 |
Thời
Sự Y Học Số 57
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MADELEINE BRES-GEBELIN:
NGƯỜI PHỤ NỮ THẦY THUỐC ĐẦU TIÊN CỦA PHÁP
Madeleine, sinh năm 1842, là con gái của Ulysse Jean, một thợ đóng xe
ở Buoillargues (Gard). Ông này, trong lúc thực hiện các công việc ở bệnh
viện Nimes đã cho phép cô con gái nhỏ của mình đi theo để viếng thăm các
nữ tu sĩ của bệnh viện. Các nữ tu sĩ cảm thấy quyến luyến với cô gái bé
nhỏ này và đã để cô bé phục vụ vài công việc vặt trong bệnh viện. Trong
lúc đóng vai nữ y tá, Madeleine cảm phục công việc của các thầy thuốc
và quyết định rằng mình sẽ trở thành thầy thuốc như họ. Tuy nhiên định
mệnh của cô dường như được vạch theo một hướng khác. Lúc 15 tuổi, cô được
gã cho Adrien Brès, một tài xế xe khách, với ông cô có được 4 người con.
MỘT KHOA TRUỞNG CÓ TINH THẦN NAM NỮ BÌNH
QUYỀN
Năm 1866, Madeleine Brès, để theo đuổi giấc mơ của mình, đã xin được hội
kiến với khoa trưởng đại học y khoa, Giáo Sư Charles Adolphe. Cô khẩn
cầu ông để xin được phép ghi tên vào đại học y. Giáo sư Wurtz đã tiếp
cô bởi vì ông tin rằng các phụ nữ có chỗ đứng của họ ở đại học. Việc làm
của ông là một ngoại lệ vào một thời kỳ mà khoa học tuồng như biện minh
cho sự đối xử phân biệt đối với phụ nữ.
Charles Darwin há chẳng phải đã đặt phụ nữ ở vị trí trung gian giữa một
bên là thế giới động vật và các dân tộc nguyên thủy và bên kia là con
người hiện đại tây phương? Còn Auguste Comte trong một trong các tác phẩm
của ông, há đã chẳng xác nhận rằng « sự thấp kém hiển nhiên của phụ nữ
» khiến họ không có khả năng thích nghi với cường độ cao của các công
việc bằng trí tuệ». Một thầy thuốc người Anh đã viết trong Lancet thời
đó: «Tôi tin tưởng rằng các phụ nữ, trên bình diện một cơ thể, là không
thích hợp, về giới tính, thể tạng và tâm thần, với công việc nặng nhọc
và liên tục, với trách nhiệm nặng nề của y khoa tổng quát và giải phẫu
».Thế thì làm sao một phụ nữ có thể có cao vọng trở thành thầy thuốc?
Giáo sư Wurtz không thể chấp nhận đơn xin ghi danh của cô Brès. Chỉ những
người đậu tú tài mới được nhận vào Khoa Y. Madeleine chỉ có một trình
độ học vấn sơ cấp và ngay cả mặc dầu cô đã theo học ngành giáo dục đệ
nhị cấp, cô cũng không có thể đáp ứng với yêu cầu này: không có trường
nào nhận luyện thi các cô gái để trở thành các nữ tú tài. Charles Wurtz
bảo Madeleine trở lại tìm gặp ông với cái bằng tú tài trong tay. Ông cam
kết sẽ đệ trình trường hợp của cô với Bộ giáo dục công lập. Và ông giao
phó một viên cố vấn đi Zurich (nơi các phụ nữ được nhận vào khoa y từ
năm 1885) để tìm hiểu các thể thức về việc nhập học này.
SỰ ỦNG HỘ CỦA HOÀNG HẬU ĐỐI VỚI CÔ CON
GÁI CỦA NGƯỜI THỢ ĐÓNG XE
Madeleine không nản lòng. Thế thì cô phải có bằng tú tài phải không? Vâng,
cô sẽ có. Cô theo học luyện thi hệ tự do, với sự giúp đỡ của một giáo
sư ở cạnh nhà và với một cuốn sách giáo khoa học luyện thi tú tài mua
được nơi một người bán sách cũ và với sự cho phép của chồng cô, bởi vì
về phương diện luật pháp, các phụ nữ thời đó được xem như không có trách
nhiệm. Với văn bằng tú tài khoa học và văn chương, sau cùng cô đã có thể
ghi danh vào Khoa Y Đại học Paris năm 1868 sau khi chồng cô đã chính thức
đồng ý trước mặt ông thị trưởng quận V.
Việc ghi danh của cô không những chỉ là một thể thức, nhưng còn có những
yếu tố mới đã làm dễ dàng cho việc ghi danh này.Trước hết một Bà Gael
nào đó đã xuất bản một cuốn sách “ Thầy Thuốc Nữ ” ( Femme médecin ) nhằm
đánh đổ các lý lẽ của những người chống lại việc phụ nữ muốn trở thành
thầy thuốc. Sau đó, trong những năm tháng Madeleine học luyện thi tú tài,
đã có 3 phụ nữ được nhận vào khoa y: cô người Anh Elizabeth , một cô người
Mỹ tên là Mary Putnam và một cô người Nga tên là Melle Gontcharov. Và
sau cùng cô được sự ủng hộ của bộ trưởng giáo dục công cộng Victor Duruy
và ngay cả sự ủng hộ của Hoàng hậu Eugénie, đích thân chủ tọa hội đồng
bộ trưởng: “Tôi hy vọng rằng cô phụ nữ trẻ tuổi này sẽ tìm được những
người theo gót mình bởi vì bây giờ đây con đường vào đại học y đối với
họ đã được mở ra ”, Hoàng hậu tuyên bố sau khi đã giành được sự biểu quyết
thuận lợi. Madeleine bắt đầu học y khoa lúc 26 tuổi khi bà là mẹ của 4
đứa con.
MỘT CHÂN TRONG BỆNH VIỆN NHƯNG KHÔNG PHẢI
LÀ NỘI TRÚ
Con đường vào Khoa Y được mở ra nhưng không phải là con đường vào các
Bệnh Viện.Thật vậy các phụ nữ không được cho phép dự thi tuyển vào nội
trú (internat). Nhưng vào năm 1870, chiến tranh bùng nổ, các sinh viên
nam bỏ học và lên đường ra mặt trận. Các bệnh viện thiếu nội trú. Vào
lúc đó Madeleine Brès sau khi trở thành góa phụ, đã nạp đơn ứng viên xin
làm nội trú lâm thời (interne provisoire) của bệnh viện và được chấp nhận
nhờ sự can thiệp của giáo sư Broca ở Bệnh Viện Hotel de la Pitié, nơi
bà làm việc cho đến hết cuộc chiến vào năm 1871. Giáo sư Broca không hết
lời khen ngợi về khả năng thầy thuốc của bà. Nhưng vào lúc nhập học năm
1871, khi bà xin được dự thi tuyển ngoại trú (externat), viên giám đốc
của cơ quan Assistance Publique đã từ chối...để không phải tạo nên một
tiền lệ về sau này đối với các phụ nữ khác! Phải đợi đến năm 1882 hội
đồng giám thị của Assistance Publique mới cho phép các phụ nữ được dự
thi tuyển ngoại trú (nhưng vẫn có một điều khoản loại các phụ nữ không
được dự thi vào nội trú) và phải đợi đến năm 1885 các phụ nữ mới được
chấp nhận cho nạp đơn dự thi tuyển vào nội trú (internat). Vả lại, những
quyết định này đã kích động những chống đối mạnh mẽ: báo chí nổi giận
và các sinh viên nam xuống đường.
SỰ CÔNG NHẬN
Madeleine đệ trình luận án của mình ngày 3 tháng 6 năm 1875: « Về vú và
sự cho bú », đề tặng Giáo sư Wurtz là người chủ trì hội đồng giám khảo.
Bà trở thành người phụ nữ đầu tiên của Pháp nhận bằng tiến sĩ y khoa.
Bà mở phòng mạch ở Paris và có khách hàng bệnh nhân chủ yếu là phụ nữ
và trẻ em. Thành phố Paris đề nghị bà chức vụ giáo sư khoa nuôi dạy trẻ
(puériculture). Bà sáng lập tờ báo y học định kỳ: “ Vệ sinh phụ nữ và
trẻ em”. Bà thành lập một nhà trẻ trong khu phố Batignolles năm 1880.
Bà được chính phủ gởi đi Thụy Sĩ năm 1891 để nghiên cứu việc vận hành
của các nhà trẻ và được bổ nhiệm làm ủy viên của hội đồng giám thị các
nhà trẻ của thành phố Paris.
Trở nên mù lòa, bà phải ngừng hành nghề. Bà đã làm việc thật nhiều nhưng
không giàu có. Sau đó bà sống nhờ trợ cấp của thành phố và với một tiền
hưu bé nhỏ trong một căn hộ do một vị linh mục nhường lại. Assistance
publique đề nghị nhận bà vào nhà ngủ chung (dortoir commun) của Salpetrière
nhưng Madeleine từ chối.
Người đã mở đường vào y khoa cho các phụ nữ Pháp chết năm 1921 trong cảnh
mù lòa, nghèo nàn và bị quên lãng. Nguồn: (LA SEMAINE
MEDICALE, 22/11/2007)
2/ MỘT VIÊN THUỐC CHỐNG PHẤN HOA (ANTIPOLLEN)
Lần đầu tiên, chứng sổ mũi mùa (rhume des foins) sẽ được điều trị bằng
uống thuốc viên, vào đầu năm 2008. Phép điều trị này dành cho những người
bị chứng viêm mũi hay viêm màng kết mạc (conjonctivite) dị ứng do graminées
(cây họ lúa). Ở Châu Âu, cứ 4 người sẽ có một người mắc phải chứng dị
ứng này. Mãi đến ngày nay, các bệnh nhân bị chứng bệnh dị ứng này được
điều trị hoặc bằng giải cảm ứng (désensibilisation) bằng cách tiêm dưới
da nhắc lại hoặc bằng uống thuốc giọt dưới lưỡi. Một đường dùng thuốc
thứ ba dưới dạng thuốc viên sẽ được đề nghị cho các bệnh nhân này. Với
chất nền là phléole des prés, một graminée có phản ứng chéo mạnh với 9000
loài khác. Thuốc được bán dưới tên Grazax, được đặt dưới lưỡi và tan tức
thời. Dạng thuốc viên có nhiều điều lợi: uống mỗi lần mỗi ngày, không
phải gia tăng dần dần liều lượng, có thể bảo quản ở nhiệt độ môi trường
chứ không cần phải để trong tủ lạnh. Điều này sẽ làm giảm khả năng bệnh
nhân bỏ thuốc và nhất là nguy cơ dùng thuốc quá liều hoặc sai lầm trong
sử dụng.Với hiệu quả tốt hơn.
Tuy nhiên có một điều bó buộc: lần uống thuốc đầu tiên phải được thực
hiện ở phòng mạch để có thể phát hiện những phản ứng phụ có thể xảy ra.
Về điều trị, phải bắt đầu trước khi xuất hiện các phấn hoa và kéo dài
suốt mùa, từ tháng tư đến tháng 7. Phí tổn được đánh giá là 450 Euro mỗi
năm trong 3 năm. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 1/2008)
3/ MỘT VACCIN CHO NHỮNG NGƯỜI CAO HUYẾT
ÁP ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM
Những kết quả sơ khởi đáng phấn khởi đã thu được trong điều trị cao huyết
áp nhờ một vaccin. Đó là một vaccin liên hợp phát xuất từ các phân tử
siêu vi trùng giả (pseudo-particules virales) và chống lại angiotensine
II. Polypeptide này là một trong những tác nhân chủ chốt của hệ thống
kiểm soát rénine-angiotensine.Trong một công trình nghiên cứu được trình
bày tại hội nghị vừa qua của Hiệp hội bệnh học tim Hoa Kỳ (American Heart
Association), 70 người bị cao huyết áp đã được điều trị bằng một mũi tiêm
vaccin hoặc một placebo, với tiêm nhắc lại 1 tháng và 3 tháng sau. Vaccin
làm giảm trị số huyết áp và dường như được dung nạp tốt, với tác dụng
phụ chính là triệu chứng đau đầu sau khi tiêm. Những thử nghiệm khác đang
được tiến hành để xác nhận những dữ kiện giới hạn này mà thời gian lùi
lại để đánh giá chỉ mới 8 tháng. Nguồn: (SCIENCES ET
AVENIR 1/2008)
4/ KHI SỰ MẤT NGỦ LÀM
THỨC TỈNH CÁC MỐI CẢM XÚC
Phải chăng các rối loạn giấc ngủ luôn luôn gây nên tình trạng bất ổn về
xúc cảm (labilité émotionnelle) hay chính sự bất ổn về tâm lý (instabilité
psychologique) là nguyên nhân của các rối loạn này? Vấn đề được đưa ra
trong một công trình nghiên cứu được tiến hành nơi 25 người tình nguyện
lành mạnh từ 18 đến 30 tuổi. Một số người tham gia bị làm mất ngủ trong
35 giờ trong khi những người chứng thì được cho ngủ. Nơi những người mất
ngủ, các nhà nghiên cứu đã chứng nhận bằng RMN (résonance magnétique nucléaire)
một gia tăng 60% hoạt động của não bộ nơi các nhân hạnh nhân vỏ não (noyaux
corticaux amygdaliens), là nơi định vị của các trung tâm cảm xúc của não
bộ. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 1/2008)
5/ HUYẾT ÁP THAY ĐỔI THEO MÙA
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ báo cáo quá trình theo dõi trong
5 năm 443.632 cựu chiến binh, khoảng 66 tuổi, bị cao huyết áp. Các con
số huyết áp của các bệnh nhân đã cao hơn một cách rõ ràng vào mùa đông
so với mùa hè. Những lý do được nêu lên là sự lên cân vào mùa đông, việc
ở trong nhà nhiều hơn, ít nhiệt và ánh sáng hơn vào thời kỳ này trong
năm.Theo kết luận của công trình nghiên cứu, điều trị chống cao huyết
áp vì vậy nên được tăng cường vào mùa đông và giảm nhẹ vào mùa hè. Nguồn:
(PARIS MATCH 13-19/12/2007)
6/ HÁNG RỘNG VÀ NỒNG ĐỘ OESTROGENE CAO SẼ
LÀM DỄ UNG THƯ VÚ
Các nhà nghiên cứu của một công trình nghiên cứu Anh-Hoa Kỳ đã có ý tưởng
đáng làm ngạc nhiên khi quyết định nghiên cứu các kích thước của 6.370
phụ nữ Phần Lan sinh từ năm 1933 và 1944 và đưa vào trong một công trình
theo dõi tiền sinh. Các phụ nữ có khung chậu rộng nhất đã có nguy cơ bị
ung thư vú 3 đến 7 lần cao hơn. Theo các nhà khoa học, điều này xác nhận
giả thuyết cho rằng vòng háng (tour de hanches) phản ảnh một nồng độ hormone
sinh dục cao trước tuổi dậy thì. Thế mà những nồng độ œstrogène cao sẽ
làm vú dễ bị thương tổn bởi ung thư. Nguồn: (PARIS
MATCH 13-19/12/2007)
7/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY: NHIỀU NGUY CƠ BỊ
U NÃO HƠN?
Việc sử dụng điện thoại cầm tay ở Pháp có thể được xem như chỉ bắt đầu
mới đây thôi (1992), thông thường nhất với một thời gian sử dụng dưới
10 năm, vì vậy những hậu quả lâu dài do sự tiếp xúc với các tần số phóng
xạ vẫn không được biết đến. Phần lớn các sóng nhận được được hấp thụ bởi
vùng của tai, da, tuyến mang tai và khoảng 30% của não bộ. Các sóng này
có thể tương tác với các tổ chức mô của cơ thể người. Dưới sự chỉ đạo
của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm ở
châu Âu được tiến hành từ năm 1999 trong 13 nước. Về phía Pháp của công
trình nghiên cứu này, được mệnh danh là Interphone, 490 bệnh nhân tuổi
từ 30 đến 59, mắc phải những loại u não khác nhau trong đó có u màng não
(méningiome) và u thần kinh đệm (gliome), đã được so sánh với 639 người
chứng cùng lứa tuổi. Kết luận: việc sử dụng đều đặn điện thoại cầm tay
dường như không làm gia tăng nguy cơ xuất hiện một u não nhưng việc sử
dụng nhiều làm nhân lên gấp đôi nguy cơ xuất hiện một u thần kinh đệm.
Những người bị đe dọa là những người sử dụng nhiều, trung bình mỗi lần
gọi trên 5 phút, đã dùng điện thoại cầm tay từ hơn 46 tháng và đã có hơn
260 giờ gọi. Có thể rằng các nghiên cứu của các nước Bắc Âu và Vương Quốc
Anh, vốn đã sử dụng điện thoại cầm tay trước người Pháp, sẽ tỏ rõ một
nguy cơ còn cao hơn nữa. Nguồn: (PARIS MATCH 13-19/12/2007)
8/ THIẾU VITAMNE
D NGHIÊM TRỌNG NƠI NHỮNG NẠN NHÂN BỊ GÃY XƯƠNG HÁNG
60% các nạn nhân gãy xương háng bị thiếu vitamine D nghiêm trọng.
Mà đặc biệt là những người ở các nhà dưỡng lão và các nhà điều dưỡng là
bị liên hệ nhất. Đó là những kết luận của một điều tra trên 222 bệnh nhân,
được tiến hành ở Thụy Sĩ, trong Chương trình nghiên cứu quốc gia “Sức
cơ-xương- đau mãn tính”. Thế mà nhiều công trình nghiên cứu khác nhau
đã chứng tỏ rằng sự cho bổ sung vitamine D hàng ngày làm giảm khoảng 25%
nguy cơ bị gãy xương háng.
Trong vòng một năm, một nhóm các nhà nghiên cứu được điều khiển bởi Heike
Bischoff-Ferrari, Andreas Platz và Robert Theiler đã khám 222 bệnh nhân
trên 65 tuổi được nhập viện ở Zurich vì gãy cổ xương đùi và đã đo nồng
độ vitamine D trong máu của họ. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện sự thiếu
vitamine D nghiêm trọng nơi 50% các bệnh nhân còn sống tại nhà riêng trước
khi xảy ra tai nạn. Nơi những người đã sống ở các nhà dưỡng lão hay các
nhà điều dưỡng, tỷ lệ này lại còn lớn hơn và lần lượt lên cao đến 72%
và 76%. Chỉ 4% những người được nhập viện là có nồng độ vitamine D đầy
đủ (75 nmol/L) và dưới 10% đã uống thuốc mà chất nền là vitamine D. Những
kết quả này đã được công bố on-line trên tờ báo Bone ngày 28 tháng 11
năm 2007.
SỰ THIẾU HỤT RÕ RÀNG
“Công cuộc điều tra của chúng tôi đã tỏ rõ rằng nồng độ vitamine D trong
máu của các bệnh nhân nói chung là 50% ở dưới cái mức đáng lý ra phải
đạt được nếu những người này được cho vitamine D với liều lượng được khuyên
sử dụng. Công trình nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng những
người già, có nguy cơ gia tăng gãy xương háng, chắc là đã không nhận những
bổ sung vitamine D được yêu cầu. Vậy tốt hơn hết là phải đả thông và áp
dụng những chỉ thị hiện có », Heine Bischoff-Ferrari đã tóm tắt ý kiến
như vậy, đồng thời ông nêu nhận xét rằng đối với những người già, việc
cho bổ sung vitamine D cũng hữu ích vào mùa hè. Theo một vài chuyên gia,
việc cho bổ sung đều đặn vitamine D có thể góp phần làm giảm tỷ lệ tử
vong toàn bộ.
Cần ghi chú rằng nước Pháp cũng quan tâm vấn đề này vì tháng 10 vừa qua,
nước này đã khởi động một công cuộc điều tra, Evidance, nhằm đánh giá,
qua trung gian cua các thầy thuốc thực hành, những yếu tố nguy cơ thiếu
hụt vitamine D nơi những phụ nữ bị chứng loãng xương (ostéoporose). Công
trình nghiên cứu TNS-Healthcare, được tiến hành vào tháng 6 vừa qua ở
Canada ( Pháp, Đức,Ý, Tây Ban Nha), cho thấy rằng 2/3 các thầy thuốc khuyên
các phụ nữ bị chứng loãng xương duy trì một hoạt động vật lý và đã lưu
ý họ về sự cần thiết phải nhận đầy đủ lượng calcium trong thức ăn. 90%
các thầy thuốc được hỏi đều có nói về calcium nhưng chỉ ½ là có nhắc đến
vitamine D. Sau hết, chỉ 5% các phụ nữ là được các thầy thuốc yêu cầu
phơi nắng một cách có mức độ. Nguồn: (LE JOURNAL DU
MEDECIN 21/12/2007)
9/ STRESS CŨNG HỮU TÍNH
Đàn ông và phụ nữ không bình đẳng nhau trước bệnh tật. Các ông thường
là nạn nhân của các bệnh nhiễm trùng, bệnh tim mạch và nghiện ma túy hoặc
rượu hơn. Còn các bà thì bị nhiều hơn các bệnh mãn tính, chứng trầm cảm
và lo âu. Các hormone, các gène và môi trường đóng một vài trò trong việc
phát sinh các bệnh này. Jiongjiong Wang và các đồng nghiệp thuộc Đaị Học
Pennsylvania, Philadelphia, và thuộc Đaị Học Rockefeller, Nữu Ước, đã
chứng tỏ rằng stress cũng có dự phần trong vấn đề này, bởi vì stress nơi
đàn ông không giống với đàn bà.
Các nhà sinh học này đã quan sát bằng résonance magnétique fonctionnelle
để xem não bộ của 16 phụ nữ và của 16 người đàn ông hoạt động như thế
nào lúc phản ứng với một stress tâm lý (những người tham gia phải thực
hiện một công tác tính toán trong những điều kiện stress). Nơi các ông,
vỏ não trước trán ( cortex préfrontal ) phải (điều hòa những cảm xúc âm
tính) hoạt động nhiều hơn, trong khi đó vỏ não hốc mắt-trán ( orbitofrontal
) trái ( có vai trò cản ) ít bị kích thích hơn ; những phản ứng này là
do sự phóng thích cortisol, một hormone de stress. Ngược lại, ở các bà,
chính hệ limbique của não bộ (não bộ cảm xúc) hoạt động và điều này độc
lập đối với nồng độ của cortisol. Ngoài ra, phản ứng của não bộ kéo dài
lâu hơn đối với các phụ nữ sau thí nghiệm.
Như vậy, các phản ứng của não bộ đối với stress của các phụ nữ và các
người đàn ông khác nhau, nhưng bởi lý do gì ? Suốt trong quá trình tiến
hóa, đàn ông phản ứng trước những tình huống stress về tâm lý bằng cách
hoặc đương đầu hoặc chạy trốn, do đó những biến đổi của hoạt động của
não độ được ghi nhận.Trái lại, các phụ nữ kiểm soát tình trạng stress
một cách cảm xúc khi chăm lo con cái họ trong các nhóm xã hội. Dầu thế
nào đi nữa, stress xúc cảm của các phụ nữ giải thích tại sao họ thường
bị trầm cảm và lo âu hơn đàn ông. Nguồn: (POUR LA SCIENCE
1/2008)
10/ CÁC HORMONE TRONG TỬ CUNG LÀ NGUYÊN
NHÂN CỦA CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN
Việc tiếp xúc trong tử cung các hormone sinh dục có thể làm rối loạn sự
phát triển thần kinh và do đó gia tăng nguy cơ mắc phải chứng chán ăn
tâm thần (anorexie mentale).
Chứng chán ăn tâm thần thường liên kết với giới tính nữ, và không phải
là không có lý do: bệnh xảy ra nơi các bà 10 lần thường hơn nơi các ông.
Mặc dầu các nguyên nhân của sự chênh lệch về tỷ lệ này không được rõ ràng,
nhưng không thiếu gì các giả thuyết để giải thích: áp lực xã hội tác động
lên các thiếu nữ, ảnh hưởng tai hại của sắc đẹp lý tưởng được thể hiện
bởi sự mảnh khảnh cực kỳ, được khuyến khích bởi các top-modèle, sự rối
loạn hình ảnh của cơ thể... Một lối giải thích khả dĩ khác từ một công
trình nghiên cứu mới đây cho rằng môi trường hormone trong tử cung đóng
một vai trò không phải là nhỏ.
Marco Procopio và các cộng sự viên ( Brighton, Anh) đã đi đến kết luận
này bằng một công trình nghiên cứu trên các trẻ sinh đôi Thụy Điển. Phân
tích của họ trước hết chứng tỏ rằng nguy cơ mắc phải chứng chán ăn tâm
thần rõ ràng là cao hơn nơi các trẻ sinh đôi nữ (jumeaux féminins) so
với các trẻ sinh đôi nam. Đến đây thì chẳng có gì là mới, nhưng điều đáng
chú ý là, các bé trai của các cặp sinh đôi khác giống nhau (jumeaux de
sexes différents) có nguy cơ bị chứng chán ăn tâm thần về sau này cao
hơn so với các bé trai khác. Nguy cơ của chúng cũng cao bằng với nguy
cơ của các bé gái sinh đôi (filles jumelles).
Vậy ảnh hưởng của những yếu tố trong tử cung dường như rõ ràng. Ở đây
có lẽ là một hormone được tiết ra trong những thái ghen bao gồm ít nhất
một thai nhi nữ (un foetus féminin), với ảnh hưởng lên sự phát triển thần
kinh và trên nguy cơ xuất hiện chứng chán ăn tâm thần trong tương lai.
Bé trai của một cặp sinh đôi khác giống nhau cũng chịu tác dụng của chất
tiết này, điều này có thể giải thích sự tăng cao nguy cơ của nó. Chất
chịu trách nhiệm về mối nguy cơ này đến nay vẫn không được biết đến, nhưng
có lẽ chất này thuộc trong nhóm các hormone stéroide sinh dục. Nguồn:
(LE GENERALISTE 20/12/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/12/2007)
>>>back>>>
|
 |