện diện nơi các phụ nữ không cảm thấy khoái lạc âm đạo.. Giả thuyết khác: đạt khoái lạc là một vấn đề của các cơ và do đó là vấn đề luyện tập. “Nếu các cơ âm đạo rất phát triển, chúng ta có thể tưởng tượng ra rằng điều đó làm dễ sự khoái lạc, Sabrina Bauwens đã giải thích như vậy. Khoái lạc là kết quả của những co thắt nhịp nhàng của các cơ âm đạo. Nếu âm đạo có cơ rất phát triển, các rung động gây nên bởi các co thắt này sẽ được cảm nhận tốt hơn”.
“Âm đạo là một vùng rất sâu kín, vì vậy các thử nghiệm chính xác khó có thể thực hiện được. Do đó cần phải thận trọng với loại các lý thuyết này ”, nhà giới tính học đã kết luận như vậy.
Nguồn: (LE SOIR 22/2/2008)
8/ NGUY CƠ TỰ TỬ VÀ TẦM VÓC NHỎ CỦA ĐÀN ÔNG
Một công trình nghiên cứu quy mô lớn của Thụy Điển, được tiến hành trên 319.000 người đàn ông (sinh từ năm 1973 đến 1980, được theo dõi đến năm 1999), đã xác nhận rằng những người có tầm vóc nhỏ (dưới 1,70m đối với tầm vóc trung bình từ 1,77 đến 1,81m ở Scandinavie) có khuynh hướng tự tử cao hơn (nguy cơ gia tăng 56%). Các phương cách tự tử thường là hung bạo. Những cơ chế tâm lý xã hội giải thích : đau khổ trong thời thơ ấu, mặc cảm với stress gia tăng, bị đối xử phân biệt trên phương diện văn hóa và nghề nghiệp; các người có tầm vóc nhỏ ít được tuyển dụng vào các xí nghiệp hơn so với những người có tầm vóc lớn. Nguồn: (PARIS MATCH 20/2-27/2/2008)
9/ THUỐC MỚI CHỐNG BỆNH SIDA
Raltégravir, chất ức chế intégrase, enzyme cần thiết cho qua trình tăng đôi (réplication) của virus bệnh Sida, vừa được cho phép bán trên thị trường ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Thuốc này ngăn cản virus tăng sinh trong các tế bào lành mạnh. Hiện nay thuốc được sử dụng bởi 7.600 người có huyết thanh dương tính (séropositif) trên thế giới, trong đó 1.300 ở Pháp. Thuốc được chỉ định trong các trường hợp đề kháng với một trong 3 thuốc được dùng trong trithérapie (điều trị chuẩn chống bệnh Sida). Nguồn: (PARIS MATCH 20/2-27/2/2008)
10/ TRÁM RĂNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN THẦN KINH
Mối e sợ về độc tính của các hỗn hống (amalgames) dùng để trám răng được căn cứ trên điều được chứng thực rằng một vài hỗn hống, sau nhiều năm trôi qua, có thể phóng thích những lượng nhỏ thủy ngân. Mặt khác, chúng ta biết rằng một ngộ độc do thủy ngân, ngoài những độc tính khác ra, có thể gây độc cho hệ thần kinh trung ương.
Lauterbach và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu để biết độ an toàn của các hỗn hống dùng để trám răng. Các nhà nghiên cứu đã đưa vào công trình 507 trẻ em tuổi từ 8 đến 12. Những trẻ em này đã được điều trị hoặc bằng một hỗn hống dùng để trám răng hoặc bằng một loại trám khác. Suốt trong một thời kỳ 7 năm, các trẻ em này mỗi năm đã được đánh giá bằng những trắc nghiệm thần kinh. Các tác giả đã không nhận thấy một sự khác nhau có ý nghĩa nào giữa 2 nhóm về các triệu chứng thần kinh ( run, rối loạn thị giác và thính giác, các vấn đề về điều hòa cử động). Công trình nghiên cứu này xác nhận rằng các hỗn hống để trám răng chứa thủy ngân không ảnh hưởng lên sự phát triển não bộ của các trẻ em. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDCIN 26/2/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/2/2008)

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học