 |
Thời
Sự Y Học số 64
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU MỚI VỀ
BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LÀM SỮNG SỐT CÁC THẦY THUỐC
Trong nhiều thập niên nay, các nhà nghiên
cứu đã tin rằng nếu bệnh nhân đái đường hạ thấp nồng độ đường huyết xuống
mức bình thường, họ sẽ không còn bị nguy cơ cao chết vì bệnh tim nữa.
Nhưng một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ nơi 10.000 bệnh nhân đái đường
loại 2, với tuổi trung niên hoặc cao hơn, đã nhận thấy rằng việc hạ thấp
nồng độ đường huyết thật ra làm gia tăng nguy cơ tử vong, các nhà nghiên
cứu đã báo cáo như vậy.
Các nhà nghiên cứu đã loan báo rằng họ đã đột ngột ngừng phần nghiên cứu
mà các kết quả gây ngạc nhiên đang đặt lại vấn đề phải xử trí làm sao
căn bệnh hiện đang tác động lên 21 triệu người Mỹ. Các nhà nghiên cứu
của công trình đã nhấn mạnh rằng các bệnh nhân vẫn nên tiếp tục thăm khám
các thầy thuốc của họ trước khi xét đến việc thay đổi thuốc men.
Trong số các người tham gia công trình nghiên cứu thuộc nhóm mà nồng độ
đường huyết được hạ xuống mức gần bình thường, có 54 trường hợp tử vong
nhiều hơn là nhóm trong đó có nồng độ đường được kiểm soát ít nghiêm ngặt
hơn. Các bệnh nhân đã tham gia công trình nghiên cứu với thời gian trung
bình được 4 năm thì các nhà nghiên cứu đã ra lệnh ngừng chế độ hạ đường
huyết tích cực và áp dụng nơi các bệnh nhân này một chế độ hạ đường huyết
ít nghiêm ngặt hơn.
Các kết quả không muốn nói là đường huyết là không có ý nghĩa. Việc hạ
đường huyết có thể bảo vệ chống lại bệnh thận, sự đui mù và việc cắt cụt
các chi. Nhưng những điều vừa được tìm thấy mang lại một yếu tố hoài nghi
về cái đã từng là một giáo điều : rằng hạ đường huyết càng thấp thì càng
tốt hơn, và rằng hạ nồng độ đường xuống mức bình thường cứu được mạng
người. Các chuyên viên y tế đã sửng sốt.
«Những điều vừa được tìm thấy gây bối rối và xôn xao”, James Dove, chủ
tịch của American College of Cardiology đã nói như vậy. “Trong 50 năm,
chúng ta đã nói về việc làm giảm nồng độ đường huyết xuống rất thấp. Mọi
điều trong tài liệu y học đều gợi ý rằng đây là điều đúng đắn cần phải
làm”
Irl Hirsch, một nhà nghiên cứu bệnh đái đường thuộc đại học Washington,
đã nói rằng những kết quả của công trình nghiên cứu sẽ khó mà giải thích
cho vài bệnh nhân đã trải qua không biết bao nhiêu năm và đã thực hiện
những cố gắng lớn lao qua chế độ ăn uống và thuốc men, nhằm làm hạ và
duy trì nồng độ đường huyết xuống. Những bệnh nhân này sẽ không muốn nới
lỏng cảnh giác, nhà nghiên cứu đã nói như vậy.
“Điều này sẽ tương tự như những gì mà các phụ nữ đã cảm thấy khi họ nghe
những tin tức về estrogens», Hirsch đã nói như vậy. “Bảo những bệnh nhân
này làm cho nồng độ đường huyết tăng lên sẽ rất là khó khăn”. Ông đã nói
thêm rằng những tổ chức như American Diabetes Association và American
Association of Clinical Endocrinologists sẽ ở vào trong tình trạng lúng
túng khó xử. Những chỉ dẫn của các Hiệp hội này yêu cầu các nồng độ đường
huyết càng gần với bình thường chừng nào thì tốt chừng đó. Và vài công
ty bảo hiểm trả cho các bác sĩ tiền phụ trội nếu các bệnh nhân đái đường
của họ giữ được nồng độ đường huyết ở mức rất thấp.
Lý thuyết nồng độ đường huyết thấp đã ăn sâu đến độ khi Viện Tim, Phổi,
Huyết Quốc Gia và Viện Quốc Gia Đái Đường và Các Bệnh Tiêu Hóa và Thận
đề nghị công trình nghiên cứu vào những năm 1990, họ đã giải thích rằng
đó là vấn đề đạo đức. Mặc dầu hầu hết đều cho rằng nồng độ đường huyết
thấp hơn là tốt hơn, nhưng không ai đã nghiêm chỉnh trắc nghiệm ý tưởng
này. Vì vậy công trình nghiên cứu sẽ nêu nghi vấn xem những nồng đường
huyết rất thấp nơi những bệnh nhân với đái đường loại 2 (dạng bệnh gây
bệnh cho 95% những người bị bệnh đái đường), sẽ có tác dụng bảo vệ chống
lại bệnh tim và cứu sống sinh mạng hay không. Vài người đã nói rằng, dầu
cho công trình nghiên cứu có ý nghĩa đạo đức, sẽ không thể thực hiện được.
Họ nghi ngờ rằng những người tham gia (tuổi trung bình 62, đã bị đái đường
trong khoảng 10 năm, đã có nồng độ đường huyết cao hơn bình thường, và
đã có bệnh tim hay những bệnh lý khác, như cao huyết áp và cholesterol
cao, khiến những người này có thêm nguy cơ bị bệnh tim) sẽ có thể đạt
được những nồng độ đường huyết thấp như thế.
Công trình nghiên cứu đã trắc nghiệm đồng thời 3 loại điều trị : kiểm
soát đường huyết tích cực hay ít tích cực hơn, kiểm soát cholesterol tích
cực hay ít tích cực hơn và kiểm soát huyết áp tích cực hay ít tích cực
hơn. Phần cholesterol và huyết áp của công trình nghiên cứu đang được
tiếp tục. Các nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi không biết đã có thứ thuốc
nào hay những phối hợp thuốc nào đã là nguyên nhân của tỷ lệ tử vong cao.
Họ đã không tìm thấy gì hết. Cũng đã không có một nguyên nhân khác thường
gây tử vong trong nhóm được điều trị tích cực. Hầu hết các trường hợp
tử vong trong hai nhóm là do nhồi máu cơ tim.
Mãi đến nay, các lý do giải thích tỷ lệ tử vong cao hơn là phỏng đoán.
Rõ ràng là những người không bị bệnh đái đường khác với những người bị
bệnh đái đường và cố làm hạ đường huyết xuống. Có thể là các bệnh nhân
bị những hậu quả không chủ ý do dùng quá nhiều thuốc có thể tương tác
một cách bất ngờ, Steve Nissen, trưởng khoa tim mạch của Cleveland Clinic
đã nói như vậy.
Hoặc là, cũng có thể rằng các người tham gia đã làm giảm quá nhanh đường
huyết của họ. Cách nay nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng
việc giảm đường huyết quá nhanh nơi các bệnh nhân đái đường thật sự có
thể làm trầm trọng các bệnh huyết quản ở mắt, ông đã phát biểu như vậy.
Nhưng việc làm giảm các nồng độ chậm hơn đã bảo vệ các huyết quản này.
Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 8/2/2008)
2/ BỆNH DẠI VÀ CÁC CON QUỶ HÚT MÁU
Con người từ lâu đã luôn luôn dành
nhiều tầm quan trọng cho máu và các đặc điểm của nó, còn các con quỹ hút
máu thì luôn luôn xuất hiện trong các truyền thuyết và các đức tin từ
thời thượng cổ. Nhưng chính vào thời Trung Cổ mà huyền thoại về quỷ hút
máu (vampire) mới thật sự phát triển rộng. Và vào năm 1897, tiểu thuyết
Dracula của văn sĩ người Irlande Bram Stoker (1847-1912) lại còn khơi
dậy nhiều hơn nỗi sợ hãi của dân gian vốn đã ăn sâu.
Người ta nói rằng điều tưởng tượng thường có nguồn gốc từ trong thực tế,
và do đó nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến nguồn gốc khả dĩ của huyền
thoại về con quỷ hút máu. Họ đã rút ra được vài yếu tố đáng ngạc nhiên,
như sự kiện các triệu chứng được mô tả nơi các quỷ hút máu có một sự tương
tự lạ lùng với các triệu chứng được cảm nhận nơi những bệnh nhân bị mắc
phải bệnh dại. Sau đó, khi chúng ta biết rằng các trận dịch bệnh dại đã
tác động đều đặn lên các vùng của Đông Âu vào một thời kỳ nào đó, thì
mối liên hệ giữa huyền thoại và thực tế được nhanh chóng thực hiện
MỐI TƯƠNG QUAN ĐÁNG CHÚ Ý
Bệnh dại có thể được truyền do các vết cắn của các con
dơi, và gây nên nơi những người bị bệnh, trước hết một sự kích động cực
kỳ, thậm chí hung hãn. Tính hung hãn này có thể làm biến dạng gương mặt
đến độ làm cho các chiếc răng của người bị bệnh lộ rõ ra. Ngoài ra, những
người bị bệnh dại có một nước da rất xanh xao và đặc biệt là bị chứng
mất ngủ. Trong số các triệu chứng khác, còn có thể ghi nhận tính tăng
cảm giác (hyperesthésie) được phát triển đến độ, vào cuối đời, bệnh nhân
đôi khi khó có thể chịu đựng được ánh phản chiếu của một chiếc gương.
Bệnh nhân cũng trở nên không những cực kỳ nhạy cảm với các mùi nồng như
mùi tỏi, mà còn sợ cả nước (hydrophobique) bởi vì mọi tiếp xúc với một
chất dịch sẽ gây nên một cảm giác bỏng rát nơi người bệnh.
Ngày nay theo đức tin dân gian, con quỷ hút máu sẽ đi ra khỏi mồ trong
đêm tối để tìm các nạn nhân. Con ma cà rồng này là bất tử, có nước da
xanh xao, có các giác quan rất phát triển và có một thể lực rất lớn. Quỷ
hút máu có những chiếc răng nanh dài và không cho hình phản chiếu trong
gương. Hơn nữa con quỷ hút máu sợ ánh sáng ban ngày, sợ nước thánh, tỏi,
các cây thánh giá và bạc.Vậy truyền thuyết có phải được phát sinh từ căn
bệnh hay không ? Sự đối chiếu dường như rõ ràng !
NGHĨA ĐỊA CỦA CÁC CON QUỶ HÚT MÁU
Tuy nhiên huyền thoại về quỷ hút máu không chỉ dựa trên
một chân lý khoa học ; các sự kiện lịch sử cũng hỗ trợ cho huyền thoại
này. Nhiều «nghĩa địa quỷ ma cà rồng» đã được khám phá ở Mễ Tây Cơ, ở
Áo hoặc ở Serbie. Tất cả các bộ xương được khai quật đều có ngực bị cọc
đâm xuyên . Các công trình nghiên cứu được thực hiện trên những hài cốt
người đã cho thấy rằng tất cả những người này đều bị chết bởi các bệnh
nhiễm khuẩn như lao, bệnh than (maladie du charbon) hay bệnh dại.
Vào thời kỳ đó, những bệnh nhiễm khuẩn này đã xuất hiện bằng cách nào,
không được giải thích rõ và lan tràn nhanh chóng. Điều này khiến dân chúng
đưa ra sự đối chiếu giữa sự việc một người lạ mặt xuất hiện trong vùng
và sự khởi đầu của một trận dịch bệnh, như thế làm toàn bộ dân chúng quay
cuồng hoảng sợ thật sự và từ đó phát sinh những câu chuyện kỳ lạ về quỷ
hút máu. Để ngăn chặn mối khiếp sợ này, người ta đã mở các quan tài để
cắm một chiếc cọc vào trong tim của những người bị nghi là quỷ hút máu.
Ngoài ra truyền thuyết đạt đến cao điểm khi vài nấm mồ được tìm thấy trống
rỗng và các tử thi được khám phá trong một tình trạng được bảo quản hoàn
hảo.
VIAD ALIAS DRACULA
Niềm tin dân gian còn có một nguồn gốc lịch sử khác. Vào năm 1430 hoàng
tử của xứ Valachie, Vlad III còn được gọi là Vlad Tepes ("L’empaleur",
người đóng cọc xuyên qua đít) và được mệnh danh là Dracula (tiếng roumain
nghĩa là con của rồng). Lúc còn nhỏ, Dracula đã chứng kiến cuộc ám sát
cha mình là Vlad Dracul và đã thấy anh mình bị chôn sống. Là kẻ thù không
đợi trời chung của những người Thổ, Vlad Tepes đã không do dự khi sử dụng
các phương pháp rất đã man để loại trừ các địch thủ của mình. Bản chất
vốn thích thú những trò tàn ác, ông ta đặc biệt ưa thích hành hình bằng
đóng cọc xuyên đít (empalement) hoặc lột da sống, và tỏ ra có nhiều óc
tưởng tượng trong những buổi tra tấn mà ông thích tham dự vào những giờ
ăn. Người ta nói rằng suốt trong thời kỳ trị vì 10 năm của ông, Dracula
đã gây ra gần 100.000 nạn nhân.
Vào năm 1476, Dracula bị chặt đầu trong những hoàn cảnh rất bí mật và
đầu của ông được phơi bày trên đầu một ngọn giáo. Sự kiện mồ của ông bị
tìm thấy trống rỗng trong những năm 1930 lại càng nuôi dưỡng huyền thoại
về sự bất tử của Dracula, mà Bram Stoker đã viết trong tác phẩm của mình.
CÁC LÝ THUYẾT Y HỌC
Nhưng dầu sao đi nữa các huyền thoại về quỷ hút máu trước
hết dựa trên những lý thuyết y học. Ngoài bệnh dại, những bệnh khác mới
được khám phá mới đây còn có thể giải thích hiện tượng này. Thí dụ chúng
ta hãy nêu ra bệnh porphyrie, căn bệnh di truyền gây tích tụ porphyrine
trong máu. Trong thể bệnh hiếm hơn của Porphyrie, căn bệnh này có thể
dẫn bệnh nhân đến tình trạng cần được tiếp máu, tăng tính nhạy cảm với
ánh sáng, sự phát triển những chiếc răng nhọn cũng như các chiếc răng
và các móng tay có màu đo đỏ.Về bệnh xeroderma pigmentosum, bệnh khác
được mệnh danh là “ bệnh của các quỷ hút máu, bệnh gây các thương tổn
nghiêm trọng nơi da nếu các bệnh nhân bị bệnh này tiếp xúc với ánh sáng
mặt trời, vì vậy sắc da của những người bệnh này rất xanh xao. Ngoài ra
căn bệnh tấn công vào các hồng cầu, nên bệnh nhân phải được truyền máu
thường xuyên.
Hiện nay bệnh dại vẫn còn hiện diện trên tất cả các lục địa và vẫn còn
là một mối quan tâm lớn trong nhiều nước của Đông Phi, châu Á, Nam Mỹ
và Đông Âu. Sau một thời kỳ yên tĩnh, bệnh dại lại tái xuất hiện trong
các vùng của nước Bỉ vào năm 1968. Trong mùa thu năm 2007, những trường
hợp mèo dại mới được khai báo ở Paris và nhiều chú mèo, nạn nhân của các
con dơi, đã bị giết chết. Được biết từ thời thượng cổ, rất có thể là bệnh
dại đã làm phát sinh một trong những huyền thoại được e sợ nhất, huyền
thoại về các quỷ hút máu ! Là nguồn cảm hứng của nhiều phim điện ảnh,
mối âu lo mà huyền thoại về quỷ hút máu gây nên, vẫn đúng là còn hiện
hữu đến ngày hôm nay. Nguồn: (SEMPER 2/2008)
3/ XEM MỘT TRẬN BÓNG ĐÁ LÀM
TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM
Cúp bóng đá thế giới vừa qua, được tổ chức
bởi FIFA, đã diễn ra ở Đức từ 9/6 đến 9/7 năm 2006. Các nhà nghiên cứu
người Đức đã lợi dụng dịp này để nghiên cứu mối liên hệ giữa sự căng thẳng
cảm xúc (stress émotionnel) và các biến cố tim mạch. Để thực hiện điều
này, Ute Wilbert-Lampen và các cộng sự viên, đã thực hiện một nghiên cứu
về những chẩn đoán các biến cố tim mạch xảy ra nơi những bệnh nhân ở Munich
trong thời gian thi đấu này. Các nhà nghiên cứu đã so sánh chúng với một
thời kỳ kiểm tra : 1/5 đến 8/6 và 10/7 đến 31/7 2006, và từ 1/5 đến 31/7
2003 và 2005.
Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, 4.279 biến cố tim mạch cấp tính đã
xảy ra trong thời kỳ này. Những hôm đội bóng đá Đức ra sân, tỷ lệ các
cấp cứu tim là 2,66 lần cao hơn so với thời kỳ kiểm tra : đối với các
ông, tỷ lệ các cấp cứu tim được nhân lên 3,26 và đối với các bà thì tỷ
lệ này được nhân lên 1,82. Sau hết, nơi những người có tiền sử tim mạch
lại còn tệ hại hơn : khi đội bóng Đức thi đấu, những người này chiếm 47%
các trường hợp, so với 29,1% trong các thời kỳ chứng.
Những hôm đội bóng đã Đức ra sân, tỷ lệ các biến cố tim mạch này đạt cao
nhất trong hai giờ đầu của trận đấu. Suốt trong hai giờ này, người ta
đã ghi nhận các trường hợp nhồi máu cơ tim với nâng cao đoạn ST được nhân
lên 2,49 lần, các trường hợp nhồi máu cơ tim không có nâng cao đoạn ST
hay cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable) được nhân lên 2,61
lần, và các trường hợp loạn nhịp tim 3,07 lần. Nguy cơ này vẫn cao trong
vài giờ.
Như vậy, tác giả kết luận rằng xem một trận đấu bóng đá căng thẳng sẽ
làm tăng gấp đôi nguy cơ bị những biến cố tim mạch cấp tính (nhồi máu
cơ tim và loạn nhịp tim có triệu chứng)
Vì lẽ có quá nhiều nguy cơ như vậy nên cần phải áp dụng những biện pháp
phòng ngừa, đặc biệt là nơi những người bị bệnh động mạch vành. Đó là
những bài học được rút ra từ Cúp bóng đá thế giới vừa qua. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 8/2/2008)
4/ LẦN HÀNH KINH ĐẦU, ĐỨA TRẺ ĐẦU LÒNG
VÀ UNG THƯ VÚ?
Từ lâu, người ta đã nghi ngờ rằng việc xuất hiện
những lần hành kinh đầu tiên (ménarche) và tuổi của người mẹ lúc sinh
đứa con đầu lòng có thể có một tác động lên nguy cơ bị ung thư vú. Nhưng
người ta đã chưa bao giờ quan tâm đến khoảng thời gian giữa hai hiện tương
này. Để biết rõ hơn điều này, Li và nhóm nghiên cứu đã thu thập các dữ
kiện trong một nhóm 4.013 phụ nữ và 4.069 người chứng. Các phụ nữ da trắng
ở thời kỳ tiền mãn kinh và các phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh, với khoảng thời
gian giữa lần hành kinh đầu và tuổi sinh con đầu lòng vượt quá 16 năm,
lần lượt có nguy cơ phát triển một ung thư vú 1,5 và 1,4 lần nhiều hơn
so với nhóm có khoảng thời gian này dưới hoặc bằng 5 năm. Mối liên hệ
này càng rõ nét hơn trong trường hợp ung thư vú tiểu thùy (lobulaire)
hay ung thư dương tính với các thụ thể hormone (récepteurs hormonaux).
Một mối liên hệ như thế không có nơi các phụ nữ Mỹ gốc châu Phi ở thời
kỳ tiền mãn kinh. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 8/2/2008)
5/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY : CÁC NGUY CƠ ĐƯỢC
ĐỊNH MỨC
Theo một công trình nghiên cứu được công bố bởi
British Journal of Cancer, các nhà nghiên cứu Nhật bản dường như đã xác
nhận rằng những người sử dụng đều đặn một điện thoại cầm tay không bị
nguy cơ nhiều hơn phát triển một khối u não. Những kết quả này khác rõ
rệt với những kết quả nghiên cứu trước đây đã được tiến hành ở Pháp và
Israel.
Công trình nghiên cứu Nhật bản kết luận rằng việc sử dụng « đều đặn »
điện thoại cầm tay đã không liên kết với gia tăng nguy cơ bị khối u não.
Tuy nhiên chúng ta có thể tự hỏi về định nghĩa thế nào là tính chất «
đều đặn » của việc sử dụng điện thoại cầm tay. Tiêu chuẩn được chọn là
sử dụng ít nhất một lần mỗi tuần trong 6 tháng liên tục, điều này có vẻ
như là một sự sử dụng rất có mức độ.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát các tác dụng của các mức bức xạ lên các
phần khác nhau của não bộ, bằng cách so sánh 322 người bị 3 loại ung thư
não (gliomes, méningiomes và adénomes, hoặc 85% các trường hợp u não)
với 683 những người khỏe mạnh khác.
Nhóm nghiên cứu đã khảo sát các bức xạ được phát ra bởi 76 loại điện thoại
cầm tay khác nhau. Theo các nhà nghiên cứu, công trình đã không phát hiện
một mối liên hệ nào có ý nghĩa giữa việc sử dụng điện thoại cầm tay và
ung thư.
Được phát động năm 1999, một công trình nghiên cứu quốc tế, được mệnh
danh là Interphone, được thực hiện trong 13 nước dưới sự chỉ đạo của Cơ
quan quốc tế nghiên cứu ung thư, nhằm xác định xem có một mối quan hệ
giữa việc sử dụng điện thoại cầm tay và vài khối u của dây thần kinh thính
giác, của các tuyến nước bọt hay của não bộ (gliome, méningiome) hay không,
đã so sánh các bệnh nhân bị loại các khối u này với một nhóm chứng. Một
công trình được thực hiện trong bối cảnh này ở Israel đã cho thấy rằng
các bức xạ được phát ra từ các điện thoại cầm tay làm gia tăng rõ rệt
các nguy cơ bị ung thư các tuyến nước bọt đối với những người sử dụng
thường xuyên (22 giờ mỗi tháng). Một công trình nghiên cứu được tiến hành
ở Pháp cũng cho thấy khả năng gia tăng nguy cơ bị gliome đối với những
người “ sử dụng mạnh ” (forts utilisateurs)
Trong lúc chờ đợi những kết luận rõ ràng, tổ chức chống ung thư của Bỉ
khuyên nên theo những lời khuyến nghị sau đây : nói chuyện bằng điện thoại
cầm tay với thời gian ngắn, không gọi điện thoại trong một chiếc xe hơi
đang chuyển động (công suất phát ra để tìm đài tiếp sóng khi đó rất lớn),
tránh đặt điện thoại gần tai lúc bấm số và tránh dùng điện thoại cầm tay
nơi trẻ em. Nguồn: (LE SOIR 8/2/2008)
6 / Ở PHÁP TỶ LỆ TỬ VONG DO NHỒI MÁU CƠ
TIM HẠ RẤT THẤP
Theo một công trình nghiên cứu Châu
Âu, tỷ lệ tử vong do nhồi màu cơ tim ở Pháp đã sụt giảm 50% từ năm 1995
đến 2005. Một công cuộc điều tra rộng lớn của Châu Âu được công bố vào
tuần này trong tạp chí European Heart Journal tiết lộ rằng nước Pháp có
những tỷ lệ nhồi máu cơ tim và các cơn đột quy thấp nhất so với các nước
khác của Châu Âu.
Mặt khác công trình này chứng tỏ rằng có những dị biệt quan trọng về tỷ
lệ tử vong tim mạch trên bình diện quốc gia và vùng ở Châu Âu. Nhiều nước
ở Bắc Ấu và Đông Âu có những tỷ lệ tử vong 7 đến 14 lần cao hơn những
nước khác.
Để phân tích các tỷ lệ tử vong do các bệnh tim (cơn đau thắt ngực, nhồi
máu cơ tim) và do các tai biến mạch máu não, các nhà nghiên cứu của trung
tâm y tế La Charité ở Berlin đã quyết định tham khảo tất cả các sổ đăng
ký về tỷ lệ tử vong trong năm 2002, trên toàn bộ các nước châu Âu và chỉ
xét đến những người tuổi từ 45 đến 74 tuổi.
Các kết quả cho thấy rằng tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim cao hơn trong
các nước Trung Âu và Đông Âu, trong khi đó Pháp, theo sau là Bồ Đào Nha
,Ý và Tây ban Nha, có những tỷ lệ tử vong thấp nhất. Những dị biệt quan
trọng tùy theo vùng được chứng nhận ở Đức, ở Vương Quốc Anh và Ba lần.
Ở Châu Au tỷ lệ tử vong do đột qụy theo một sơ đồ hơi hơi khác. Tỷ lệ
này giảm trong vùng trung tâm của Tây Âu, với những tỷ lệ thấp nhất ở
Thụy Sĩ, Pháp, Na Uy, và Tây ban Nha. Những tỷ lệ cao nhất được nêu lên
ở các nước Trung Âu và Đông Âu, nhưng cũng ở trong các nước vùng Địa Trung
hải, bao gồm Hy Lạp và Bồ Đào Nha, cũng như vài vùng của Tây Ban Nha và
Ý. Vài nước (Ý, Tây ban Nha, Bồ Đào Nha và Vương Quốc Anh) có những thay
đổi quan trọng theo vùng.
Làm sao giải thích những kết quả này, đặc biệt là đối với Pháp?
« VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA »
Ở Pháp, một phân tích mới đây đã cho phép tính toán rằng
tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim đã hạ 50% từ năm 1995 đến 2005.Việc sụt
giảm quan trọng này nên được quy cho lý do gì? « Tôi nghĩ rằng vai trò
phòng ngừa là quan trọng, với các biện pháp chống thuốc lá được thực hiện
trong mười năm qua, với công tác điều trị cao huyết áp hiệu quả hơn, giáo
sư Danchi đã nói thêm vào như vậy. Mặt khác, có một sự cải thiện thật
sự về trình độ quản lý y khoa các bệnh nhân bị một nhồi máu cơ tim, vì
lẽ, từ năm 1995 đến 2005, tỷ lệ tử vong của các bệnh nhân này đã được
chia hai ». Để giải thích những kết quả tương đối tốt này, lối sống và
truyền thống nấu ăn cũng có thể được nêu lên. « Cần phải thận trọng, giáo
sư Danchin đảm bảo như vậy. Ở Pháp cũng như ở những nơi khác, người ta
nhận thấy bệnh béo phì, nhất là ở trẻ em đang gia tăng. Và điều đó làm
cho chúng ta e sợ một sự tiến triển của các tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim,
vì lẽ hệ luận của bệnh béo phì đó cũng là bệnh đái đường. Chúng ta vẫn
phải luôn cảnh giác ».
Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, nhiều tham số có thể giải
thích những dị biệt này giữa các quốc gia, như các biến số xã hội-kinh
tế, các yếu tố tâm lý-xã hội, và lại nữa các yếu tố nguy cơ « cổ điển
» ( cao huyết áp, tăng lipid huyết, tăng thể trọng), hoặc lối sống ( thể
dục, dinh dưỡng, nghiện thuốc lá ). BS Miller-Nordhorn nhấn mạnh rằng
trong những thập niên qua, tỷ lệ tử vong tim mạch đang tiếp tục hạ xuống
trên hầu hết các nước Tây Âu : «Dường như những nước Tây Âu, trước đây
được xếp vào hạng có nguy cơ cao, bây giờ đây có những tỷ lệ tử vong có
thể so sanh với những tỷ lệ tử vong của những nước có nguy cơ thấp vào
lúc các công trình nghiên cứu được thực hiện trong những năm 1980 và 1990.
»
Nguồn: LE FIGARO 8/2/2008)
7/ CÁC MỐI LO NGẠI VỀ THUỐC CHỐNG NHĂN BOTOX
Ở HOA KỲ.
Việc sử dụng toxine botulique, được thương mãi
hóa dưới tên Botox, có thể có những hậu quả nguy hiểm, thậm chí chết người.
Hôm thứ sáu vừa qua, Cơ quan quản trị thực phẩm và dược phẩm (FDA) của
Hoa Kỳ đã cho biết như vậy, sau khi đã tìm hiểu « những báo cáo về các
phản ứng nghiêm trọng » đã tác động đặc biệt trên bộ máy hô hấp. Tuy nhiên
FDA đã không đi đến chỗ ra lệnh cấm đoán chất thuốc này. Botox đã được
sử dụng bởi hàng triệu người trên thế giới nhằm làm biến mất đi những
vết nhăn của tuổi già.
Thật vậy, BS Russell Katz, lãnh đạo đơn vị các thuốc thần kinh của FDA,
đã nói rõ rằng không có một bệnh nhân nào đã từng sử dụng Botox vì mục
đích thẩm mỹ mà lại không nằm trong danh sách các nạn nhân đã được kiểm
kê, nhưng ông ta đã yêu cầu cần phải cảnh giác ở mức cao nhất không những
từ phía các thầy thuốc mà ngay cả những bệnh nhân của họ.
Các trường hợp trúng độc nghiêm trọng nhất đã xảy ra nơi các bệnh nhân,
trưởng thành và trẻ em, đã được tiêm toxine botulique với mục đích điều
trị, nghĩa là với những liều lượng cao hơn nhiều so với những liều lượng
được dùng vì mục đích thẩm mỹ. Toxine botulique thường được sử dụng để
điều trị những chứng co thắt không kiểm soát được của các cơ cổ và vai,
tật lé mắt (strabisme) hay chứng chớp mi mắt không kềm chế được.
CÒN GÂY CHẾT NGƯỜI HƠN CẢ CYANURE.
FDA báo cáo các phản ứng do thuốc
tương tự với các phản ứng được quan sát với botulisme, một bệnh rất nghiêm
trọng xảy ra «khi toxine botulique lan tràn trong thân thể từ chỗ độc
chất được chích vào». Các phản ứng này có thể là do quá liều.
Lời cảnh cáo của FDA được đưa ra khi hiệp hội bảo vệ những người tiêu
thụ của Hoa Kỳ, được thành lập bởi Ralph Nader, mới đây đã cáo giác tính
nguy hiểm của Botox, chịu trách nhiệm, theo hiệp hội, 87 trường hợp nhập
viện ở Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 1997 đến tháng 12 năm 2006, trong đó có
16 trường hợp tử vong. Tuy nhiên nhân viên hữu trách của FDA đã từ chối
đưa ra các con số, BS Katz chỉ nêu ra "một nhúm các trường hợp"
Toxine botulique, được thương mãi hóa dưới các nhãn hiệu Botox hay Vistabel
(phòng bào chế Allergan), Myobloc hay Neurobloc (phòng bào chế Solstice
Neurosciences) hay Dysport (phòng bào chế Ipsen), là một chất độc mạnh,
40 triệu lần mạnh hơn cyanure. Toxine botulique được tiết ra tự nhiên
bởi một vi khuẩn (Clostridium botulinum). Vi khuẩn này phát triển chủ
yếu trong các đồ hộp hay do thịt lợn bị hư hỏng. Nguồn:
(LE FIGARO 11/2/2008)
8/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN (CANCER
DE LA PROSTATE) : MỘT VACCIN THÍ NGHIỆM
Những thử nghiệm trên chuột là đáng phấn khởi. Nhưng không
có một thí nghiệm nào đã được thực hiện trên người. Đối tượng của tiêm
chủng, lúc khởi đầu chỉ dành cho các bệnh nhiễm trùng, giờ đây dần dần
bắt đầu mở rộng ra cho các bệnh lý khác. Nhiều công trình nghiên cứu cơ
bản nhằm chế tạo các vaccin chống các bệnh thường xảy ra như cao huyết
áp hoặc ngay cả việc nghiện thuốc lá! Tuần nầy, tạp chí Cancer Research
của Hoa kỳ đã công bố những kết quả rất lý thú của các nhà nghiên cứu
của Norris Comprehensive Cancer Center (Californie) và chứng tỏ lần đầu
tiên rằng việc phát triển của ung thư tiền liệt tuyến nơi loài chuột có
thể được ức chế bằng một tiêm chủng đặc hiệu. Hiện nay, ở Pháp, mỗi năm
có 55.00 trường hợp mới và 10.000 trường hợp tử vong được thống kê.
Nhóm nghiên cứu của giáo sư Martin Kast đã chế tạo một thuốc chủng có
khả năng sản sinh một đáp ứng miễn dịch chống lại một kháng nguyên tế
bào gốc của tiền liệt tuyến (PSCA : antigène de cellule-souche prostatique),
một protéine màng được biểu hiện trong 1/3 các ung thư của tuyến tiền
liệt ở giai đoạn khởi đầu và trong tất cả các khối u của tuyến tiền liệt
khi chúng lớn ra. Protéine này cũng được biểu hiện trong tuyến tiền liệt
bình thường, bàng quang, ruột già…Thuốc chủng này (một mũi chủng đầu và
một mũi nhắc lại 2 tuần sau đó) sau đó đã được trắc nghiệm trên các con
chuột với tuổi 9 tuần và được biến đổi về mặt di truyền để chúng phát
triển một ung thư tiền liệt tuyến.
« MỘT ĐỘI QUÂN CÁC TẾ BÀO MIỄN DỊCH »
Các kết quả rất là đáng phấn khởi. Chỉ 2 trong số 20 con chuột đã được
tiêm chủng là bị ung thư tiền liệt tuyến vào cuối năm đầu của cuộc sống.
Khi so sánh, tất cả các con chuột không được tiêm chủng đều chết vì bệnh
này. Tất cả các con chuột của nhóm thí nghiệm đã phát triển các khối u
nhỏ của tuyến tiền liệt. Các khối u này đã không tiến triển.
“Chúng tôi đã có thể quan sát các nốt ung thư tuyến tiền liệt nhỏ xíu
bị bao quanh bởi một đội quân các tế bào miễn dịch, giáo sư Kast đã giải
thích như vậy. Việc tiêm chủng đã biến đổi ung thư thành một bệnh mạn
tính và toàn thân ”. Mối nguy hiểm lớn của sự tiêm chủng này là làm dễ
sự phát triển các bệnh tự miễn dịch vì lẽ protéine bia (protéine cible
: PSCA) cũng được tìm thấy trong nhiều cơ quan khác. Theo các tác giả,
không một con chuột được tiêm chủng nào đã có một bệnh tự miễn dịch. “
Sự việc PSCA được biểu hiện với những mức độ rất thấp trong các mô khác
có thể tránh biến chứng này, Martin Kast nói thêm như vậy. Nhưng chỉ có
những nghiên cứu trên người sẽ chứng minh điều đó. ”
Đối với giáo sư Marc Zerbib (bệnh viện Cochin, Paris), những công trình
này mặc dầu có tính chất thí nghiệm nhưng rất lý thú. Một việc tiêm chủng
như thế sẽ có thể dành cho đối tượng nào nếu thí nghiệm thành công trên
người ? Theo các tác giả, tiêm chủng sẽ dành cho những người có những
chỉ dấu gia tăng của ung thư tiền liệt tuyến nhưng không có triệu chứng
nào khác và đối với những người này thường thì chúng ta chỉ có thể đề
nghị theo dõi thụ động hoặc điều trị tấn công hơn. “ Nếu ta chứng tỏ được
rằng một phương thức như vậy là hiệu quả và không có nguy hiểm nơi người,
điều này còn cần một thời gian nữa, giáo sư Zerbib nói thêm như vậy, thì
chúng ta cũng có thể đề nghị tiêm chủng cho những người có một dạng di
truyền gia đình của ung thư tuyến tiền liệt.” Nguồn: (LE
FIGARO 4/2/2008)
9/ NGHIỆN THUỐC LÁ
: ẢNH HƯỞNG CỦA GƯƠNG XẤU
Các công trình nghiên cứu trước
đây đã chứng tỏ rằng khi các thiếu niên thấy các tài tử hút thuốc thì
chính chúng sẽ có khuynh hướng hút thuốc nhiều hơn. Linda Titus-Ernstoff
(Hoa kỳ) và nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ cùng kiểu liên kết này nơi các
trẻ nhỏ tuổi hơn ( 9 đến 12 tuổi). Trong một công trình nghiên cứu dọc,
các nhà nghiên cứu đã hỏi một số trẻ nào đó, tuổi từ 9 đến 12, loại phim
mà chúng đã xem. Các tác giả cũng đã thu thập các dữ kiện về hành vi nghiện
thuốc của các trẻ nhỏ. Họ đã chứng nhận rằng sự việc thấy các tài tử cinéma
hút thuốc là một yếu tố tiên đoán có ý nghĩa về tuổi khởi đầu nghiện thuốc
lá trong lứa tuổi này, ngay cả sau khi đã điều chỉnh một số yếu tố khác
khả dĩ ảnh hưởng lên đứa trẻ hay bố mẹ của chúng. Các tác giả nghĩ rằng
việc nhìn những cảnh hút thuốc của các tài tử cinéma giải thích 1/3 các
trường hợp tại sao một trẻ từ 9 đến 12 tuổi bắt đầu hút thuốc. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/2/2008)
10/ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH
SÂU: PHÉP DỰ PHÒNG KHÔNG ĐƯỢC ĐẤY ĐỦ Ở BỆNH VIỆN
Phần lớn các bệnh nhân được nhập viện có nguy cơ
quan trọng bị huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde),
nhưng nhiều người trong số các bệnh nhân này không nhận được một dự phòng
đầy đủ. Đó là điều được gợi ý bởi công trình nghiên cứu Endorse, một công
trình nghiên cứu nhiều trung tâm. Các tác giả đã phân tích các dữ kiện
của 30.827 bệnh nhân được nhập viện trong một khoa ngoại và của 37.356
bệnh nhân nằm viện trong các khoa khác. Các bệnh nhân này xuất phát từ
hơn 300 bệnh viện được phân bố trong 32 nước tình nguyện, được chọn lọc
từ 6 lục địa.Tuy nhiên các bệnh viện phải thỏa mãn một vài điều kiện để
có thể tham dự vào công trình nghiên cứu. Trên cơ sở những lời khuyến
nghị được đưa ra bởi American College of Chest Physicians (2004), các
tác giả đã cố gắng tìm biết các bệnh nhân có bị một nguy cơ mắc phải huyết
khối tĩnh mạch sâu và họ có được nhận một điều trị dự phòng thích ứng
hay không. Các kết quả cho thấy rằng 51,8% các bệnh nhân nhập viện có
một nguy cơ gia tăng bị huyết khối tĩnh mạch sâu ( 41,5% trong những khoa
không phải ngoại khoa, và 64,4% trong các khoa ngoại ). Trong số bệnh
nhân có nguy cơ được nhập viện trong một khoa không phải ngoại khoa, 39,5%
các bệnh nhân nhận một phòng ngừa tuân theo những lời khuyến nghị. Trong
các khoa ngoại, các con số khả quan hơn, vì lẽ 58,5% các bệnh nhân được
nhận điều trị dự phòng, Alexander Cohen và nhóm nghiên cứu đã giải thích
như vậy. Walter Ageno và Francesco Dentali (Y) nhấn mạnh rằng vẫn cần
thực hiện một công trình quan trọng để tối ưu hóa sự dự phòng các trường
hợp huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh viện. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 12/2/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(15/2/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |