 |
Thời
Sự Y Học số 65
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MARY EDWARDS WALKER, NỮ PHẪU
THUẬT VIÊN ĐẦU TIÊN CỦA HOA KỲ
Thế kỷ thứ XIX đã chứng kiến sự xuất hiện
của một phong trào giải phóng phụ nữ và đã thấy nhiều trong số các phụ
nữ này tranh đấu để được quyền theo học và hành nghề. Có thể nói rằng
những người thầy thuốc nữ đầu tiên đã là một trong những người phụ nữ
đặc biệt, không những do tình cảnh của họ mà còn do lòng quyết tâm và
phẩm chất của những phụ nữ này. Một vài người phụ nữ đã đặc biệt lỗi lạc
ưu tú. Đó là trường hợp của Mary Edwards Walker ở Hoa Kỳ.
Một con tem 20 cents được phát hành ngày 10 tháng 6 năm 1982 bởi tiểu
bang Nữu ước, có hình một thiếu nữ với nét mặt thanh tú, có mái tóc xoăn
theo kiểu các phụ nữ người Anh và ăn mặc thanh lịch với một chiếc áo cánh
được trang trí bởi một chiếc khăn ngực thêu ren. Hình ảnh lãng mạn này,
như ta có thể đọc trên con tem, là của BS Mary, quân y sĩ, nhà phẫu thuật
trong quân đội yankee và huy chương danh dự của Quốc Hội năm 1865, được
trao tặng vì những phục vụ cho Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ly khai (guerre
de Sécession)
MỘT TUỔI TRẺ TRONG MỘT MỐI TRƯỜNG TỰ DO TƯ TƯỞNG
VÀ CHIẾN ĐẤU
Mary Walker sinh năm 1832 ở Oswego trong tiểu bang Nữu Ước. Cha cô là
thầy thuốc thôn quê, là nhà tư tưởng tự do và là nhà chiến đấu trong các
phong trào cải cách khác nhau vừa mới xuất hiện ở Hoa Kỳ vào thế kỷ XIX,
trong đó có một phong trào nhằm hủy bỏ chế độ nô lệ. Ông Walker là một
người ủng hộ việc nam nữ bình quyền và 5 người con gái của ông đã nhận
được cùng một nền tảng giáo dục như người anh trai độc nhất của các cô.
Được dạy dỗ trong một môi trường tự do và chiến đấu như thế, chúng ta
sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng Mary nhiệt tình với các quyền của phụ
nữ. Cô cũng say mê đấu tranh chống lại lối ăn mặc gò bó áp đặt vào các
phụ nữ thời đó. Và người ta sẽ còn ít ngạc nhiên hơn khi thấy Mary quyết
định trở thành thầy thuốc.
Vào tháng 6 năm 1885, cô tốt nghiệp Syracuse Medical College, trường y
chính thức duy nhất chịu chấp nhận cho các sinh viên nam và nữ vào học
một cách bình đẳng. Cô là người phụ nữ độc nhất của khóa đào tạo này.
Các thầy thuốc nữ vào thời kỳ đó mới còn đếm được trên đầu các ngón tay.
Mary nhận được văn bằng lúc cô 21 tuổi, sau 39 tuần đào tạo.
Vào năm 1856, cô cưới Albert Miller, cũng là một thầy thuốc.Việc toan
tính mở phòng mạch chung sau đó của hai vợ chồng đã không thành công :
chấp nhận được săn sóc bởi một thầy thuốc nữ vào thời đó đã chưa là một
thói quen . Cuộc hôn nhân được kết thúc bởi sự ly dị năm 1869.
MARY TRÊN KHẮP CHIẾN TRẬN VÀ MỘT SỰ CÔNG NHẬN CHÍNH
THỨC
Khi xảy ra cuộc nội chiến, Mary đi Washington và đầu quân
vào quân đội với tư cách nhà phẫu thuật. Mặc dầu tốt nghiệp hợp pháp,
nhưng người ta từ chối tuyển dụng cô như sĩ quan quân y. Cô chỉ được chấp
nhận cho làm phụ tá thiện nguyện. Mary là nhà phẫu thuật nữ đầu tiên làm
việc trong quân đội Mỹ. Trước hết cô hành nghề ở US Patent Office Hospital
ở Washington. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, người ta thấy cô xuất hiện trên
các trận tuyến.Về tiện nghi cho công tác, cô đã được cho phép ăn mặc những
bộ quần áo nam giới.
Cô hoạt động như nhà phẫu thuật ngoại khoa trong trận đánh Bull Run (1861),
trận đánh Chattanooga, trận đánh Chickomauga (1863). Sau cùng, năm 1863,
Mary được tuyển mộ làm phụ tá giải phẫu ăn lương trong trung đoàn 52 bộ
binh Ohio. Cô đã không do dự khi phải băng mình xuyên qua các chiến tuyến
hợp bang. Mary liều lĩnh đến độ cuối cùng cô đã bị rơi vào tay quân miền
Nam năm 1864 và bị giam tù ở Richmond trong 4 tháng. Sau đó cô được thả
tự do cùng với các thầy thuốc khác trong dịp trao đổi tù binh. Sau khi
được tự do, cô gia nhập trung đoàn 52 Ohio. Cô tham dự trận đánh Richmond,
trận đánh Atlanta, luôn luôn săn sóc điều trị những người thường dân cũng
như những người lính chiến.
Trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến, cô được bổ nhiệm làm thầy
thuốc và phẫu thuật viên tại nhà tù dành cho phụ nữ ở Louisville và tại
một cô nhi viện ở Tennessee.
Vào cuối cuộc chiến, cô đã nhận được huân chương quân đội cao nhất của
Hoa Kỳ : huân chương danh dự của Quốc Hội.
CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG TRONG TẤT CẢ CÁC LÃNH VỰC
Sau chiến tranh, Mary Walker chuyên tâm vào việc bảo vệ
các quyền của phụ nữ (quyền bỏ phiếu, quyền được học hành, quyền được
ly dị trong những điều kiện công bằng cho phụ nữ) Bà tranh đấu để cải
cách ăn mặc, chống lại thời trang áp đặt lên các phụ nữ vừa “ không đạo
đức và không thích ứng “. Bà tham dự vào các chiến dịch tiết độ không
những chống lại việc nghiện ruợu mà còn chống nghiện thuốc lá, “ nguồn
gốc của bại liệt và sức khỏe kém “. Về ăn mặc quần áo, bà đã bị bắt nhiều
lần bởi vì đã ăn mặc như nam giới. Bà đã viết rất nhiều, đã xuất bản một
cuốn tiểu sử và một cuốn sách “ Unmasked, or the Science of Immortality
“. Bà là giám đốc của một nhà điều dưỡng (sanatorium) gần Oswego.
MỘT SỰ SĨ NHỤC ĐAU LÒNG
Năm 1917, bảng tuyên dương công trạng dành cho bà (nhờ đó bà được huân
chương danh dự của Quốc Hội) cũng như cho 910 cựu chiến binh khác của
cuộc chiến tranh ly khai đã bị hủy bỏ với lý do là vào thời đó bà đã không
tham gia một trận đánh giáp lá cà chống lại quân thù nào cả ! Tuy vậy
bà đã làm được nhiều chuyện hơn là chiến đấu trong cuộc chiến tranh này,
bà đã cứu biết bao sinh mạng bất chấp mọi nguy hiểm đến mạng sống của
mình.
Lòng đầy oán hận vì sự sĩ nhục này, bà đã từ chối trao trả lại huy chương
và vẫn tiếp tục mang nó cho đến khi mất năm 1919. Năm 1977, tổng thống
Carter đã “khôi phục danh dự” cho bà : ông tuyên dương “ vẻ thanh lịch
tao nhã của bà, tinh thần hy sinh, lòng yêu nước của bà, sự tận tụy và
sự trung thành không lay chuyển với tổ quốc, mặc dầu bà đã bị đối xử phân
biệt chỉ vì giới tính của mình ”
Năm 1982, Hoa Kỳ đã cho phát hành một con tem có hình của Mary , và trên
con tem này bà đeo huy chương đã được trao tặng. Cho mãi đến ngày nay,
Mary Walker vẫn là người phụ nữ đầu tiên từng được vinh danh bởi Quốc
Hội ở Hoa Kỳ. Nguồn: (SEMAINE MEDICALE 7/2/2008)
2/ VIÊM GAN DO
SIÊU VI TRÙNG B : TIÊM CHỦNG KHÔNG GÂY NGUY CƠ CHO TRẺ EM
Một công trình nghiên cứu mới của Pháp nhấn mạnh
rằng không có mối liên hệ giữa việc tiêm chủng chống viêm gan do siêu
vi trùng B và bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques).
Rất gần đây, việc hai đại diện của công nghiệp dược phẩm đã bị thẩm vấn
trong vụ thuốc chủng chống bệnh viên gan B và nguy cơ mắc phải bệnh xơ
cứng rải rác, đã làm phát động trở lại cuộc tranh luận về vấn đề này.Tuy
vậy, vào tháng 12 vừa qua, các thầy thuốc người Pháp đã công bố trong
tạp chí Archives of Pediatrics một công trình nghiên cứu mới kết luận
rằng ở trẻ em không có mối liên hệ giữa sự tiêm chủng chống viêm gan do
siêu vi trùng B và bệnh xơ cứng rải rác. Được thực hiện dưới sự chỉ đạo
của giáo sư Marc Tardieu thuộc bệnh viện Kremlin-Bicetre, công trình nghiên
cứu có liên quan đến đại đa số các trẻ em đã từng khai báo bị bệnh xơ
cứng rải rác ở Pháp từ năm 1994 ( lúc chiến dịch chủng ngừa hàng loạt
được phát động bởi chính phủ của thời kỳ đó ) và năm 2003. “ Đây là lần
đầu tiên loại nghiên cứu này được thực hiện ở trẻ em, Marc Tardieu đã
nhấn mạnh như vậy, và kết quả là rõ ràng : trong số 143 trường hợp được
liệt kê, việc chủng ngừa chống virus của bệnh viêm gan B đã không liên
kết với một nguy cơ phát bệnh xơ cứng rải rác quan trọng hơn ”
Năm 2007, nhóm nghiên cứu người Pháp đã chứng tỏ rằng việc tiêm chủng
chống viêm gan B nơi các trẻ em đã bị chứng xơ cứng rải rác đã không có
một tác dụng nào lên tiến triển của bệnh này cả. “ Những công trình nghiên
cứu này xác nhận một chục công trình nghiên cứu khác về chủ đề này và
những điều mà các chuyên gia đã nghĩ về bệnh xơ cứng rải rác ”, giáo sư
thần kinh học Christian Confavreux, ủy viên của ủy ban y học và khoa học
của Hiệp hội nghiên cứu chống xơ cứng rải rác đã bình luận như thế. “
Bây giờ đây, hàng chục triệu người đã được tiêm chủng chống virus trên
khắp thế giới, và không còn một nước nào nêu vấn đề này nữa trừ chúng
ta. Các nghiên cứu càng được tiến hành sâu thì việc chủng ngừa này càng
có vẻ không có tương quan với sự phát khởi hay sự tiến triển của bệnh
xơ cứng rải rác ”.
TÍNH MIỄN DỊCH RẤT LÂU DÀI
Trong các nước đang phát triển, siêu vi trùng của viêm
gan B là nguyên nhân thứ hai gây tử vong bởi ung thư, sau thuốc lá. Ở
Pháp, theo những con số chính thức, virus này gây ra gần 1.500 nạn nhân
mỗi năm. Năm 1994, tiếp theo những lời khuyến nghị của OMS, chính phủ
Pháp đã phát động một chiến dịch chích ngừa rộng rãi các nhũ nhi và các
học sinh lớp 6. Việc tiêm chủng các trẻ ở lứa tuổi thấp gây nên một tình
trạng miễn dịch rất lâu dài, có lẽ suốt đời chống lại virus và cho phép
tác động lên mọi tầng lớp xã hội. Sự tiêm chủng các học sinh trung học
là tiêm chủng đuổi (rattrapage) nhằm hoàn tất sự che chở bằng vaccin chống
lại một nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục.
Vào năm 1998, trong khi các mối hoài nghi vẫn còn về một tác dụng làm
gia trọng của việc chủng ngừa lên bệnh xơ cứng rải rác, bộ trưởng Y tế
Bernard Kouchner, đã quyết định đình chỉ sự tiêm chủng đã được dự kiến
nơi tất cả các học sinh trung học. “ Tỷ lệ tiêm chủng bảo vệ nơi các thiếu
niên vào thời kỳ đó là gần 80%.” Daniel Lévy-Bruhl, trưởng phòng tiêm
chủng ở Viện theo dõi y tế đã xác nhận như thế, “ điều này khiến hiện
nay chúng ta quan sát thấy một sự giảm sút các trường hợp viêm gan cấp
tính nơi các người trưởng thành trẻ tuổi. Tỷ lệ tiêm chủng bảo vệ nơi
các thiếu niên ngày nay dưới 40% và chúng ta sẽ có khả năng thấy số các
trường hợp này gia tăng trong những thế hệ mới ”.
Và điều này càng xảy ra khi sự tiêm chủng nơi các nhũ nhi vẫn luôn luôn
dậm chân dưới 30%, trong khi tại các nước láng giềng châu Âu và ở Bắc
Mỹ tỷ lệ này vượt quá 90%. “ Trái với sự tiêm chủng nơi người lớn, không
bao giờ có những mối nghi ngờ về tính vô hại của sự tiêm chủng nơi các
nhũ nhi, Daniel Lévy-Bruhl đã kết luận như thế, và việc tiêm chủng này
đã được khuyến nghị bởi phần lớn các chính quyền y tế từ năm 1995 : vậy
nay đúng là lúc phải áp dụng điều đó.” Nguồn: (LE FIGARO
12/2/2008 )
3/ NAPOLÉON BONAPARTE
KHÔNG PHẢI CHẾT VÌ BỊ ĐẦU ĐỘC BỞI ARSENIC
Giả thuyết gây tranh cải về việc ám sát Napoléon đệ nhất
bằng arsenic hôm qua đã bị bác bỏ bởi Viện vật lý nguyên tử Ý. Theo viện
nghiên cứu này, nồng độ chất độc (arsenic) được tìm thấy trong tóc của
hoàng đế không có gì là đặc biệt vào thời đó. Sau khi đã tiến hành “ một
xem xét tỉ mỉ mới ” các sợi tóc của Napoléon, nhờ một lò phản ứng nhỏ,
và sau khi đã so sánh với những sợi tóc của những thành viên gia đình
của Napoléon và của những người “ hiện nay còn sống ”, các chuyên gia
người Ý phát hiện rằng “ nồng độ arsenic trong các sợi tóc cách nay 2
thế kỷ là 100 lần mạnh hơn ” nồng độ trung bình hiện nay. Theo các nhà
nghiên cứu, “ môi trường trong đó những người ở đầu thế kỷ XIX sinh sống
khiến họ phải hấp thụ vào những lượng arsenic mà ngày nay chúng ta cho
là nguy hiểm.” Do đó, nồng độ arsenic cao trong các sợi tóc của hoàng
đế, chết lúc 51 tuổi, ngày 5 tháng năm năm 1821 trên đảo Sainte-Hélène,
không phải là do bị đầu độc nhưng là do sự hấp thụ arsenic xảy ra một
cách thường xuyên.” Nguồn: (LE FIGARO 12/2/2008)
4/ HƯỚNG VỀ THUỐC CHỦNG BẰNG KHÍ DUNG
Mỗi năm, khoảng 5 triệu người chết trên thế giới vì các bệnh có
thể được làm vô hiệu hóa bởi một thuốc chủng ngừa. Và những vaccin này
có thể được cho bằng đường các niêm mạc, dễ thực hiện hơn nhiều so với
một mũi tiêm của đường “ truyền thống ”. Theo một công trình nghiên cứu
được công bố hôm nay trong tạp chí Académie américaine des Sciences (PNAS),
việc cho thuốc chủng bằng đường khí dung (aérosol) dường như là “ một
trong những chiến lược phòng ngừa hứa hẹn nhất đối với một chiến dịch
chủng ngừa đại trà. Phương pháp này mang lại một giải pháp an toàn, dễ
dàng hơn về mặt hậu cần và kinh tế hơn. Theo công trình nghiên cứu, phương
pháp này ngoài ra có lợi thế là phát triển một đáp ứng miễn dịch có thể
làm giảm độc lực hay hay tiêu diệt hẳn các mầm bệnh được giữ lại bởi các
niêm mạc. Nói một cách khác, không những chúng ta có thể chủng ngừa các
người bệnh, mà còn có thể làm chậm lại sự tiến triển qua không khí của
sự lây nhiễm.
Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một công trình nghiên cứu tiền lâm sàng
trên cơ sở hai poxvirus recombinants, NYVAC và MVA, được cho vào các chú
khỉ rhésus. “ Chúng tôi đã không nhận thấy một bệnh lý nào gây nên bởi
vaccin, thí dụ trong não bộ và phổi. Đáp ứng miễn dịch vẫn còn có thể
phát hiện được trên 5 tháng sau khi đã cho thuốc chủng ngừa. Chính vì
vậy chúng tôi ước tính rằng khí dung là một công cụ hiệu quả cho các chiến
dịch phòng ngừa đại trà chống lại các tác nhân gây bệnh được truyền bởi
các niêm mạc.”
Phương cách truyền vaccin này, được đại chúng hóa bởi các máy mà các người
bị bệnh suyễn đang sử dụng, rất là hữu ích trong các nước đang phát triển
; ở đây hàng ngàn nhân viên trợ tế phải tiến hành đồng thời việc tiêm
chủng để ngăn chận sự tiến triển của bệnh, như trong trường hợp chiến
dịch chống bệnh đậu mùa, mà OMS đã tiệt trừ bằng cách tạo nên những vùng
tiêm chủng đồng tâm. Việc sử dụng khí dung, rất đơn giản, là thích hợp
với các nhân viên ít được đào tạo.Việc sử dụng khí dung tránh việc tiêm
chích và sự ô nhiễm máu như trong trường hợp tái sử dụng các dụng cụ tiêm
chủng, một nguy cơ thường thấy trong các nước đang phát triển. Nguồn:
(LE SOIR 12/2/2008)
5/ MỘT MẠNG LƯỚI LÀM THUỐC GIẢ Ở TRUNG QUỐC
BỊ PHÁ VỠ
Các chuyên gia của đại học Oxford và của Wellcome
(Vương Quốc Anh) đã tiết lộ hôm qua trong tạp chí PloS One của Hoa Kỳ
là đã cộng tác với các nhà điều tra Interpol để phá vỡ ở Trung Quốc một
mạng lưới làm thuốc giả chống bệnh sốt rét. Bệnh sốt rét là mối đe dọa
chết người đối với dân chúng sống ở vùng Đông Nam Á, nên việc buôn bán
các viên thuốc không chứa, hoặc hầu như không có, các dẫn suất của artémisine
(loại thuốc chống sốt rét mới) đã biện minh cho sự hợp đồng của các chuyên
viên. Từ những mẫu nghiệm được lấy từ những thuốc giả thu lượm được ở
Miến Điện, ở Lào, ở Việt Nam, Kampuchia và Thái Lan, người ta đã lần ra
được tổ chức làm thuốc giả phát xuất từ Trung Quốc và đã ngăn chận. Trong
những nước này, người ta ước tính từ 30 đến 50% các thuốc chống sốt rét
là những thuốc giả. Thế mà những thuốc giả này làm dễ quá trình chọn lọc
(sélection) và sự lan tràn của các ký sinh trùng đề kháng. Các viên thuốc
đã được phân tích. Trên 321 mẫu nghiệm mang một nhãn hiệu thương mại giả
của hãng dược phẩm thật Guilin Pharma của Trung Quốc, 195 mẫu nghiệm là
những thuốc giả mạo. Những viên thuốc này chứa paracétamol, các kháng
sinh (không hiệu quả chống lại bệnh sốt rét ), cồn, chloroforme, hoặc
ngay cả amphétamine (chất cơ bản để chế tạo ecstasy!) Vào tháng 3 năm
2006, sau 7 năm điều tra, công an Trung Quốc cuối cùng đã bắt giữ những
người đầu não của mạng lưới này. Nguồn:(LE FIGARO 12/2/2008)
6/ BỆNH
LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC LẠI BÙNG NỔ Ở PHÁP.
Việc gia tăng trở lại những nhiễm
trùng bởi lậu cầu, bởi chlamydia và của bệnh giang mai là hậu quả của
sự tái tục các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).
Chính sách ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh
dục ( MST : maladies sexuellement transmissibles ) đang bị nguy ngập.
Tất cả các yếu tố chỉ báo cho thấy có một sự gia tăng trở lại các bệnh
nhiễm trùng (lậu cầu, chlamydia, giang mai), được lây truyền lúc giao
hợp (dù cho đó là giao hợp đồng tính hay dị tính). Thật vậy, bảng thông
báo dịch tễ hàng tuần của Viện theo dõi y tế đã công bố tuần này các con
số xác nhận về sự gia tăng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở Pháp.
Ngoài các hậu quả về mặt y tế riêng cho các nhiễm trùng này (các bệnh
mãn tính nơi người, nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ), các dữ kiện này thể hiện
sự tái tục những hành vi tính dục có nguy cơ, nói lên việc sử dụng phương
tiện bảo vệ ít hơn và do đó mang lại một nguy cơ truyền virus bệnh Sida
gia tăng.
Các nhiễm trùng do lậu cầu có đặc điểm là có một thời gian tiềm phục ngắn
và cho những triệu chứng “ ồn ào ” nơi đàn ông. Do đó những nhiễm trùng
này là một chứng tỏ rất rõ về các hành vi tính dục có nguy cơ ( comportements
sexuels à risques ).
Một mạng lưới 200 phòng xét nghiệm phân tích mỗi năm số giống gốc các
lậu cầu được phân lập. Suốt trong 3 năm qua, sự gia tăng số trường hợp
xảy ra một cách thường xuyên, với 50% được thêm vào trong năm 2006 so
sánh với năm 2005. Với một sự gia tăng rất rõ rệt nơi các phụ nữ (thêm
264%) và ở tỉnh (thêm 94%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 30
tuổi đối với đàn ông và 23 tuổi đối với phụ nữ. Sau cùng phải ghi nhận
một sự tiến triển của các giống gốc đề kháng với ciprofloxacine, một trong
những kháng sinh chuẩn trong điều trị bệnh này.
Nhiễm trùng do chlamydia trachomatis thường xảy ra nhất ở phụ nữ. Nhiễm
trùng này chỉ gây ít triệu chứng nhưng nếu không được điều trị, có thể
gây nên những thương tổn nơi các vòi trứng, nguyên nhân của vô sinh hoặc
có thai ngoài tử cung. Từ đầu những năm 2000, một sự gia tăng các nhiễm
trùng do chlamidia được quan sát ở Pháp, cũng như trong tất cả các nước
công nghiệp hóa khác.Thí dụ ở Anh, sự gia tăng này có thể được quy cho
công tác điều tra phát hiện được thực hiện một cách có hệ thống trong
chiến dịch chống vô sinh nơi những người dưới 25 tuổi. Phải nhấn mạnh
rằng ở Pháp, từ năm 2003 đến 2006, số các trường hợp nhiễm trùng do chlamydia
đã gia tăng 55% nơi đàn ông và 62% nơi phụ nữ. Nhưng còn cần phải biết
xem một sự gia tăng như thế là do sự tiến triển của bệnh hay chỉ do sự
cải thiện của công tác điều tra phát hiện và của chẩn đoán.
ĐẨY MẠNH TRỞ LẠI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA
Bệnh giang mai gần như đã biến mất ở nước Pháp trong những năm 1990 để
rồi lại xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2000, hầu như chỉ xảy ra ở
những người đồng tính (homosexuel) hay lưỡng tính (bisexuel), đặc biệt
là ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus sida. Mặc dầu những chiến
dịch thông tin và phòng ngừa được phát động, bệnh có tiềm năng nghiêm
trọng này vẫn không tỏ dấu hiệu lùi bước.Từ năm 2000 đến 2006, có 2.305
trường hợp giang mai đã được chẩn đoán ở Pháp. Sau một đợt giảm nhẹ vào
năm 2005, số các trường hợp lại tăng lên năm 2006, đặc biệt là ở Ile-de-France
và trong vùng Bắc Pas-de-Calais. Số các trường hợp giang mai bắt đầu xuất
hiện ở những người dị tính ( hétérosexuel) mà mãi đến nay phần lớn không
bị nhiễm bệnh. Việc công bố những dữ kiện này hẳn phải khiến chính quyền
cần phải phát động trở lại những chiến dịch phòng ngừa nhằm vào các hành
vi tính dục có nguy cơ. Nguồn: (LE FIGARO 6/2/2008)
7/ CÁC CHẤT CHỐNG OXY HÓA CÓ THỂ LÀM GIẢM
NGUY CƠ BỊ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ NƠI CÁC PHỤ NỮ
Các chất chống oxy hoa (antioxidant) vitamine E
và lutéine ( từ thực phẩm và các chất thuốc bổ sung), có thể làm giảm
nguy cơ bị bệnh đục thủy tinh thể (cataracte) nơi các phụ nữ, các nhà
nghiên cứu đã báo cáo như thế. Một công trình nghiên cứu trong số tháng
giêng của The Archives of Ophthalmology đã tuyển mộ hơn 35.000 phụ nữ
và đã theo dõi trong khoảng 10 năm. Sau khi đã điều chỉnh về mặt thống
kê đối với việc nghiện thuốc lá, lạm dụng rượu, chỉ số khối lượng cơ thể
và những biến số khác, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng các phụ nữ
càng sử dụng nhieu vitamine E và lutéine thì họ càng ít có khả năng mắc
phải bệnh đục thủy tinh thể. So sánh với 1/5 các phụ nữ đã tiêu thụ các
chất chống oxy hóa ít nhất, 1/5 các phụ nữ đã tiêu thụ nhiều nhất có nguy
cơ bị bệnh đục thủy tinh thể giảm 14% với vitamin E và giảm 18% với lutéine.
Dầu thực vật, quả hạch (nut), rau xanh và thóc lúa là nguồn của vitamine
E, và lutéine được tìm thấy ở nhiều loại trái cây, bắp, spinach và những
loại rau khác.
William Christen, tác giả lãnh đạo công trình và là phó giáo sư y khoa
của Brigham and Women ‘s Hospital, đã nói rằng nghiên cứu này chỉ có tính
chất quan sát và rằng “ không có những thử nghiệm vững chắc đối với bất
cứ chất dinh dưỡng đặc hiệu nào trong việc ngăn ngừa bệnh mắt cả ”
Tuy nhiên, Christen nói, những điều tìm thấy gợi ý rằng các chất chống
oxy hóa là có lợi ích và rằng dân chúng nên ăn nhiều trái cây và rau xanh.
“ Đây là lời khuyên mà có thể quý vị đã từng nghe nói trước đây,” ông
đã phát biểu như vậy. Công trình nghiên cứu được hỗ trợ bởi DSM Nutritional
Products. Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 14/2/2008)
8/ UNG THƯ TRỞ NÊN ĐỀ KHÁNG VỚI HÓA HỌC
TRỊ LIỆU
Mặc dầu vài khối u ung thư đầu tiên đáp ứng rất
tốt với hóa học trị liệu có chất nòng cốt là platine, nhưng sự việc thường
trở nên xấu đi sau đó..
Một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ
đã tiết lộ tại sao vài bệnh nhân bị ung thư buồng trứng, với thời gian
điều trị trôi qua, đã trở nên đề kháng với hóa học trị liệu mà chất nòng
cốt là platine, theo tạp chí Anh Nature.
Các gènes BRCA1 và BRCA2,
vốn có khả năng tu sửa ADN và bảo vệ các tế bào chống lại các tác nhân
tấn công, đặc biệt là các chất gây ung thư. Có thể chính cac gènes này
trong trường hợp biến dị di truyền, đã mở đường cho sự phát triển của
các ung thư vú và buồng trứng. Những « sai lầm » di truyền như thế là
nguồn gốc của khoảng 10% các ung thư buồng trứng, theo các tác giả. Như
vậy, nếu các ung thư buồng trứng lúc khởi đầu đáp ứng rất tốt với hóa
học trị liệu mà chất căn bản là platine, thì 70 đến 80% những bệnh nhân
được điều trị này nhiên hậu sẽ phát triển một sức đề kháng với các dược
chất này, theo công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên
cứu của Trung tâm nghiên cứu về ung thư Fred Hutchinson, ở Seattle (Washington).
Trên thực tế, theo nhóm nghiên cứu của Toshiyasu Taniguchi, khi được tiếp
xúc với cisplatine, vài tế bào của ung thư buồng trứng phát triển những
biến dị thứ phát của gène BRCA2, cho gène này lại
khả năng tu sửa DNA và như thế cho phép khối u trở thành đề kháng với
các tấn công của hoá học trị liệu.
« CHƯA BAO GIỜ THẤY »
Elizabeth Swischer, nữ giám đốc của chương trình phòng
ngừa ung thư vú và buồng trứng ở đại học Washington, đã gọi là “ chưa
từng thấy ” cơ chế đề kháng hóa học trị liệu này. Theo bà, cơ chế này
có thể giúp “ tìm ra những phương tiện mới nhằm mang lại tính nhạy cảm
với hóa học trị liệu nơi các khối u ung thư ”
Các nhà nghiên cứu hy vọng có thể giải thích, nhờ khám phá này, sự đề
kháng với những điều trị của một số trường hợp những ung thư, trong đó
có ung thư vú, tuyến tiền liệt và tụy tạng.
Nature đã xuất bản song hành những công trình của nhóm nghiên cứu của
giáo sư Alan Ashworth (Viện Nghiên Cứu Ung Thư, Luân Đôn) về ung thư vú
và gène bị biến đổi BRCA2. Các công trình này cũng
mô tả cơ chế thích nghi này (phục hồi các khả năng tu sửa của ADN) của
những tế bào ung thư để chúng đề kháng và do do sống sót với hoá học trị
liệu. Khoảng 5% tất cả những trường hợp ung thư vú là do các bất thường
gène di truyền mở đường cho sự phát triển của căn bệnh, theo nhóm nghiên
cứu này.
Khám phá này “ hẳn phải giúp tìm ra những phương tiện để chống lại vấn
đề đề kháng này ”, Giáo sư Ashworth đã đánh giá như vậy. Ông nhấn mạnh
rằng “ việc đề kháng với thuốc là một vấn đề chung cho tất cả các loại
ung thư ”. Nguồn: (LE SOIR 11/2/2008)
9/ TẠI SAO HÚT THUỐC LÁ LÀM TĂNG NHANH SỰ
LÃO HÓA CỦA DA
Một công trình nghiên cứu trên hai chị em sinh
đôi, một hút thuốc, còn người kia thì không, xác nhận những tác hại của
thuốc lá. Những người hút thuốc kinh niên chối điều đó, nhưng chính những
lời cảnh cáo trên những gói thuốc lá lại xác nhận điều này : thuốc lá
góp phần một cách rõ ràng vào sự lão hóa của da. Mãi đến ngày nay, không
có nhiều công trình khoa học hổ trợ cho lời xác nhận này. Các thầy thuốc
chuyên khoa da của bệnh viện đại học Ohio, vừa công bố một bài báo mang
lại một bằng chứng khá rõ ràng về những tác dụng tai hại của thuốc lá
lên da. Công trình này, được công bố tháng 12 năm 2007 trong tạp chí Archives
of Dermatology, có thể góp phần vào việc làm cho các phụ nữ ghê tởm về
sự nghiện ngập thuốc lá của họ. Nếu nguy cơ bị ung thư phổi đối với họ
có vẻ như xa vời và không thực, thì sự biến đổi của làn da là một lý lẽ
mà những ông hay bà hút thuốc lá sẽ nhạy cảm.
Các thầy thuốc bệnh ngoài da của Cleveland đã có cơ hội cùng thăm khám
hai chị em sinh đôi. Hai người sinh đôi thật sự. Nhưng một người đã không
bao giờ hút thuốc trong khi người kia thì trái lại, từ năm 20 tuổi đã
hút một bao thuốc mỗi ngày. Hai chị em sinh đôi này năm nay 52 tuổi và
vẫn luôn luôn sống trong cùng một vùng ở miền nam Hoa Kỳ từ thuở ấu thơ,
cả hai đã có cùng một hoạt động nghề nghiệp.
Theo các câu trả lời của hai chị em sinh đôi này cho một bảng câu hỏi
rất chính xác, họ có một thể trọng tương đương, có một chế độ ăn uống
tương tự và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời một cách tương đương trong
suốt cuộc đời họ.
Tuy vậy, các thầy thuốc đã có thể chứng nhận, nơi bệnh nhân đã hút thuốc
đều đặn, một sự gia tăng rõ rệt kích thước và độ sâu của các vết nhăn
so với cô em đã không bao giờ hút thuốc. Nếu chúng ta chấp nhận sự kiện
là điểm dị biệt duy nhất giữa hai chị em về lối sống là việc nghiện thuốc
lá, thì phải xác nhận rằng sự nghiện ngập này có thể giải thích sự lão
hóa gia tăng của người sinh đôi này so sánh với người kia.
Kết luận, các tác giả của nghiên cứu được công bố này cho rằng sự khác
nhau trong quá trình lão hóa của da, chỉ có thể được giải thích ở đây
là do việc nghiện thuốc lá, có thể được sử dụng như một lý do thêm nữa
trong việc khuyên những người hút thuốc bỏ thuốc.
Bây giờ người ta biết nhiều yếu tố giải thích sự lão hóa của da. Trước
hết là tuổi: với thời gian, sự đổi mới của các tế bào không còn đủ hoạt
động nữa. Kế đó là mặt trời. Những người tiếp xúc với ánh nắng mặt trời,
hoặc lúc vui chơi hoặc lúc hoạt động nghề nghiệp, sẽ có một sự lão hóa
sớm, với các vết nhăn, những vết đốm và những thương tổn tiền ung thư.
Sau cùng, thuốc lá từ nay chắc chắn phải ngồi trên ghế các bị cáo. Nguồn:
(LE FIGARO 14/2/2008)
10/ ĐIỆU NHẢY TANGO CÓ THẾ HỮU ÍCH CHO CÁC
BỆNH NHÂN PARKINSON
Khi ban nhạc trổi lên một bài hát điệu tango, những
người bị bệnh Parkinson muốn tiến vào sàn nhảy. Đó là bài học từ nghiên
cứu mới báo cáo rằng khi bệnh nhân bị bệnh Parkinson theo các lớp dạy
nhảy Tango thì sự thăng bằng trong tư thế và dáng đi của họ được cải thiện.
Những vấn đề về bước đi và sự thăng bằng trong tư thế là thường xảy ra
trong số những người bị bệnh Parkinson, và thường dẫn đến té ngã. Các
nhà nghiên cứu nói rằng trong số những khó khăn của người bệnh là việc
lê bước và việc xoay trở mình trong khi bước. Các bệnh nhân có thể cảm
thấy một “sự đông cứng” đột ngột cơ thể làm chậm lại bước đi hoặc làm
họ phải dừng bước hoàn toàn. Họ cũng có thể có rối loạn bước trong khi
thực hiện một hoạt động khác cùng lúc. Công trình nghiên cứu được công
bố trong số tháng 12 của The Journal of Neurologic Physical Therapy. Tác
giả lãnh đạo công trình là Madeleine Hackney của Washington University
School of Medicine ở St Louis, Missouri.
Các nhà nghiên cứu đã mô tả những gì đã xảy ra khi 19 bệnh nhân bị bệnh
Parkinson đã theo học hoặc 20 buổi học nhảy tango hoặc 20 buổi tập thể
dục.
Buổi tập thể dục gồm một giờ vận động, phần lớn ngồi trên ghế hoặc dùng
các ghế để hỗ trợ. Buổi học nhảy tango thì khí lực hơn, và tập trung vào
động tác duỗi, thăng bằng, động tác đôi chân và sự phối hợp thời gian.
Cả hai nhóm đã cho thấy sự cải thiện toàn bộ, nhưng
chỉ có những người học nhảy tango là có vẻ được cải thiện tốt hơn về sự
thăng bằng. Sự cải thiện này là khá giới hạn, và các nhà nghiên cứu nói
rằng cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa. Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD
TRIBUNE 14/2/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/2/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ
biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày
Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |