 |
Thời
Sự Y Học số 62
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY KHÔNG
PHẢI LÀ MỘT ĐỒ CHƠI.
Việc đem bán điện thoại cầm tay dành cho các thiếu niên từ 6-12 tuổi,
lại phát động trở lại cuộc luận chiến về tính độc hại của các sóng tần
số phóng xạ (ondes radiofréquences), nhất là ở các trẻ nhỏ tuổi nhất.
Một ngày nào đó chúng ta có sẽ thấy một ghi chú «có hại cho sức khỏe»
được dán vào các điện thoại cầm tay? Lời cảnh cáo mới đây của Bộ Y Tế
đối với việc sử dụng các điện thoại cầm tay, nhất là bởi các trẻ em, là
một nhắc nhở rõ ràng về nguyên tắc thận trọng. Một lập trường nhằm đáp
ứng với sự lên tiếng của nhiều hội đoàn, lấy làm bực tức vì sự thương
mãi hóa của một loại máy điện thoại cầm tay mới «được đơn giản hóa», Mo1,
dành cho các trẻ em từ 6 đến 12 tuổi và được bán trên Internet cũng như
trong vài cửa hàng… đồ chơi.
Từ nhiều năm nay, các nhà khoa học nghiên cứu về tính độc hại của các
sóng tần số phóng xạ được phát ra bởi các máy điện thoại và những máy
liên lạc vô tuyến khác.
«Các dữ kiện được phát hiện trên những người trưởng thành càng ngày càng
khẩn thiết», Giáo sư Denis Zmirou, thuộc đại học Nancy, ủy viên của hội
đồng khoa học của Cơ quan sức khỏe và các tần số phóng xạ, đã ghi nhận
như thế. Cách nay không lâu, sự tăng gấp đôi nguy cơ bị các khối u não
đã được phát hiện nơi những người trưởng thành bị « nghiện » (accros)
điện thoại cầm tay từ ít nhất mười năm nay.Theo một công trình rất mới,
được tiến hành trong 13 nước, bởi nhà nghiên cứu người Israel Sigal Sadetzki,
thì các tuyến nước bọt (glandes salivaires) cũng có thể là nơi xuất hiện
của các khối u khi điện thoại cầm tay được sử dụng trung bình hơn 22 giờ
mỗi tháng trong suốt nhiều năm.
Thế còn đối với các trẻ nhỏ thì sao? «Chúng tôi không có các dữ kiện và
chúng tôi chỉ có thể suy đoán từ các dữ kiện có được ở người trưởng thành.
Những công trình nghiên cứu hiếm hoi đã báo cáo rằng não bộ trẻ em hấp
thụ nhiều hơn các bức xạ. Dường như điều này là do hộp sọ của các trẻ
em có kích thước nhỏ nhất. Hơn nữa, chúng ta biết rằng nguy cơ gây ung
thư sẽ luôn luôn quan trọng hơn trên những tế bào đang phân chia», BS
Zmirou đã tuyên bố như thế.
Tuy nhiên, các mối nguy thật sự của điện thoại cầm tay vẫn khó có thể
làm rõ. Thật vậy, việc suy đoán các dữ kiện quan sát được trên người trưởng
thành lên trẻ em dường như là việc làm mạo hiểm, bởi vì trong nhóm này
thời gian tiềm tàng của các khối u có thể ngắn hơn. Ngoài ra, mặc dầu
đã thực hiện hàng chục thí nghiệm trên động vật hoặc tế bào, không ai
có thể giải thích được việc tiếp xúc với các sóng tần số phóng xạ của
điện thoại cầm tay sẽ gây nên một khối u như thế nào. Không có một tác
dụng độc tính lên gène nào đã được chứng minh và người ta đã không thành
công tạo nên các khối u ở động vật. Nhưng chúng ta cũng không thể chờ
đợi phải biết tất cả mọi điều rồi mới ra tay hành động, Giáo sư Zmirou
công nhận như thế.
Ở Anh Quốc, chuông báo động đã được rung lên năm 2005, bởi National Radiological
Protection Board, đánh giá rằng cha mẹ phải tránh cho các trẻ em dưới
8 tuổi sử dụng điện thoại cầm tay. Thế thì, theo như site của Criirem
(một hội đoàn độc lập khác) đã chủ xướng, đối với các trẻ dưới 15 tuổi,
cũng không được dùng điện thoại cầm tay hay sao? “Thay vì cấm đoán, tôi
chủ trương gởi một thông điệp mạnh mẽ đến các nhà chế tạo.Và cũng vậy
tôi chủ trương thông tin và giáo dục các bậc bố mẹ”, Denis Zmirou đã phát
biểu như vậy. Ở Pháp, 74% các trẻ em trên 12 tuổi sở hữu một điện thoại
cầm tay do các người lớn tặng cho.
Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 2/2008)
2/ NGỦ NGON ĐỂ NGĂN NGỪA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Để điều hoà nồng độ đường trong máu của quý vị, quý vị hãy ngủ tốt hơn!
Thật vậy, việc giảm chất lượng giấc ngủ dường như làm các tế bào giảm
hấp thụ đường và do đó làm gia tăng nguy cơ mắc phải bệnh đái đường loại
2 ( bệnh đái đường của người trưởng thành ). Các công trình nghiên cứu
trước đây đã chứng tỏ rằng việc giảm số lượng giấc ngủ có ảnh hưởng lên
sự điều hòa của chuyển hóa glucose. Công trình nghiên cứu được tiến hành
ở Trung tâm y tế của đại học Chicago (Hoa Kỳ) đã kết luận rằng chính chất
lượng giấc ngủ mới là quan trọng.
5 giai đoạn của giấc ngủ tạo nhịp cho các đêm trường của chúng ta gồm
có: sự thiu thiu ngủ (endormissement), giấc ngủ chậm và nông (sommeil
lent léger), giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond), giấc ngủ nghịch
lý (sommeil paradoxal) và sự thức giấc (éveil). Các giai đoạn này được
đặc trưng bởi các sóng não khác nhau ghi được bằng điện não đồ (électroencéphalogramme).
Vì nhu cầu của công trình nghiên cứu, 9 người trưởng thành trẻ tuổi đã
phải trải qua 3 đêm với giấc ngủ tồi, trong một phòng thí nghiệm về giấc
ngủ (laboratoire du sommeil). Ngay khi điện não đồ cho thấy những người
tình nguyện đang chuyển qua giai đoạn giấc ngủ sâu, thì các âm thanh được
phát ra để làm quấy rầy họ, với cường độ đủ để làm giảm thời gian giai
đoạn giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond) này chỉ còn 20 phút thay
vì 80 hoặc 100 phút như lúc bình thường, ở lứa tuổi của họ. Sáng hôm sau,
nồng độ glucose và insuline (hormone cho phép các tế bào hấp thụ đường)
trong máu của những người tình nguyện đã được đánh giá: nơi 8 trên 9 người
tình nguyện, nồng độ glucose trong máu đã gia tăng 23% trong khi đó nồng
độ insuline vẫn không thay đổi ! Như vậy, cơ thể của những người này đã
trở nên ít nhạy cảm hơn đối với insuline. Theo các tác giả; những điều
được quan sát này giải thích các rối loạn chuyển hóa thường xảy ra ở các
người già, là những đối tượng mà chất lượng của giấc ngủ có khuynh hướng
giảm khi tuổi tác gia tăng. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR
2/2008)
3/ MỘT VACCIN CHỐNG LẠI CĂN BỆNH DO HÔN
HÍT (MALADIE DU BAISER)
“Hãy ôm hôn những ai mà bạn muốn”, đó là lời của một bài hát. Nhưng mà
làm vậy không phải là không có nguy cơ mắc phải bệnh tăng bạch cầu đơn
nhân nhiễm khuẩn (mononucléose infectieuse), căn bệnh gây nên do sự hôn
hít (maladie du baiser), một nhóm nghiên cứu của Université catholique
de Louvain (UCL) đã nói thêm vào như vậy. Theo những kết quả được công
bố trong Journal of Infectious Diseases, các nhà nghiên cứu người Bỉ đã
thành công chế biến một thuốc chủng chống lại virus Epstein-Barr, là siêu
vi trùng được lây truyền bằng nước miếng và có bà con với các siêu vi
trùng gây bệnh thủy đậu (varicelle) và herpès. Nhắm vào glycoprotéine
350, một protéine giúp cho virus có thể đi vào hệ miễn dịch được dễ dàng,
vaccin với 3 mũi tiêm đã được trắc nghiệm nơi 181 người tình nguyện, đối
chiếu với placebo.
Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (mononucléose infectieuse), thường
là lành tính, được biểu hiện bởi sốt, sưng hạch và viêm họng. Bệnh thường
bị mắc phải trong thời thơ ấu, nhưng do tiến bộ của phép vệ sinh phòng
ngừa, việc tiếp xúc với tác nhân gây bệnh xảy ra ngày càng muộn hơn. Nếu
ở trẻ em, một miễn dịch tự nhiên có được do sự tiếp xúc với virus này,
thì không phải như thế đối với những người già hoặc những người bị suy
giảm miễn dịch. Đối với những đối tượng này, vaccin có thể rất hữu ích.
Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 2/2008)
4/ NHỮNG THƯƠNG TỔN KHÔNG THẤY ĐƯỢC DO SỨC
NỔ CỦA BOM ĐẠN LÊN NÃO BỘ
Suốt trong trận chiến vùng Balkan năm 1990, Ibolja Cernak, BS chuyên khoa
thần kinh thuộc bệnh viện quân sự Belgrade, đã phải đối diện với một bí
ẩn: Bà thấy các quân nhân bị các rối loạn về trí nhớ, bị chóng mặt, bị
những vấn đề về diễn đạt, nhưng lại không mang dấu vết của một vết thương
nào. Một trong các người lính này, tuổi 19, đã đến một cửa hàng gia vị
rồi bật khóc nức nở, vì không biết làm thế nào để tìm đường trở về lại
nhà. Khi bà mẹ của anh ta dẫn anh ta đến bệnh viện vài ngày sau đó, Ibolja
Cernak đã khám phá một điểm chung cho tất cả các trường hợp thuộc loại
này: Cậu thanh niên này, cũng như những người khác đều đã sống sót sau
một trận nổ có cường độ mạnh trong lúc giao tranh. Và điều lạ lùng là
hầu hết không ai bị thương ở đầu cả.
Tuy vậy, khi bà thực hiện chụp hình ảnh bằng tomographie hoặc bằng IRM,
bà đã thấy được những dấu hiệu của các thương tổn.Trong vài trường hợp,
các não thất (ventricules) của não bộ trở nên lớn ra hoặc có dấu vết của
một xuất huyết nhẹ. Trong các tài liệu y học được tham khảo, Cernak đã
không tìm thấy được một bài viết nào về chủ đề này cả. Người ta chỉ nói
rõ rằng các làn sóng va chạm (ondes de choc) của một vụ nổ có thể gây
tổn hại lên các cơ quan rỗng chứa đầy không khí như phổi và ruột, chứ
không phải là não bộ.
Nếu bà là thầy thuốc của Đệ Nhất Thế Chiến, Cernak đã tâm sự như vậy,
thì có lẽ bà sẽ nhận biết loại chấn thương này nơi hàng ngàn binh lính
bị cái điều mà hồi đó đã gọi là shellshock hay choc d’obus (sốc do đạn
súng cối). Các bác sĩ và các sĩ quan lúc đó đã xem hiện tượng này như
là một hiện tượng tâm lý tạm thời, theo họ, chỉ có tác động lên các binh
sĩ có trạng thái tâm thần vốn yếu ớt hơn. Nhưng thực tế được khám phá
bởi nữ bác sĩ chuyên khoa thần kinh này lại khác hẳn : những hiện tượng
tâm lý này dường như là do những biến đổi vật lý dài lâu trong não bộ.
Để chứng tỏ điều đó, năm 1999 bà đã tiến hành một công trình nghiên cứu
nơi 1.300 binh lính bị thương ở phần thấp của cơ thể, nhưng không phải
ở đầu. Một nửa trong số các binh sĩ này đã bị thương vào lúc xảy ra một
trận nổ (une explosion), còn những người khác thì bị thương do đạn bắn
(un projectile). Trong số những người thuộc nhóm đầu, nhiều người bị mất
ngủ, chóng mặt và mất trí nhớ. Cũng trong nhóm này, 36% trong số các nạn
nhân đã cho thấy một điện não đồ (électroencéphalogramme) không bình thuờng
trong 3 ngày theo sau chấn thương, so với 12% trong nhóm thứ hai. Một
năm sau, điện não đồ không bình thường vẫn còn nơi 30% trong số các nạn
nhân thuộc nhóm thứ nhất, so với chỉ 4% thuộc nhóm thứ hai.
Cùng với những nhóm nghiên cứu khác ở Belgrade, ở Trung Quốc và Thụy Điển,
Cernak đã thực hiện những nghiên cứu trên động vật: các công trình nghiên
cứu này xác nhận rằng các làn sóng nổ (onde de déflagration) có thể gây
thương tổn lên các tế bào thần kinh. Các công trình này vẫn không được
chú ý đến cho mãi đến năm 2006, là lúc hàng trăm binh lính Hoa Kỳ và Anh
Quốc đã trở về từ Irak với những triệu chứng tương tự như những triệu
chứng của các bệnh nhân của bà Cernak. Các bẫy mìn được đặt trên các đường
lộ đã trở nên thường xuyên hơn và các bác sĩ quân y đã nghĩ rằng những
triệu chứng này là do một chấn thương nhẹ của não bộ. Cernak, từ nay làm
việc ở Johns Hopkins University ở tiểu bang Maryland, đã thấy rằng những
quan sát của bà từ nay đã được công nhận .
Theo bà, các làn sóng va chạm (ondes de choc) sau trận nổ được lan truyền
xuyên qua các mạch máu của lồng ngực lên não bộ và đã để lại ở đấy những
dấu vết thương tổn thần kinh; các thương tổn này cần đến thời gian dài
lâu mới xuất hiện.Trong trường hợp này, việc đội mũ sắt sẽ chẳng có ích
lợi gì nhiều. Các công trình nghiên cứu trên chuột được cho tiếp xúc với
các sóng va chạm, đã gợi cho bà kịch bản này: mặc dầu được bảo vệ bởi
các lá thép, các làn sóng va chạm vẫn gây những biến đổi của mô não bên
trong. “Bà Cernak đã là một người tiền phong trong lãnh vực này, John
Povlishock thuộc Virginia Commonwealth University ở Richmond đã đánh giá
như vậy. Chủ đề này có một ý nghĩa rất to lớn về kinh tế, quân sự và xã
hội, nhưng mãi đến hôm nay vẫn rất ít được nghiên cứu đến”.
CHIẾC HỘP PANDORE
Từ đó, vấn đề tìm biết các làn sóng nổ ảnh hưởng như thế nào lên não bộ
dần dần trở thành ưu tiên trong quân y. Mùa hè năm qua, Quốc Hội Hoa Kỳ
đã cấp 150 triệu dollars cho Bộ Quốc Phòng, dành cho năm đầu nghiên cứu
về chủ đề này. Một chương trình để tìm hiểu chấn thương gây nên bởi các
làn sóng va chạm, nhiệt và bức xạ điện từ phát sinh do các trận nổ, đã
được khởi động bởi Defense Advanced Research Projects Agency. Một cơ quan
nghiên cứu khác, chuyên môn trong các chấn thương nhẹ của não bộ, DVBIC,
đã nhận một tài trợ 14 triệu dollars mỗi năm. Theo cơ quan này, 10 đến
20% các binh sĩ phục vụ ở Irak và ở Afganistan đã bị các chấn thương thuộc
loại này, dưới dạng này hoặc dạng khác. Bảng thống kê vừa qua cho thấy
rằng gần 25.000 trong số các binh sĩ này đã là nạn nhân của những chấn
thương thuộc loại này. Đã có chỉ thị cho tất cả các bệnh viện dành cho
các cựu chiến binh là phải tìm kiếm một cách có hệ thống các chấn thương
nhẹ của não bộ nơi những người đến bệnh viện khám.
Sự việc do tiếp xúc một trận nổ mà có thể gây nên những tổn hại dài lâu
nơi não bộ đã mở chiếc hộp Pandore, đặc biệt là đối với các cựu chiến
binh lớn tuổi hơn. Bởi vì điều này hàm ý rằng một vài người có thể bị
các thương tổn thần kinh đã không được chẩn đoán hoặc đã bị lẫn lộn với
một hợp chứng căng thẳng sau chấn thương (syndrome de stress posttraumatique).
Thật vậy, từ khi chính phủ bắt đầu đưa ra các thông tin về loại chấn thương
này, các cựu chiến binh tìm kiếm một điều trị cho những vấn đề tâm thần
mà vài người đã có từ nhiều thập niên qua. “Có thể các chấn thương gây
nên do các trận nổ sẽ tiếp nối “chất độc màu da cam” hoặc “hợp chứng chiến
tranh vùng vịnh”, David Trudeau, một bác sĩ chuyên khoa tâm thần phụ trách
các cựu chiến binh, đã chỉ rõ như vậy.
Cernak đã nhận được nhiều thư và điện thoại của các cựu chiến binh cám
ơn bà về công trình mà bà đã thực hiện. “Các binh lính là một trong những
nhóm người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới, và giúp đỡ họ là một nghĩa
vụ đạo đức”, bà Cerna đã phát biểu như thế. Nguồn: (LE
FIGARO 28/1/2008)
5/ CHEWING-GUM VÀ NHỮNG TRƯỜNG HỢP SỤT CÂN
NGHIÊM TRỌNG
Các thầy thuốc ở Berlin báo cáo hai trường hợp ỉa chảy mãn tính và sụt
cân quan trọng nơi hai bệnh nhân đã phải chịu nhiều xét nghiệm thăm dò
nhưng không phát hiện ra gì cả, ngoại trừ sự hiện diện của những lượng
quan trọng sodium và potassium trong phân. Bệnh nhân đầu tiên, một phụ
nữ 21 tuổi, từ 8 tháng nay bị tiêu chảy và đau bụng không định vị rõ ràng.
Cô ta mất 11kg thể trọng và cân nặng 40,8 kg lúc nhập viện. Người kia
là một người đàn ông 46 tuổi đã sụt mất 22kg trong vòng 1 năm. Cuối cùng
các chuyên gia đã xác lập được chẩn đoán sau khi đã đánh giá chính xác
về các thói quen ăn uống của những người này. Các vị thầy thuốc đã nhận
thấy rằng hai bệnh nhân này đã hấp thụ đều đặn sorbitol. Cô thanh nữ tiêu
thụ mỗi ngày một số lượng khoảng 18 đến 20g của chất làm dịu vị (édulcorant)
chứa sorbitol, hoặc khoảng 15 cái kẹo cao su (chewing-gum) mỗi ngày. Còn
về người đàn ông, thì ra anh ta đã nhai 20 cái kẹo cao su mỗi ngày và
rằng anh ta đã ngốn đến 200g chất ngọt có chất làm dịu vị (édulcorant),
hoặc tổng cộng khoảng 30g sorbitol. Sau khi ngừng việc tiêu thụ chewing-gum,
mọi việc đâu đã trở vào lại đó. Nguồn: (LE JOURNAL
DU MEDECIN 25/1/2008)
6/ CÁCH NAY 500.000 NĂM, LOÀI NGƯỜI ĐÃ BỊ
BỆNH LAO
Một mẫu Homo Erectus, cách nầy 500.000 năm, mang dấu vết những thương
tổn của bệnh lao dạng màng não, đã được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mãi đến
tận bây giờ, những trường hợp xưa cổ nhất được biết đến (các xác ướp Ai
Cập và Pérou) có cách nay vài ngàn năm. Khám phá này là kết quả của một
công trình nghiên cứu di truyền học được tiến hành năm 2005 bởi Cristina
Gutierrez (Viện Pasteur, Paris). Công trình nghiên cứu này gợi ý rằng
tất cả các vi khuẩn Koch đều là hậu duệ của một tổ tiên chung có cách
nay 3 triệu năm. Đối với John Kappelman (đại học Texas), việc nhận diện
các dấu vết của dạng màng não của bệnh lao trên những phần còn lại của
hộp sọ (bình thường là rất hiếm xảy ra) hàm ý rằng vào thời đó dạng bệnh
này rất là phổ biến. Nhà nghiên cứu giải thích điều đó là do một sự thiếu
hụt vitamine D, sinh tố chủ chốt trong sự điều hòa của hệ miễn dịch :
các nồng độ thấp vitamine D làm dễ sự phát triển của nhiều bệnh lý. Thế
mà sự tổng hợp vitamine D lại cần đến tia tử ngoại và điều này càng quan
trọng khi da càng sẫm màu. Sau khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ở châu
Phi, Homo Erectus (mà da khi đó có màu đen) đã không có thể thích ứng
hoàn toàn với khí hậu ôn đới. Mặt khác, người ta đánh giá rằng hiện nay,
một vài sắc dân có da sẫm màu có nhiều nguy cơ phát triển bệnh lao hơn.
Ngày xưa, người ta gởi các bệnh nhân lao đến các nhà điều dưỡng (sanatorium)
để được tiếp đầy trở lại ánh sáng mặt trời và khí trời, và do đó vitamine
D. Nguồn: (SCIENCE ET VIE 2/2008)
7/ CÁC THIỆT HẠI GÂY NÊN BỞI CÁC CÔ NHI
VIỆN
Việc đưa các trẻ vào ở lâu dài trong các cô nhi viện sẽ cản trở sự phát
triễn về mặt nhận thức (développement cognitif) của các trẻ em này. Đó
là kết luận của một công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi một nhóm
các nhà nghiên cứu người Mỹ, nơi 136 trẻ em Ru-ma-ni sống từ lúc sinh
ra đời trong các cô nhi viện của Bucarest. 68 trẻ trong số 136 trẻ em
này, tuổi trung bình 21 tháng, đã được chọn bằng cách rút thăm và được
chuyển đến sống trong những gia đình nhận nuôi, còn những trẻ khác vẫn
ở lại viện mồ côi. Các nhà tâm lý học sau đó đã cho các trẻ mồ côi của
hai nhóm này, cho đến tuổi 54 tháng, chịu một loạt các trắc nghiệm. Kết
quả : ngay ở tuổi 42 tháng, các hiệu năng nhận thức và vận động của các
trẻ mồ côi trong các gia đình nhận nuôi cao hơn so với các trẻ sống trong
các cô nhi viện. Theo công trình nghiên cứu, việc chuyển đến sống ở các
gia đình nhận nuôi càng có lợi khi việc này được thực hiện trước khi trẻ
được 2 tuổi. Điều này gợi ý có một thời kỳ quyết định (période critique)
trong sự phát triển trí thông minh của trẻ em. Nguồn: (LA
RECHERCHE 2/2008 )
8/ CÁC TRƯỜNG HỢP UNG THƯ SẼ TĂNG GẤP ĐÔI
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
Trong 10 năm sắp đến, 84 triệu người sẽ có nguy cơ chết vì một bệnh ung
thư, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (OMS) và Cơ Quan nguyên tử năng quốc tế (AIEA)
hôm qua đã cảnh cáo như vậy. Các trường hợp ung thư có nguy cơ tăng gấp
đôi trong 12 năm.
Nhân một cuộc hội thảo chuyên đề được tổ chức ở Genève, 2 tổ chức quốc
tế đã rung chuông báo động. “ Trận dịch các trường hợp ung thư sẽ gia
tốc trong các nước đang phát triển, chủ tịch của chương trình hành động
cho liệu pháp ung thư của AIEA, Massoud Samiei đã cảnh báo như vậy. Theo
OMS, 7,6 triệu người đã chết vì một ung thư năm 2005. Ung thư chịu trách
nhiệm 12,5% những trường hợp tử vong trên thế giới, hoặc hơn cả sida,
lao và sốt rét cộng lại.
Vào năm 2020 sẽ có ít nhất 15 triệu người có nguy cơ chết vì một ung thư,
nếu từ nay đến đó không thực hiện một biện pháp nào hết, các chuyên gia,
trong đó có chủ tịch của hội liên hiệp quốc tế chống ung thư, giáo sư
Franco Cavalli, đã cảnh báo như vậy.Trong mười năm đến sẽ có khoảng 70%
các trường hợp ung thư mới xảy ra trong các nước đang phát triển.
“Việc chẩn đoán một ung thư không được giải thích như là một bản án tử
hình. Khi bệnh được phát hiện và được điều trị một cách có hiệu quả, 1/3
các trường hợp ung thư có thể được ngăn ngừa và 1/3 các trường hợp khác
có thể được chữa lành ”, viên hữu trách của AIEA đã nhấn mạnh như vậy.
Nhưng việc thiếu nguồn vốn và các cơ sở hạ tầng đã ngăn cản hàng triệu
người không được tiếp cận với chẩn đoán phát hiện, với điều trị và với
điều trị làm giảm tạm thời (traitement palliatif) trong các nước có lợi
tức thấp.
Nguồn tài chánh cần cho phóng xạ trị liệu rất thiếu trong các nước đang
phát triển. AIEA ước tính tiền đầu tư bổ sung cần thiết trong các năm
đến ở các nước này là 1 tỉ dollars. Phóng xạ trị liệu, được sử dụng thành
công trên 50% các bệnh nhân ung thư trên thế giới, nhung chỉ được dùng
nơi 21 trong số 53 nước châu Phi, tức 20% dân số của lục địa này. Nguồn:
(METRO 29/1/2008)
9/ BỆNH TRỨNG CÁ ( ACNE) THỂ NẶNG VÀ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ gợi ý sự hiện diện của một mối liên
hệ khả dĩ giữa chứng bệnh trứng cá thể nặng (acné sévère) và bệnh ung
thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate). Siobhan Sutcliffe (Baltimore)
và các cộng sự viên đã chứng minh sự hiện diện của Propionibacterium acnes,
vi khuẩn liên kết với bệnh trứng cá, nơi 1/3 các mô tuyến tiền liệt của
các bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến. Người ta cũng nhận thấy rằng
các mô trong đó các vi khuẩn này được tìm thấy, có các dấu chứng viêm
nhiều hơn là các mô tiền liệt tuyến không có sự hiện diện của các vi khuẩn
này. Họ đã nghiên cứu mối liên hệ khả dĩ giữa bệnh trứng cá thể nặng (được
xác định là nặng khi bệnh nhân đã phải sử dụng tétracyclines để điều trị
trong một thời kỳ ít nhất 4 năm) và ung thư của tuyến tiền liệt trong
Health Professionals Folow-up Study. Các tác giả đã xác nhận rằng những
người có tiền sử bệnh trứng cá thể nặng, có một nguy cơ gia tăng rõ rệt
phát triển một ung thư tiền liệt tuyến về sau này. Tuy nhiên, Sutcliffe
nhấn mạnh rằng không nên từ đó rút ra các kết luận vội vàng. Thật vậy
số bệnh nhân được đưa vào trong công trình nghiên cứu này và đã tiêu thụ
tétracyclines trong 4 năm là rất thấp (khoảng 0,5% trong số 34.629 người
được tuyển mộ trong công trình nghiên cứu). Dầu thế nào đi nữa, cần phải
có các nghiên cứu sâu hơn để kiểm tra sự hiện diện của mối liên kết này.
Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 29/1/2008)
10/ VIỆC CHO BÚ SỬA MẸ BẢO VỆ CÁC TRẺ SƠ
SINH CHỐNG LẠI BỆNH HEN PHẾ QUẢN
Một công trình nghiên cứu của Pháp đã mang lại một bằng chứng miễn dịch
học đầu tiên giải thích tại sao việc cho bú sữa mẹ sẽ có tác dụng bảo
vệ đối với bệnh hen phế quản, căn bệnh đang gia tăng một cách đều đặn.
Các dị ứng nguyên được thở vào bởi người mẹ trong khi cho con bú sẽ làm
cho trẻ đề kháng hơn với bệnh hen phế quản trẻ em.
Các nhà nghiên cứu của Đơn vị Inserm 924 de Sophia-Antipolis (Nice), vừa
chứng minh các cơ chế giải thích sự bảo vệ chống lại bệnh hen phế quản
do việc bú sửa mẹ mang lại. Bệnh hen phế quản là kết quả của một đáp ứng
miễn dịch không thích ứng, chống lại các chất gây dị ứng trong không khí.
Công trình nghiên cứu này được công bố bởi nhóm nghiên cứu của Valérie
Verhasselt và Valérie Julia trong Nature Medicine on-line.
Bệnh hen phế quản là một bệnh đang gia tăng đều đặn, do nhiều biến đổi
trong môi trường sống của chúng ta : sự ô nhiễm, sự tiến triển của cách
ăn uống của chúng ta, việc tiếp xúc với các tác nhân nhiễm trùng và với
thuốc lá.
Gần 3,5 triệu người Pháp, trong đó 10% đến 12% là các trẻ em, lên các
cơn hen gây khó thở thở vào và nhất là khó thở không khí ra từ các lá
phổi. Các cơn hen này là hậu quả của một đáp ứng miễn dịch không thích
ứng đối với nhiều chất khác nhau (phấn hoa, bụi gỗ, khói thuốc lá, bụi
nhà, bột ), đóng vai trò những dị ứng nguyên (allergènes).
Ngoài ra, theo các công trình nghiên cứu khác nhau, việc tiếp xúc với
vài yếu tố môi trường nơi trẻ em có tính quyết định trong sự phát triển
bệnh hen.
Mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu gợi ý một vai trò bảo vệ của việc
cho bú sửa mẹ lên sự phát triển các bệnh dị ứng, nhưng các cơ chế là nguồn
gốc của sự bảo vệ này vẫn chưa được làm sáng tỏ. «Giả thuyết của công
trình của chúng tôi là như sau : khi một người mẹ cho bú, hít vào các
chất dị ứng nguyên, thì các chất này, cũng như trường hợp các thức ăn,
sẽ đi vào trong sữa và được truyền đến trẻ sơ sinh », các nhà khoa học
của đơn vị Inserm 924 đã giải thích như thế. « Đường truyền này có thể
đặc biệt hiệu quả vì làm cho trẻ trở nên dung nạp với dị ứng nguyên này,
vì lẽ chúng ta đã biết rằng trong sữa mẹ có sự hiện diện của nhiều chất
trung gian của hệ miễn dịch »
Để trắc nghiệm giả thuyết này, các con chuột cho bú, đã được cho tiếp
xúc với các dị ứng nguyên (allergènes) được khuếch tán trong không khí
qua trung gian của các khí dung (aérosol). Sau khi các chuột mẹ cho bú
đã được cho tiếp xúc với các chất gây dị ứng, các chú chuột nhỏ được tiếp
tục cho bú sữa một cách bình thường. 3-4 giờ sau, các phần tử dị ứng nguyên
do chuột mẹ thở vào, được tìm thấy trong sữa. “Chúng tôi đã quan sát rằng
một khi đã trở nên trưởng thành, các chú chuột nhỏ đã được cho bú bởi
các chuột mẹ đã thở vào các dị ứng nguyên, đã trở nên đề kháng với việc
phát sinh bệnh hen”, Valérie Verhasselt đã giải thích như vậy. Sự đáp
ứng dị ứng đã bị giảm đi 60 đến 80%, so với các chú chuột được cho bú
bởi các chuột mẹ đã không được cho tiếp xúc với các phần tử gây dị ứng.
NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA
Các nhà nghiên cứu giải thích tình trạng này là do sự hiện diện liên kết
trong sữa, của dị ứng nguyên và của một phân tử làm giảm miễn dịch TGF
bêta 1 ( bình thường có nhiều trong sữa mẹ, nhưng không có trong sữa nhân
tạo). TGF bêta 1 ngăn cản sự hoạt hóa của hệ miễn dịch và “làm dễ sự phát
triển của một tình trạng dung nạp”
Ngược lại, các kháng thể hiện diện trong sữa mẹ, được biết là bảo vệ các
trẻ em chống lại các bệnh nhiễm trùng, lại không có liên hệ trong việc
bảo vệ chống hen.Từ đó suy diễn các kết quả trên chuột lên người là điều
các nhà nghiên cứu vẫn còn thận trọng.
Mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận rằng các trẻ sơ sinh được
nuôi bằng sữa mẹ, sẽ ít bị viêm dạ dày ruột (gastro-entérite), viêm tai
hay viêm tiểu phế quản (bronchiolite) hơn, sẽ phát triển ít hơn bệnh chàm
dị ứng và bệnh đái đường phụ thuộc insulin (diabète insulino-dépendant)
nếu các em bé này thuộc vào trong một gia đình có nguy cơ. “Công trình
nghiên cứu này có thể cho phép xác định những chiến lược ngăn ngừa mới,
thí dụ bằng cách biến đổi các phương cách cho bú và chất lượng sữa nhân
tạo”, Valérie Verhasselt đã kết luận một cách thận trọng như thế. Nguồn:
(LE FIGARO 29/1/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/2/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |