 |
Thời
Sự Y Học Số 58
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ ELIZABETH BLACKWELL:
NGƯỜI PHỤ NỮ THẦY THUỐC ĐẦU TIÊN CỦA HOA KỲ
Một phần lớn của cuộc đấu tranh để các phụ nữ có quyền được vào nghề y
với tư cách là phụ nữ, đã bắt đầu ở Hoa Kỳ. Đây là một cuộc đấu tranh
cam go mà câu chuyện sau đây về người là người phụ nữ Hoa Kỳ đầu tiên
giành được văn bằng bác sĩ y khoa, chứng tỏ điều đó.
Elizabeth Blackwell là đứa con gái thứ ba của một gia đình có 9 người
con, sinh ở Bristol tại Anh Cát Lợi năm 1821. Cha cô, Samuel Blackwell,
chủ nhà máy tinh chế đường, di cư qua Hoa Kỳ năm 1832, bởi vì công việc
làm ăn của ông không tiến triển được tốt và cũng bởi vì ông mong muốn
đấu tranh chống lại chế độ nô lệ. Samuel mất năm 1838, để lại gia đình
trong một tình cảnh khó khăn. Elizabeth, vốn thích dạy học, cùng với hai
cô em gái mở một ngôi trường tư thục để chu cấp cho nhu cầu của gia đình.
TỪ GHÊ TỞM ĐẾN THIÊN HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
Elizabeth chẳng bị lôi cuốn bởi nghề nghiệp y khoa một chút nào cả. Cô
đã viết trong tiểu sử của mình như sau: «Tôi ghét tất cả những gì liên
quan đến thân thể con người, và tôi không chịu nỗi khi phải nhìn một cuốn
sách y khoa». Ham mê môn lịch sử và siêu hình học, cô thích nghành sư
phạm hơn cả, nghề nghiệp mà cô đánh giá là thích nghi nhiều hơn đối với
một phụ nữ.
Nhưng một hôm, một người bạn gái, trong khi chết vì bệnh ung thư, đã bày
tỏ với cô sự tiếc nuối đã không có thể được chăm sóc bởi một thầy thuốc
nữ, tin tưởng rằng nếu mà được như thế thì chắc sẽ tránh được nhiều đau
khổ hơn. Người bạn gái này đã thuyết phục được Elzabeth về sự cần thiết
phải có những thầy thuốc nữ. Thế là sau đó, Elizabeth đã chế ngự được
sự ghê tởm đối với ngành y và đã quyết định sẽ trở thành thầy thuốc
MỘT CHUYỆN TẦM PHÀO
Trở thành thầy thuốc ư? Ý tưởng thật là hay nhưng không thể thực hiện
được đâu, các thầy thuốc mà cô tìm hỏi đã tuyên bố với cô như thế. Trước
hết đó là ngành học tốn kém. Nhưng trở ngại về tài chánh không phải là
không có thể vượt qua. Elizabeth đi giảng dạy trong nhiều trường của nhiều
tiểu bang để kiếm đủ số tiền cần thiết cho công việc của mình.
Và rồi thì, trở ngại tầm cỡ là các phụ nữ không được quyền theo học y
khoa.
Nhưng điều đó càng làm tăng thêm quyết tâm của Elizabeth.
Trước hết cô bắt đầu học với các bạn của cô là các thầy thuốc nam, bởi
vì vào thời đó đi tập sự trước khi theo học chính thức là chuyện thường
tình. Được sự gởi gắm của các thầy dạy thực tập lâm sàng (maitre de stage),
cô bắt đầu đi khắp nơi để xin được cho ghi danh vào một trường y nào đó.
12 trường y chính thức và 17 trường không chính thức đã bác đơn xin ghi
danh học y khoa của cô.
Nhưng Elizabeth được sự ủng hộ của một người theo giáo phái Quaker, BS
Warrington, một tay cự phách của y học. Ông này đã đích thân gởi gắm cô
cho phân khoa Geneva trong tiểu bang Nữu Ước. Đây không phải là một trường
y chính thức và không tiếp nhận phụ nữ nhưng vì Elizabeth có “thân thế”
nên ban lãnh đạo không dám từ chối. Khi đó, các giáo sư, vì tin chắc rằng
các sinh viên nam sẽ không bao giờ chấp nhận để cho một phụ nữ học chung
với họ, nên đã đưa việc ghi danh của Elizabeth ra biểu quyết trước các
sinh viên này. Có lẽ cho rằng đó là một trò đùa, nên 500 sinh viên của
phân khoa đã bỏ phiếu “vâng” Do đó vào năm 1847, Elizabeth đã được chấp
nhận cho theo học một trường Y!
Vừa mới được dung nạp, Elizabeth đã trở nên đầu đề của những lời giỡn
cợt, tạo những cơ hội để người ta làm ầm lên; cô không tìm ra được nơi
để lưu trú bởi vì các chủ trọ không muốn tiếp cô, họ đuổi cô ra đường
... người ta muốn làm cho cô khốn khổ. Mặt khác, cô bị loại không được
tham gia vào những giờ thực hành ở bệnh viện.
Nhưng những khó khăn này đã không ngăn cản cô thành đạt. Vào năm 1849,
cô nhận được tước vị tiến sĩ y khoa, trở thành người phụ nữ đầu tiên của
khóa đào tạo y khoa và là người thầy thuốc nữ đầu tiên của Hoa Kỳ.
MỘT ĐÀO TẠO BỔ TÚC Ở CHÂU ÂU
Với mảnh bằng trong tay, BS Blackwell quyết định hoàn thiện việc đào tạo
của mình ở Pháp, trung tâm truyền bá y học vào thời kỳ đó. Nhưng các Phân
Khoa và Bệnh Viện không tiếp nhận bà. Tuy vậy bà có thể được nhận vào
trường Sản (école d’obstétrique) của Nhà Hộ Sinh Port Royal. Điều này
rất thuận tiện cho bà bởi vì mục tiêu của bà là săn sóc các phụ nữ. Có
cần thiết phải nói rõ rằng ở đó bà đã được chú ý và đánh giá bởi chất
lượng của công việc của mình không? Nhưng ở Nhà Hộ sinh, bà bị mắc phải
một bệnh viêm mắt mủ (ophtalmie purulente) từ một trẻ sơ sinh mà bà đã
chăm sóc. Trở nên mù một mắt, bà phải từ bỏ ước mơ trở thành nhà phẫu
thuật.
Vào năm 1850, bà làm việc ở St Bartholomew’s Hospital de Londres. Ở đó
bà kết thân với Florence Nightingale và Elizabeth Anderson. Elizabeth
Anderson sau đó sẽ theo gương của người bạn Mỹ để trở thành người thầy
thuốc nữ đầu tiên của Anh quốc.
NHỮNG BƯỚC ĐẦU KHÓ KHĂN Ở HOA KỲ VÀ MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG
HIẾM CÓ
Năm 1851, bà trở lại Nữu Ước, nơi đây các bệnh viện và bệnh xá từ chối
tuyển dụng bà và các thầy thuốc nam đều phớt lờ bà. Ngay cả việc mở phòng
mạch tư cũng là một thách thức bởi vì không một chủ nhân nào sẵn lòng
cho bà thuê phòng ốc. Năm 1853, bà mở một bệnh xá trong một căn phòng
có sẵn đồ đạc ở khu người nghèo của Nữu Ước, ở đây bà khám bệnh 3 lần
mỗi tuần. Cái bệnh xá bé nhỏ tạm bợ này là điểm khởi đầu của cái mà về
sau này sẽ trở thành New York Infirmary for women and children, nhờ tiền
trợ cấp của các bạn thuộc giáo phái Quaker của bà. Đồng sáng lập bệnh
xá này là Emily, em bà, cũng trở thành thầy thuốc sau một đoạn đường chiến
binh dài lâu, và một thầy thuốc nữ trẻ người Ba lan, Marie Zakrewska.
Các bài nói chuyện về vệ sinh, các chiến dịch phòng bệnh, việc tạo lập
một trung tâm y tế và đào tạo các nhân viên y tế để giáo dục y tế tại
gia, đó là bấy nhiêu hành động mà bà đã thực hiện để cải thiện tình trạng
sức khỏe của dân chúng. Chúng ta nhấn mạnh ở đây cuộc đấu tranh của Elizabeth
chống lại vài thói quen về ăn mặc như áo nịt (corset), là nguyên nhân
của nhiều vấn đề về sức khỏe nơi phụ nữ.
Trong chiến tranh Nam Bắc ( Guerre de Sécession), BS Blackwell thành lập
Woman’s Central Association of Relief nhằm đào tạo các nữ y tá để săn
sóc các nạn nhân của chiến tranh. Năm 1864, Infirmary Hospital de New
York (xuất phát từ New York Infirmary) được quyền cấp văn bằng y khoa.
Đây là trường y đầu tiên dành cho phụ nữ, được đào tạo bởi các phụ nữ.
Năm 1867, chị em Blackwell thành lập Women’s Medical College ở Nữu Ước.
Chính ở đây ghế giáo sư vệ sinh (chaire d’hygiène) đầu tiên của Hoa Kỳ
được tạo lập.
Năm 1869, Elizabeth lại đi Londres. Ở đây bà tham gia vào việc đào tạo
của National Health Society.
Năm 1875, Elizabeth Garrett Anderson đề nghị bà nhận ghế giáo sư phụ khoa
(chaire de gynécologie) của London School for Medicine for Women vừa mới
thành lập. Bà sẽ giữ tước vị này cho đến năm 1907. Sau đó, những vấn đề
sức khỏe đã buộc bà phải ngưng hành nghề: lúc đó bà đã 86 tuổi. Bà mất
năm 1910 ở Hastings, là nơi bà đã sống với cô con gái nuôi của mình.
Elizabeth Blackwell cũng đã xuất bản nhiều tác phẩm trong đó có Pionneer
Work in Opening the Medical Profession to Women (1895), trong tác phẩm
này bà thuật lại sự nghiệp của mình; Medicine as a profession for women
(1860) và Address on the medical education of women (1864), nói về quyền
của các phụ nữ được vào ngành y, cũng như những sách hướng dẫn về giáo
dục tình dục: The Laws of Life, with Special Reference to the Physical
Education of Girls (1852), The moral education of the young (1879). Nguồn:
(LA SEMAINE MEDICALE 13/12/2007)
2/ MỘT PHÉP ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CHO CÁC BỆNH
ỈA CHẢY THỂ NẶNG
«Trị liệu bằng phân» (thérapie fécale), trên cơ sở phân người, là một
phép trị liệu đang trên đà tiến triển. Sau Scandinavie vào đầu năm 2000,
đến lượt Bắc Mỹ đã sử dụng phương pháp này để điều trị các bệnh nhân bị
nhiễm trùng bởi Clostridium difficile. Vi khuẩn này bình thường hiện diện
một cách tự nhiên trong ruột của chúng ta, nhưng sẽ bắt đầu tăng sinh
khi các vi khuẩn “tốt ” trong ruột (đặc biệt có nhiệm vụ giúp đỡ chúng
ta tiêu hóa thức ăn), bị hủy diệt bởi một điều trị kháng sinh quá hung
hãn. Trong lúc tăng sinh, Clostridium difficile sản xuất một độc tố làm
thương tổn ruột non, gây nên ỉa chảy nặng, có thể dẫn đến tử vong. Ở Canada,
BS Tom Louie của Foothills Hospital, Calgary, trong tỉnh Alberta, đề nghị
từ nay dùng phương pháp trị liệu này. “Trị liệu bằng phân” nhằm ghép (transplanter),
qua thụt (lavement) vào ruột, một dung dịch muối trong đó đã được hoà
lẫn phân lấy từ những người thân thuộc. Như thế, sau khi đã được tái du
nhập vào ruột, các vi khuẩn “ tốt ” sẽ phục hồi các chức năng ruột của
bệnh nhân. Phép điều trị này mặc dầu còn bị tranh cãi, có hiệu quả 90%,
theo những người chủ xướng. Nguồn: (SCIENCE ET VIE
1/2008)
3/ U HẮC TỐ ( MELANOME) LÀ DO TÁC DỤNG CỦA
MỘT PROTEINE
Người ta hiểu rõ hơn vì sao một nốt ruồi (grain de beauté) lại trở thành
ung thư. Quá trình này liên hệ đến một protéine được gọi là b-caténine,
cho phép các tế bào trở thành bất tử, theo Véronique Delmas và Lionel
Larue ( Inserm-CNRS). Cần nhiều giai đoạn để các tế bào tạo thành một
u hắc tố. Sự biến dị của một vài loại gènes gây nên sự tăng sinh tạm thời
của các tế bào. Rồi sau đó các tế bào bắt đầu « ngủ » trong nhiều năm.
Nhưng đôi khi các tế bào này thức dậy và lần này chúng phân chia mãi mãi:
chúng trở thành bất tử.Thế mà, đó là do b-caténine, một protéine có tác
dụng phong tỏa sự hoạt động của gène p16. Gène này lúc bình thường có
nhiệm vụ điều hoà chu kỳ tế bào. Nguồn: (SCIENCE ET
VIE 1/2008)
4/ GIỜ CHẾT ĐƯỢC ĐỌC Ở ĐÁY MẮT
Việc xác lập giờ tử vong (l’heure du décès) của một nạn nhân thường là
tốn kém và phức tạp. TOD kit (time of death kit), một thiết bị xách tay
mới, có thể đơn giản hóa công việc của các nhà điều tra, theo lời những
nhà phát minh Torleiv Rognum (đại học Oslo) và Didrik Saugstad (Riks hospital
d’Oslo).
Thiết bị này xác định giờ tử vong bằng cách đo, trong nhãn cầu, nồng độ
hypoxanthine. Chất này tích tụ khi không có oxygène. Phương pháp này cho
phép đánh giá khá chính xác, mãi cho đến 4 ngày sau khi tử vong. Được
tưởng tượng vào đầu những năm 1990, thiết bị này mãi đến nay chỉ được
dùng trong phòng thí nghiệm. Dụng cụ này còn phải được thử nghiệm bởi
FBI và Scotland Yard. Nguồn: (SCIENCE ET VIE 1/2008)
5/ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1
VẪN CÒN GÂY TRANH CÃI
Tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 1 nơi trẻ em đã gần như tăng gấp đôi trong
vòng 20 năm qua ở Pháp. Tỷ lệ này đạt đến khoảng 15 trường hợp trên 100.000
trẻ em dưới 15 tuổi, theo báo cáo vừa rồi của Inserm/inVS. «Người ta đặc
biệt nhận thấy một sự xê dịch về một lứa tuổi càng ngày càng thấp, dưới
5 tuổi», Anne Fagot Campagna đã nhấn mạnh như thế. Bệnh đái đường loại
1 là do một sự phá hủy tự miễn dịch (une destruction auto-immune) của
những tế bào tụy tạng sản xuất insuline. Điều này xảy ra là do tác dụng
hỗ tương giữa yếu tố di truyền và môi trường; thế mà chỉ có môi trường
là có thể bị biến đổi trong 20 năm qua. Chế độ ăn uống và vệ sinh của
nhũ nhi đã bị nghi ngờ đến trong việc làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh này.
Những năm 1970 đã chứng kiến việc đưa các protéines sữa bò và ngũ cốc
hoàn toàn (céréales complètes) vào trong việc dinh dưỡng trẻ em. Việc
này đã liên kết với một gia tăng nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại
1. Mặt khác, vì quá bảo vệ các em bé khỏi bị vi khuẩn, chúng ta đã ngăn
cản sự trưởng thành của hệ miễn dịch của các em bé này. Nhưng đó chỉ là
giả thuyết. « Để hiểu rõ hơn sự can dự của những yếu tố môi trường này,
cần phải biết rõ hơn nữa về những cơ chế tế bào của bệnh đái đường loại
1», Claire Lévy-Marchal, tác giả của báo cáo đã giải thích như vậy. Nguồn:
(SCIENCE ET VIE 1/2008)
6/ MỘT GIẤC NGỦ BỊ RỐI LOẠN LÀM GIA TĂNG
NGUY CƠ BỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng nhận rằng một giấc ngủ bị rối loạn
sẽ làm suy yếu khả năng của cơ thể điều hòa nồng độ đường trong máu, do
đó có khả năng làm gia tăng nguy cơ phát triển một bệnh đái đường loại
2. Thí nghiệm đã được tiến hành trên 9 người tình nguyện, 5 đàn ông và
4 nữ. Cứ mỗi lần những người tham gia đi vào giấc ngủ sâu, các nhà khoa
học bắt đầu gây tiếng ồn để làm rối loạn giấc ngủ nhưng không làm họ thức
dậy hoàn toàn. Sau 3 ngày, khả năng điều chỉnh lượng đường nơi những người
tình nguyện sụt giảm 25 %.
Ngăn cản một người nào đó ngủ một giấc ngủ say (sommeil profond) sẽ làm
gia tăng nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường loại 2 nơi người đó. Thật vậy
khả năng của cơ thể điều hòa nồng độ đường sẽ giảm sau một buổi nghỉ ngơi
kém chất lượng. Đó là điều đuợc tiết lộ trong ấn bản on-line của Annales
de l’Académie Américaine des Sciences.
Giấc ngủ say, trong đó các cử động của cơ và nhãn cầu được thực hiện ở
mức tối thiểu, được biết là có tác dụng bồi sức nhất. Điều mà các nhà
nghiên cứu của Centre médical de Chicago đã quan sát là sau 3 đêm giấc
ngủ say bị hủy bỏ, các thanh niên tình nguyện trở nên ít nhạy cảm hơn
đối với insuline. Hormone này được tiết ra bởi tụy tạng và đóng một vài
trò quan trọng trong chuyển hóa của glucose. Lúc gắn vào các thụ thể (récepteur)
của tế bào, insuline cho phép đường từ máu vào trong các tế bào. Như vậy,
sau khi bị mất ngủ, các người tình nguyện phải cần nhiều insuline hơn
để có thể hấp thụ cùng một lượng đường vào các tế bào. Nhưng tụy tạng
lại không có thể tiết nhiều insuline hơn. Kết quả: quá nhiều đường trong
máu và một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh đái đường loại 2. Sự hạ thấp
tính nhạy cảm đối với insuline được quan sát lúc thí nghiệm, có thể được
so sánh với sự hạ thấp của tính nhạy cảm này lúc bệnh nhân tăng thể trọng
từ 9 đến 13 kg!
Trong khi các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng lượng giấc ngủ (quantité
du sommeil) là một yếu tố quan trọng cho một chuyển hóa tốt của glucose,
thì công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng chất lượng của giấc ngủ (qualité
du sommeil) cũng góp phần nhiều vào việc chuyển hóa này. «Việc giảm thời
gian của giấc ngủ say được liên kết với quá trình lão hóa và với những
vấn đề gặp phải trong chứng béo phì, Giáo sư Văn Cauter, một trong các
tác giả của công trình đã giải thích như vậy. Những kết quả của chúng
tôi gợi ý rằng việc thực hiện các chiến lược nhằm cải thiện chất lượng
và số lượng của giấc ngủ có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự xuất
hiện của bệnh đái đường loại 2 nơi những nhóm người có nguy cơ» Nguồn:
(METRO 2/1/2008) ( LE SOIR 2/1/2008)
7/ RƯỢU, YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA GÃY DO LOÃNG
XƯƠNG
BRUXELLES. Rượu là một trong những yếu tố nguy cơ có thể biến đổi được
(facteurs de risque modifiables) của bệnh loãng xương (ostéoporose), cũng
như chứng nghiện thuốc lá, thể trọng thấp, một chế độ ăn uống thiếu chất,
luyện tập thể dục không đầy đủ, thiếu calcium hay vitamine D và té ngã
thường xuyên.
Thật vậy, các công trình nghiên cứu được thực hiện ở Châu Âu, ở Bắc Mỹ
và ở Úc Đại Lợi chứng tỏ rằng uống trên 2 đơn vị alcool mỗi ngày (hoặc
20g/ngày) sẽ làm gia tăng nguy cơ gãy do loãng xương (fractures ostéoporotiques)
và gãy xương háng nơi đàn ông và phụ nữ, có lẽ do độc tính trực tiếp của
rượu lên các tạo cốt bào (ostéoblaste), là những tế bào cấu tạo các mô
xương.
Tiêu thụ hơn 4 đơn vị rượu mỗi ngày sẽ làm tăng gấp đôi, lên cả hai phái
tính, nguy cơ gãy xương háng. Rượu dường như có một tác dụng độc hại trực
tiếp lên xương, làm giảm mật độ khoáng của xương (densité minérale osseuse).
Trong số báo ra vừa rồi, Viện phòng ngừa và giáo dục y tế quốc gia nhắc
lại rằng các nguy cơ liên kết với rượu cũng có thể được quy cho những
tác dụng khác của rượu, như là sự thoái hóa của tình trạng sức khỏe chung,
đặc biệt là nơi những người già, và sự gia tăng nguy cơ té ngã.
Trên thế giới, ở những người trên 50 tuổi, một phụ nữ trên ba người và
một người đàn ông trên năm người, sẽ bị mắc phải chứng loãng xương (ostéoporose).
Đặc điểm của chứng loãng xương là sự giảm mật độ xương (densité osseuse)
và điều này là nguyên nhân của sự gia tăng tính dễ vỡ của xương (fragilité
osseuse). Gãy xương đốt sống ( fracture vertébrale) và gãy đầu trên xương
đùi (cổ xương đùi) là những biến chứng chính của căn bệnh loãng xương
thường xảy ra hơn nơi các phụ nữ trên 50 tuổi này; 50% các phụ nữ sẽ không
tìm lại được khả năng độc lập của mình sau khi bị gãy xương đùi. Nguồn:
(LE METRO 2/1/2008)
8/ MÁU KINH NGUYỆT CÓ THẾ SẢN XUẤT CÁC TẾ
BÀO GỐC
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Canada vừa nhận diện nơi phụ nữ một loại
mới các tế bào gốc hiện diện trong nội mạc tử cung (endomètre: niêm mạc
bao phủ mặt trong tử cung mà bề dày gia tăng mỗi tháng trước khi hành
kinh). Dòng tế bào gốc mới này, được gọi là ERC (Endometrial Regenerative
Cells) có nhiều lợi thế so với các tế bào gốc phát xuất từ một cuống rốn
hay từ tủy xương. Ngoài việc thu được dễ dàng, dòng tế bào gốc từ máu
kinh nguyệt sẽ tăng sinh nhanh chóng hơn và có thể được biệt hóa thành
9 loại tế bào. Với 5 ml máu kinh nguyệt, các nhà nghiên cứu đã thu được
sau 2 tuần lễ, các tế bào tim có khả năng co bóp, như thế chứng tỏ rằng
dòng tế bào gốc này có thể được cấy với quy mô lớn và nhanh chóng. Đây
là một bước tiến trong điều trị, bởi vì các tế bào gốc này có thể cho
phép thay thế các cơ quan bị thương tổn và đồng thời giới hạn được những
vấn đề thải bỏ do việc ghép cơ quan. Nguồn: (SCIENCE
ET VIE 1/2008)
9/ CÁC TẾ BÀO THAI NHI BẢO VỆ NGƯỜI MẸ CHỐNG
LẠI UNG THƯ
Nơi một vài phụ nữ có thai, các tế bào của thai nhi đi vào trong tuần
hoàn máu họ. Được dung nạp bởi hệ miễn dịch của người mẹ, các tế bào thai
nhi lưu lại ở đó trong nhiều năm, nhưng người ta không biết những gì sẽ
xảy ra sau đó đối với các tế bào này. Thế mà, hai thầy thuốc của trung
tâm nghiên cứu chống ung thư của đại học của tiểu bang Washington, ở Seattle,
nghĩ rằng những tế bào này đóng một vai trò che chở chống lại ung thư
vú. Các nhà nghiên cứu đã xem xét 60 người mẹ đã ( hoặc không) phát triển
một ung thư vú sau khi sinh.Trong số các phụ nữ bị một ung thư vú, chỉ
có 14% là đã nhận các tế bào thai nhi, so sánh với tỷ lệ 43% nơi những
phụ nữ không bị ung thư vú. Các thầy thuốc gợi ý rằng trong số những tế
bào thai nhi này, có những tế bào miễn dịch có khả năng nhận biết những
tế bào tiền ung thư và đã tiêu diệt chúng trước khi những tế bào này trở
thành hoạt động. Nguồn: (SCIENCE ET VIE 1/2008)
10/ CÁC EM BÉ ĐÃ BIẾT PHÂN BIỆT NGƯỜI TỐT
VỚI KẺ XẤU
Các em bé (bébé) ưa thích những người thân thiện hơn là những người thù
địch khi chúng quan sát hành vi của những người này đối với nhau! Chúng
ta đã biết rằng một em bé hiểu được những mối tương tác có tính chất xã
hội (interactions sociales): nó mong chờ một người nào đó thích một người
giúp đỡ anh ta hơn là ai đó cản trở anh ta. Kiley Hamlin và các đồng nghiệp
của Đaị Học Yale (Hoa Kỳ) đã muốn biết xem các em bé có khả năng tự mình
thực hiện sự phân biệt này hay không. Các nhà nghiên cứu đã cho các em
bé từ 6 đến 10 tháng xem một màn kịch nhỏ. Trong màn kịch này, một nhân
vật đầu tiên bằng gỗ giúp một nhân vật khác leo lên một ngọn đồi. Sau
đó các em bé được xem một màn kịch thứ hai, trong đó một nhân vật khác
làm té lộn xuống một người đang trèo lên đồi. Ý kiến của các em bé thật
rõ ràng: chúng thích chơi với nhân vật mà chúng đã nhận thấy là tử tế.
Hơn thế nữa, chúng thích một nhân vật tử tế hơn là một người có lập trường
trung lập và thích một người trung lập hơn là một kẻ thù địch. Như thế
điều này chứng tỏ khả năng của các em bé biết đánh giá các hành vi một
cách dương tính cũng như âm tính.Theo Hamlin, «sự nghiên cứu này có thể
chỉ ra tính chất bẩm sinh của các khả năng phán đoán, có lẽ bởi vì chúng
thiết yếu cho sự sinh tồn trong thế giới xã hội». Các nhà nghiên cứu đã
đang lập lại thí nghiệm này với các em bé 3 tháng. Nguồn: (SCIENCE
ET VIE 1/2008)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/1/2008)
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |