 |
Thời
Sự Y Học số 63
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ THỂ THAO LÀM TRẺ LẠI
10 NĂM
Những người tập thể dục đều đặn
sẽ có quá trình lão hóa ít hơn.
Nhiều công trình nghiên cứu chứng minh điều đó: hoạt động vật lý đều đặn
nhiều lần trong tuần và một cách bền bĩ có khả năng ngăn ngừa bệnh đái
đường, bệnh béo phì, các bệnh tim mạch, bệnh loãng xuống. Một công cuộc
điều tra mới được thực hiện trên các trẻ sinh đôi tiết lộ rằng những người
thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý đáng kể thì, trên bình diện sinh
học, trẻ hơn 10 năm so với những người hoàn toàn không hoạt động.
Công cuộc điều tra này, được thực hiện bởi các nhà khoa học người Anh,
được công bố trong tạp chí Archives of Internal Medicine, hẳn
phải khiến các thầy thuốc cần khuyên việc tập thể dục nơi các bệnh nhân
của họ một cách hệ thống, hơn là kê toa cho thuốc ngày càng nhiều.
Mục đích của công trình này là so sánh, nơi các trẻ sinh đôi thật và giả,
các télomères, những chỉ dấu của quá trình lão hóa nhiễm sắc thế, và xem
có mối quan hệ giữa các chỉ dấu này với việc luyện tập một môn thể dục
nào đó hay không. Các télomères, được cấu tạo bởi ADN nằm ở đầu các nhiễm
sắc thể, có đặc điểm là thu ngắn lại trong qua trình phân chia tế bào.Vào
ngày nào đó, lúc kích thước của chúng trở nên không được đầy đủ, thì tế
bào sẽ không còn có khả năng tăng sinh được nữa và sẽ chết. Người ta ước
tính rằng, chiều dài của các télomères trung bình thu ngắn mỗi năm 21
nucléotides hay đơn vị cấu trúc (unités structurelles).Việc thu giảm kích
thước của các télomères này có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường
hay không? Những công trình nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng kích
thước của các télomères bị thu ngắn một cách gia tốc nơi những người nghiện
thuốc lá và những người bị chứng béo phì.
SỰ CĂNG THẲNG VỀ TÂM LÝ
Các nhà nghiên cứu của King’s College de Londres đã nghiên cứu 2.401 người
sinh đôi (thật hoặc giả), đàn ông hay phụ nữ, tuổi trung bình 48. Những
người này lúc đầu đã trả lời một bảng câu hỏi về mức độ hoạt động vật
lý, cương vị xã hội-kinh tế và mức độ nghiện thuốc lá của họ.
Từ một mẫu nghiệm máu, các nhà nghiên cứu cũng đã trích ADN của các bạch
cầu để xem xét chiều dài của các télomères.
Các kết quả hoàn toàn rõ ràng. Nhìn toàn bộ, dường như những người ít
hoạt động vật lý nhất, có các télomères ngắn hơn so với những người tập
thể dục đều đặn. Và điều này cũng đúng với các cặp sinh đôi thật sự, nghĩa
là những người lúc khởi đầu đã có cùng một di sản di truyền (patrimoine
génétique). Việc tập thể dục càng quan trọng, thì các télomères sẽ càng
ít bị thu ngắn hơn. “Mức độ khác biệt trung bình về chiều dài của các
télomères bạch cầu giữa những người hoạt động tích cực nhất của nhóm (trung
bình 199 phút thể dục mỗi tuần) và những người ít hoạt động nhất (16 phút
thể dục mỗi tuần) là 200 nucléotides”, BS Lynn Cherkas, tác giả chính
của công trình nghiên cứu này đã nói rõ như thế. “Nói một cách khác, những
người hoạt động thể dục tích cực nhất có các télomères với độ dài bằng
với các télomères của những người ít hoạt động với 10 năm trẻ tuổi hơn”.
Một mối liên hệ như thế giữa độ dài của các télomères và mức độ hoạt động
vật lý vẫn có ý nghĩa sau khi đã tính đến chỉ số khối lượng cơ thể (indice
de masse corporelle), việc nghiện thuốc lá, cương vị xã hội kinh tế và
mức độ hoạt động trong công việc làm.
Việc tập thể dục tác động lên sự lão hóa tế bào bằng cơ chế nào? Những
lời giải thích chưa được rõ ràng. Các tác giả gợi ý stress oxy hóa hoặc
stress tâm lý ảnh hưởng lên các télomères và quá trình lão hóa.
Những lời khuyến nghị của các giới hữu trách y tế ở Pháp, ở Châu Âu và
ở Hoa Kỳ, rằng tập thể dục với cường độ vừa phải, 30 phút mỗi ngày, ít
nhất 5 ngày mỗi tuần, là hoàn toàn có căn cứ với sự công bố công trình
nghiên cứu mới này. (Nguồn: LE FIGARO 30/1/2007)
2/ CÀNG
NHIỀU VITAMINE C, CÀNG ÍT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Dường như nồng độ của vitamine C
trong máu có thể cho phép tiên đoán nguy cơ xảy ra tai biến mạch máu não.
Ít nhất đó là điều được gợi ý bởi những kết quả của một công trình nghiên
cứu của Anh, với sự tham gia của 20.649 người già và những người ở lứa
tuổi trung niên. Công trình nghiên cứu này đã được công bố trong American
Journal of Clinical Nutrition.
Trong lúc thực hiện công trình nghiên cứu này, các tác giả đã ghi
nhận 448 trường hợp tai biến mạch máu não mới trong trong suốt thời kỳ
theo dõi kéo dài 2,5 năm. Họ đã chứng nhận rằng những người có nồng độ
vitamine C trong máu cao nhất vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, có
nguy cơ là nạn nhân của tai biến mạch máu não, 40% thấp hơn so với những
người có nồng độ vitamine C trong máu thấp.
Theo các tác giả, tác dụng bảo vệ rõ ràng của vitamine C lên nguy cơ xuất
hiện một tai biến mạch máu não là độc lập với tuổi tác, giới tính, hành
vi nghiện thuốc lá, chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), huyết áp thu tâm,
nồng độ cholestérol trong máu, hoạt động vật lý, bệnh đái đường, nhồi
máu cơ tim, việc dùng chất bổ sung dinh dưỡng, và cương vị xã hội.
“Những nồng độ của vitamine C trong máu có thể được xem như là một chỉ
dấu sinh học (marqueur biologique) đối với lối sống hay đối với các yếu
tố khác liên kết với sự giảm yếu tố nguy cơ tai biến mạch máu não. Việc
định lượng nồng độ vitamine C có thể hữu ích để nhận diện những người
có nguy cơ cao bị tai biến mạch máu não, Phyo Myint (Anh) và nhóm nghiên
cứu đã kết luận như vậy.
Trong bài xã luận dành cho cùng chủ đề này, Sebastian Padayatty và Mark
Levine nhấn mạnh rằng việc tiêu thụ trái cây và rau xanh được liên kết
với nhiều tác dụng thuận lợi lên sức khỏe, trong đó có sự giảm nguy cơ
bị tai biến mạch máu não. Vì lẽ chúng ta không biết chính xác tại sao
như vậy, nên chúng ta chỉ có thể khuyên đưa vào thực đơn hàng ngày thật
nhiều thứ trái cây và rau xanh để có được tổng cộng 5 đến 9 suất mỗi ngày”.
Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 1/2/2008)
3/ CÁU
KỈNH, ĐAU ĐẦU VÀ THỜI KỲ MÃN KINH
Những phụ nữ bị chứng đau đầu, tính dễ cáu, và tính
khí thay đổi trong thời kỳ tiền mãn kinh (préménaupose), thường sẽ thấy
các triệu chứng được cải thiện một khi thời kỳ mãn kinh được xác lập.
Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ được thực hiện
bởi Ellen Freeman và các cộng sự viên. Mặc dầu nhiều triệu chứng đã được
gán cho thời kỳ mãn kinh, nhưng việc xác nhận rằng các triệu chứng này
sẽ trở nên gia trọng khi càng ngày càng gần thời kỳ mãn kinh là một điều
sai lệch. Trái lại là khác. Các tác giả đã theo dõi trong 9 năm, 404 phụ
nữ tuổi từ 35 đến 47, để xem các triệu chứng đặc trưng của thời kỳ mãn
kinh sẽ tiến triển ra làm sao tùy theo thời kỳ mãn kinh. Các nhà nghiên
cứu đã chứng nhận rằng các phụ nữ thường bị đau đầu trong thời kỳ tiền
mãn kinh đã thấy triệu chứng này thuyên giảm một khi kỳ mãn kinh được
xác lập. Cũng vậy, tính cáu kỉnh và những thay đổi tính khí đột ngột đặc
trưng của thời kỳ mãn kinh cũng có khuynh hướng giảm dần đi. Nồng độ FSH
gia tăng trong thời kỳ mãn kinh (do sự sản xuất oestrogènes và progestérone
bởi các buồng trứng bị giảm). Freeman đã chứng nhận rằng những thay đổi
tính khí và tính cáu kỉnh giảm đi khi nồng độ FSH gia tăng. Các tác giả
kết luận rằng những triệu chứng khó chịu thường được gán cho thời kỳ mãn
kinh, có khuynh hướng giảm chứ không phải là gia tăng theo những thay
đổi sinh lý trong những năm tháng chuyển tiếp này. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 1/2/2008)
4/ CÁC CHẤT
CHỐNG OXI HÓA VÀ TIỀN SẢN GIẬT
Theo nhóm các nhà nghiên cứu Cochrane, việc sử dụng
vitamine C hoặc E trong thời kỳ thai nghén đã không làm giảm nguy cơ tiền
sản giật (prééclampsie). Alice Rumbold và các cộng sự viên đã khảo sát
các dữ kiện của 10 thử nghiệm bao gồm tổng cộng 6.533 phụ nữ đã tham gia
vào các công trình nghiên cứu về tác dụng của các chất chống oxy hóa (anti-oxydants)
(như vitamine C và E) trong thời kỳ thai nghén. Theo các nhà nghiên cứu,
việc dùng các chất bổ sung chống oxy hóa đã không liên kết với sự giảm
nguy cơ mắc phải tiền sản giật. Việc dùng các chất chống oxy hóa này cũng
đã không ngăn ngừa nguy cơ sinh non, sự tăng trưởng kém của thai nhi trong
tử cung và cả tỷ lệ tử vong lúc sinh.
«Hiện nay không có một dữ kiện nào hỗ trợ cho việc sử dụng theo lề thói
đã quen các chất bổ sung chống oxy hóa trong thời kỳ thai nghén, như là
phương cách để làm giảm nguy cơ tiền sản giật hoặc những vấn đề nghiêm
trọng khác», Bác sĩ Alice Rumbold (Úc Đại Lợi) đã nói rõ như vậy. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/2/2008).
5/ CHỨNG
THIẾU VITAMINE E NƠI NGƯỜI GIÀ
Theo một công trình nghiên cứu mới
đây, những nồng độ thấp của vitamine E trong máu được liên kết với một
sự giảm sút các năng lực vật lý của các phụ nữ già cả nhưng còn khả năng
sống độc lập (autonome). Đó là những kết luận của Benedetta Bartali và
các cộng sự viên. Các nhà nghiên cứu người Ý đã theo dõi từ năm 1998 đến
2003, 698 phụ nữ sống độc lập ở Toscane và tuổi hơn 65. Các nhà nghiên
cứu đặc biệt quan tâm về lối sống, cách ăn uống, và đặc biệt về sự hấp
thụ các vi dưỡng chất (micro-nutriments) đặc hiệu và về các năng lực chức
năng (capacités fonctionnelles) của những người được tuyển mộ trong công
trình nghiên cứu này. Các tác giả đã xác nhận rằng những nồng độ thấp
của vitamine E trong máu được liên kết với sự giảm gia tăng của các năng
lực vật lý chức năng (capacités physiques fonctionnelles). Theo các tác
giả, các cơ chế khả dĩ giải thích hiện tượng này như sau : một stress
oxy hóa gia tăng đưa đến những biến đổi nơi các cơ và ADN, sự trầm trọng
thêm tình trạng xơ vữa động mạch (athérosclérose) hay những bệnh khác,
cũng như sự phát triển các bệnh thoái hóa thần kinh (affections neuro-dégénératives).
Các tác giả chủ trương thực hiện các nghiên cứu lâm sàng khác để biết
đến mức độ nào, việc tối ưu hóa những nồng độ của vitamine E trong máu
có thể góp phần làm giảm sự mất chức năng, và như vậy góp phần vào bảo
vệ khả năng sống độc lập nơi các người già. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 1/2/2008)
6/ PORPHYRIE
(RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA PORPHYRINE)
Các rối loạn chuyển hóa porphyrine tạo nên một nhóm
bệnh hiếm (khoảng 1 trường hợp trên 10.000 đến 50.000), đặc trưng bởi
các rối loạn di truyền hay thụ đắc của sinh tổng hợp hème (nhóm ngoài
của hémoglobine chứa porphyrine), trong đó các enzymes phụ trách các giai
đoạn khác nhau của sự tổng hợp hème, bị khiếm khuyết một phần hoặc toàn
phần.
Do các enzymes này bị thiếu hụt, porphyrine và các tiền chất (précurseurs)
như acide delta-aminolévulinique (ALA) và porphobilinogène (PBG) được
tích tụ trong các mô hoặc được thải trong nước tiểu hoặc trong phân. Porphyrie
di truyền là những bệnh đơn gène (maladie monogénique), phần lớn được
truyền theo cách nhiễm sắc thể thường, tính trội. Porphyrie mắc phải là
do ngộ độc bởi kim loại nặng.
Các cơn porphyrie cấp tính với các triệu chứng lâm sàng không phải luôn
luôn gợi ngay chẩn đoán, nhưng các thầy thuốc không thể không biết các
triệu chứng này, bởi vì những sai lầm chẩn đoán và điều trị có thể gây
nên tai họa. Thế thì khi nào phải nghĩ đến cơn porphyrie cấp tính? Chẩn
đoán có thể được nghi ngờ trước một phụ nữ trẻ (25-35 tuổi trong 90% các
trường hợp) kêu đau bụng dữ dội, không khu trú, đau các vùng thắt lưng
lan xuống các chi dưới, kèm theo nôn mửa và táo bón. Khám bụng bình thường
trên bình diện lâm sàng và quang tuyến. Nước tiểu có màu đỏ hoặc nhuộm
màu khi gặp ánh sáng. Một bệnh sử gia đình porphyrie sẽ góp phần vào chẩn
đoán, được xác nhận bởi đo nồng độ ALA và PGB trong nước tiểu. Phải nhập
viện khẩn cấp để được điều trị đặc hiệu. Biến chứng đáng sợ là bại liệt
hô hấp, và phải đưa vào phòng hồi sức nếu có các triệu chứng thần kinh.
PORPHYRIE VÀ VÀI GIAI THOẠI LỊCH SỬ
Porphyrie là một trong hai bệnh di truyền (bệnh kia là
bệnh ưa chảy máu, hémophilie) đã giáng vào hoàng gia Anh. Bệnh porphyrie
đã xuất hiện với Marie Stuart, hoàng hậu Ecosse. Marie Stuart, suốt đời
đã bị những đợt rối loạn tâm thần và những cơn đau bụng, có lẽ đã bị vướng
víu bởi căn bệnh này trong cuộc đấu tranh chống lại các thủ đoạn của hoàng
hậu Anh, Elizabeth. Cuối cùng Elizabeth đã bắt giam và hành quyết Marie
Stuart. Chắt gái của Marie Stuart là Henriette d’Angleterre, chết năm
29 tuổi, có lẽ là do một cơn porphyrie cấp tính. Henriette là vợ của Philippe
d’Orléans, anh của Louis XIV.Chính Bossuet đã đọc bài điếu văn nổi tiếng
vào lúc mất của Henriette. Lúc đọc bài điếu văn này ông đã thốt lên: «Ôi
đêm trường tai hại ! Ôi đêm trường khủng khiếp ! Thình lình vang lên như
một tiếng sét cái tin lạ lùng này : Đức bà đang chết ! Đức bà đã chết!».
Một hậu duệ khác của dòng họ Stuart là Georges III. Trị vì nước Anh từ
năm 1760 đến 1820 và đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh giành độc
lập của Hoa Kỳ và các cuộc chiến với Napoléon, Georges III đã bị nhiều
cơn ảo giác và hoang tưởng, được gán cho bệnh porphyrie. Các nhà viết
sử cho rằng việc nhà vua đã có một vài quyết định ít đúng đắn có thể đã
ảnh hưởng lên tiến trình của lịch sử. Georges III đã bị thay thế bởi một
quan nhiếp chính khi nhà vua bắt đầu cho rằng các cây trong công viên
của ông là vua nước Phổ. Dạng bệnh di truyền này được biểu hiện nơi nhiều
con cháu hậu duệ thuộc các triều đại Stuart và Hanovre. Nguồn: (LE
GENERALITE 7/2/2008)
7/ ĐẬU
NÀNH BẢO VỆ CÁC BÀ CHỨ KHÔNG PHẢI CÁC ÔNG
Theo một công trình nghiên cứu Nhật
Bản được thực hiện bởi Bộ Y Tế suốt trong 13 năm, trên 40.462 người từ
40 đến 59 tuổi, thì các phụ nữ tiêu thụ đều đặn các sản phẩm có chất đậu
nành làm nòng cốt, có nguy cơ bị cơn đau tim 3-4 lần ít hơn. Các sản phẩm
dẫn xuất từ đậu nành, giàu isoflavones và vitamine E, sẽ có những tác
dụng bảo vệ còn quan trọng hơn lên các phụ nữ mãn kinh. Đối với các ông,
tiêu thụ hay không tiêu thụ đậu nành cũng không thấy có sự khác biệt nào
được phát hiện cả. Nguồn: (SCIENCE ET VIE 2/2008)
8/ MỘT
PHÔI THAI ĐƯỢC TẠO NÊN « IN VITRO » BỞI MỘT NGƯỜI CHA, MỘT NGƯỜI MẸ VÀ
MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÁC
Các nhà nghiên cứu của đại học Newcastle
(bắc Anh Quốc) đã tạo nên một phôi thai người gồm ADN của một phụ nữ và
của một người đàn ông, cũng như các thể hạt (mitochondries) của một người
đàn bà khác. Không có một chi tiết nào được đưa ra về kỹ thuật đã được
sử dụng. Tuy nhiên, người ta có thể nghĩ rằng, cũng như trong thụ tinh
in vitro cổ điển, các nhà nghiên cứu đã cho thụ tinh noãn của một phụ
nữ với tinh trùng của một người đàn ông, nhưng họ đã tiêm một phần tế
bào chất lấy từ trong noãn của một người đàn bà khác, vào bên trong phôi
thai này.
Như vậy các nhà nghiên cứu đã thành công thay thế các thể hạt bị thương
tổn của người mẹ bằng các thể hạt lành mạnh của một người đàn bà khác.
Các phôi thai đã phát triển trong 5 ngày và sau đó đã bị phá hủy.
Các thể hạt là những yếu tố có nguồn gốc vi khuẩn, đóng vai trò cốt yếu
trong việc tiếp liệu năng lượng. Nơi những sinh vật, chính các thể hạt
cung cấp năng lượng cho các phản ứng hóa học. Nếu chúng bị tổn hại, chúng
có thể gây ra một loạt các bệnh thần kinh cơ, các bệnh gan, chứng điếc,
hoặc chứng mù. Người ta ước tính cứ 6.500 người thì có một người mắc phải
loại bệnh này. Các nhà nghiên cứu của đại học Newcastle đã sử dụng 10
phôi thai đã không có thể dùng để thụ thai in vitro.
Tiến bộ này đã được trình bày ở Londres tuần vừa qua, vào lúc thảo luận
ở Thượng Viện nhưng chưa phải là mục tiêu của một công bố khoa học, đại
học Newcastle hôm qua đã chỉ rõ như vậy.Theo các nhà nghiên cứu, khám
phá khoa học đầu tiên này sẽ có thể cho phép chống lại việc truyền các
bệnh di truyền cho các trẻ em.
”NGĂN NGỪA CÁC BỆNH”
Các công trình nghiên cứu này nhằm điều
trị và ngăn ngừa một loạt các bệnh không thông thường lắm nhưng rất nghiên
trọng, gây thương tổn hệ thần kinh và các cơ, giáo sư Patrick Chinnery,
nhà di truyền thần kinh đã giải thích như vậy.Trong nhiều trường hợp,
các bệnh này “gây chết người và không thể điều trị được. Mục đích là phát
triển những phương cách để tránh cho các bệnh di truyền này được truyền
từ mẹ sang con”. Nhà khoa học nhấn mạnh rằng trẻ sơ sinh phát xuất từ
một phôi thai như thế sẽ chỉ kế thừa những đặc điểm của ông cha và bà
mẹ, và rằng các thể hạt được ghép từ một người đàn bà khác sẽ không có
một hậu quả nào lên cá tính hay hình dáng bên ngoài của trẻ .
Việc thay thế các thể hạt bị hỏng có thể trở nên một công việc thường
tình được thực hiện vào lúc thụ thai in vitro, nhà khoa học đã nhấn mạnh
như thế. Tuy nhiên hiện nay chúng ta chưa đến trình độ đó.
Gosephine Quintavelle, hội viên của nhóm gây sức ép Comment on Reproductive
Ethics, antiavortement và bảo vệ «quyền sống», đã tố cáo các công trình
nghiên cứu này, "cho rằng đó là một bước tiến rất liều lĩnh và nguy
hiểm và rằng các nhà nghiên cứu đã lao mình vào trong cuộc thí nghiệm
lên con người ” Nguồn: (LE FIGARO 6/2/2008)
9/ THAI
NGHÉN VÀ NGUY CƠ BỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Một công trình nghiên cứu được công
bố trên tap chí Diabetes xác nhận rằng, đúng là sự hiện diện của chứng
đái đường lúc thai nghén (diabète gestationel) đã làm gia tăng nguy cơ
phát triển về sau này bệnh đái đường loại 2 chứ không phải chỉ sự việc
đã có một hay nhiều thai nghén làm gia tăng nguy cơ này.
Trong văn liệu, các dữ kiện về các tác dụng của thai nghén lên sự xuất
hiện sau này bệnh đái đường loại 2 không được thống nhất. Điều này có
lẽ là do sự kiện rằng, trong các nghiên cứu dịch tể học phân tích yếu
tố nguy cơ này (thai nghén), cả các nồng độ đường trong máu trước khi
có thai lẫn tỷ lệ tình trạng không dung nạp glucose (intolérance au glucose)
đã không được biết đến. Như vậy, nếu các phụ nữ phát triển một chứng đái
đường lúc thai nghén có một nguy cơ cao phát triển bệnh đái đường loại
hai, thì ngược lại, nơi các phụ nữ có nồng độ glucose bình thường trước
khi có thai, người ta không biết việc đã có một hay nhiều con, có đặt
họ vào một mối nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại 2 về sau này hay
không. Các tác giả đã theo dõi trong vòng 20 năm, 2408 phụ nữ tuổi từ
18 đến 30, không bị bệnh đái đường trước khi có thai.Trên cơ sở quá trình
theo dõi này, người ta đã không ghi nhận một gia tăng nguy cơ mắc phải
bệnh đái đường loại 2 nơi các phụ nữ có nồng độ glucose trong máu bình
thường. Trái lại, nguy cơ này được nhân lên gấp 4 trong trường hợp có
bệnh đái đường lúc thai nghén (diabète gestationel). Vậy đúng là việc
xuất hiện bệnh đái đường lúc thai nghén đã mang lại nguy cơ cao nhất phát
triển bệnh đái đường, độc lập với tiền sử gia đình về bệnh đái đường,
nồng độ glucose trong máu và chứng béo phì trước khi có thai. Nguồn:
(LE GENERALISTE 7/2/2008)
10/ THUỐC
LÁ SẼ GIẾT CHẾT MỘT TỶ NGƯỜI.
GENÈVE. Thuốc lá là nguyên nhân
của 5,4 triệu người chết mỗi năm trên thế giới. Trung bình cứ mỗi sáu
giây có một người chết vì thuốc lá. Nếu trận dịch này tiếp tục được theo
đuổi, thì đến cuối thế kỷ này sẽ có 1 tỷ người chết, Tổ Chức Y Tế Thế
Giới đã xác nhận hôm qua như vậy.
Tổ Chức Y Tế Thế Giới yêu cầu tất cả các nước hãy nỗ lực nhiều hơn trong
công cuộc chống thuốc lá. Thật vậy, không có một chính phủ nào trên thế
giới đã thông qua tổng thể các biện pháp đã được khuyến nghị để chống
lại tai ương này, cơ quan Liên Hiệp Quốc trong báo cáo đầu tiên về việc
tiêu thụ thuốc lá và các cố gắng bài trừ trên thế giới đã xác nhận như
thế. Theo điều tra được thực hiện bởi OMS, chỉ 5% dân số thế giới sống
trong một quốc gia có một chiến lược chống thuốc lá được thiết lập. Chính
trong những nước có lợi tức thấp là nơi việc tiêu thụ thuốc lá gia tăng
nhất. Hiện nay, trong 74 nước của Liên Hiệp Quốc, đặc biệt vẫn còn cho
phép hút thuốc trong các bệnh viện và các trường học. Chỉ 6% dân số thế
giới sống trong một nước đòi hỏi phải dán những lời cảnh cáo lên các bao
thuốc lá mà thôi. Thuốc lá là một yếu tố nguy cơ (facteur de risque) của
6 trong 10 nguyên nhân chính gây tử vong trên thế giới: các bệnh tim,
các cơn đột qụy (attaques cérébrales), những bệnh nhiễm trùng đường hô
hấp, lao phổi, các ung thư phổi, cuống phổi và khí quản. «Bởi vì có một
khoảng thời gian tiềm tàng giữa lúc một người đã bắt đầu hút thuốc và
các hậu quả đối với sức khỏe của anh ta, nên trận dịch chỉ mới bắt đầu».
Trận dịch có thể gây tử vong cho 8 triệu người từ nay đến 2030, trong
đó 80% xảy ra trong các nước đang phát triển», OMS đã cảnh báo như vậy.
Cơ quan liên hiệp quốc ước tính rằng thuốc lá đã gây nên tử vong cho 100
triệu người trong thế kỷ vừa qua.Vào thế kỷ XXI, nếu khuynh hướng như
hiện nay vẫn còn tiếp tục, các chuyên viên tiên đoán rằng chứng nghiện
thuốc lá sẽ giết chết 1 tỷ người, hoặc 10 lần nhiều hơn. Hiện nay trên
thế giới có 1 tỷ người đang hút thuốc lá.Việc tiêu thụ thuốc lá vẫn tiếp
tục gia tăng trên thế giới, mặc dầu đã bắt đầu giảm đi trong các nước
công nghiệp hoá. Đặc biệt ở Pháp, chúng ta có cảm tưởng rằng công nghiệp
thuốc lá đã thua trận trước các pháp luật từ nay rất cấm đoán. Trên thực
tế, các nhà công nghiệp thuốc lá đã dự kiến một tiến triển như thế, nên
trong những năm vừa qua đã hướng về các nước đang phát triển. Công nghiệp
thuốc lá đã bỏ ra hàng chục tỷ dollars để quảng cáo và nhằm vào các nước
đang phát triển nhờ các chiến lược bán và vận động, vốn đã bị cấm đoán
ở các nước giàu có. Việc kích thích các phụ nữ và thanh niên hút thuốc
lá là một phần của những chiến lược này, cũng như việc gây các sức ép
lên các chính phủ để cản trở các hạn chế do luật phát và sự tăng thuế.
Chiến lược toàn cầu của công nghiệp thuốc lá nhằm vào các thanh niên và
những người lớn sống trong các nước đang phát triển là làm “ hàng triệu
người mỗi năm bị nghiện ngập chết người. Đặc biệt việc chọn các thanh
nữ làm mục tiêu được xem như là một trong những sự kiện nổi bật nhất đối
với quá trình tiến triển của trận dịch này”.
Gần 2/3 những người hút thuốc lá sống trong 10 nước: Trung Quốc (30% của
tổng số), Ấn Độ (10%), Nam Dương, Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ba Tây, Bangladesh,
Đức và Thổ Nhĩ kỳ. Trong hầu hết các vùng trên thế giới, sự tiêu thụ thuốc
lá phổ biến trong các dân nghèo hơn là ở những người giàu có. Theo OMS,
sự gia tăng thuế đánh vào thuốc lá sẽ là phương cách hiệu quả nhất để
làm giảm sự tiêu thụ và khuyến khích những người hút thuốc ngừng hút.
Nguồn: (METRO 8/2/2008) (LE FIGARO 9/2/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/2/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |