 |
Thời
Sự Y Học Số 56
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ THOMAS HODGKIN
Lịch sử của bệnh Hodgkin bắt đầu vào năm 1666. Đó không
phải là dạng ung thư đầu tiên được khám phá, mà là dạng ung thư đầu tiên
được tìm cách chống lại bằng điều trị.Và đã thành công.
Năm 1666, thầy thuốc và nhà giải phẫu (anatomiste) người
Ý Marcelleo Malpighi (1628- 1694) xuất bản De viscerum structuru exercitatio
anatomica. Trong công trình nghiên cứu giải phẫu học về cấu trúc của các
nội tạng này, người mà chúng ta xem là nhà phát minh ra môn giải phẫu
học vi thể (anatomie microscopique) là người đầu tiên đã mô tả bệnh Hodgkin.
Vào thời đó ông chủ yếu chuyên tâm vào nghiên cứu các cấu trúc không thể
nhìn thấy được của cơ thể, nhờ một dụng cụ mới nguyên gốc từ Hoà Lan:
kính hiển vi. Chính nhờ vậy mà ông đã khám phá các nhú vị giác (papilles
gustatives) của lưỡi, các tế bào hắc tố (mélanocytes) của biểu bì và các
đường nối thần kinh giữa tủy sống và các dây thần kinh.
ĐỨA CON CỦA CÁC TÍN ĐỒ GIÁO PHÁI
QUAKER
100 năm sau đó, chúng ta chứng kiến sự sinh ra đời, ở Pentoville,
Middlesex, Thomas, đứa con thứ ba của John Hodgkin và Elizabeth Rickman,
hai tín đồ Thanh giáo của giáo phái Quaker, sống trong sự tuân thủ nghiêm
ngặt những giới luật của tôn giáo này. Những người theo giáo phái Quaker,
theo định nghĩa, dành rất it thời gian cho những việc phù phiếm, vì vậy
trong suốt thời niên thiếu của mình, chàng trai Hodgkin, ngoài những học
hỏi khác ra, say mê học các tiếng nói khác. Mặc dầu còn rất trẻ, Hodgkin
đã thông thạo ít nhất là 5 thứ tiếng: tiếng Latin, tiếng Pháp, tiếng Ý,
tiếng Đức và tiếng Tây ban nha. Vào tháng 9 năm 1819, lúc 21 tuổi ( khá
chậm vào thời đó), ông bắt đầu học Y Khoa ở Hospices réunis de St Thomas
et St Guy. Sau khi học ở đại học Edimbourg, Hodgkin bắt đầu đi vòng quanh
châu Âu. Chúng ta đang ở năm 1821. Ở Paris, ông đã làm quen với René Laennec,
và đã đem về Anh cái ống nghe mà Laenec vừa mới phát minh. Bài nói chuyện
về dụng cụ mới này được Hodgkin trình bày ở Londres nhưng chỉ mang lại
sự hoài nghi. Tuy vậy, chẳng bao lâu sau đó chiếc ống nghe đã được công
nhận trong giới y khoa, kể cả ở Anh.
TỪ BỆNH XÁ ĐẾN NHÀ BẢO TÀNG
Sau khi tốt nghiệp y khoa, Hodgkin trở nên hội viên của
Royal College of Physicians de Londres và được London Dispensary tuyển
mộ làm thầy thuốc thực hành. Các bệnh xá (dispensaire) thời đó gần như
tương ứng với các phòng cấp cứu ngày nay. Các bệnh nhân, nghèo khó nhiều
hơn là giàu sang, khi bị những vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ, đến bệnh
xá để xin được cứu chữa. Các thầy thuốc làm việc ở các bệnh xá này chỉ
lảnh một tiền lương tượng trưng. Sau thời gian phục vụ được hơn hai năm,
Hodgkin giã từ bệnh xá. Ông trách bệnh xá chỉ tuyển dụng các thầy thuốc
chỉ sẵn lòng làm việc vì miếng ăn, hơn là những người có thể đảm bảo một
y khoa có chất lượng. Sau đó ông được giao phó chức vụ người trợ tá (curateur)
của musée de pathologie của trường y của bệnh viện St Guy. Chính ở đây
ông bắt đầu sự nghiệp nhà giải phẫu bệnh học (anatomo-pathologiste), một
hoạt động mà ông sẽ luôn luôn mải mê hết sức nhiệt tình. Chỉ mới đảm nhận
chức vụ được vài năm thế mà ông đã công bố một danh mục thống kê và mô
tả 1.677 chế phẩm của musée. Qua đó, ông cũng chứng tỏ các hậu quả của
vài căn bệnh lên những cơ quan. Thế là từ nay, danh tiếng nhà giải phẫu
bệnh học của ông đã được xác lập.
TRỞ THÀNH BẤT TỬ NHỜ MỘT CĂN BỆNH.
Năm 1832, Hodgkin công bố trong tạp chí của Hiệp Hội Nội
và Ngoại khoa của Luân Đôn, một bài báo về các bệnh bạch huyết (maladies
lymphatiques), On some morbid appearances of the absorbent glands and
spleens. Trong đó ông mô tả căn bệnh mà chẳng bao lâu sau đó sẽ mang tên
ông. Điều này là nhờ Samuel Wilks, một thầy thuốc người Anh khác công
bố năm 1885 một tác phẩm quan trọng về căn bệnh này và ông ta đã dùng
tên của Hodgkin để chỉ căn bệnh đó. Sau khi được thăng chức ở bệnh viện
St Guy, Hodgkin cuối cùng rời bệnh viện này để chuyên tâm vào y khoa xã
hội (médecine sociale) và hết lòng vì sự nghiệp phục vụ sức khỏe cho những
người nghèo và những người không được ai đếm xỉa đến. Ông rất quan tâm
đến những người amérindiens và dân Mỹ gốc châu Phi của Hoa Kỳ. Ông thành
lập British and Foreign Aborigines Protection Society, một cơ quan sau
đó sẽ trở thành Société Britanique et étrangère anti-esclavagiste. Nguồn:
(SEMPER 12/2007)
2/ HEN PHẾ QUẢN VÀ BỆNH BÉO
PHÌ
Sự thặng dư thể trọng (excès pondéral) làm gia tăng nguy
cơ nhập viện vì cơn hen phế quản nặng. Phải chăng chứng béo phì (obésité)
làm trầm trọng bệnh hen phế quản , hay đó chỉ là một sự gia tăng các triệu
chứng mà thôi? Các tác giả đã thu thập các dữ kiện của 426 bệnh nhân đến
phòng cấp cứu vì các cơn hen phế quản nặng. Những người bị thặng dư thể
trọng hoặc béo phì có một tỷ lệ nhập viện quan trọng hơn và lưu lại ở
phòng cấp cứu lâu hơn. 14% các bệnh nhân bị thặng dư thể trọng đã được
nhập viện so với 7% trong nhóm người có trọng lượng bình thường. Các tác
giả gợi ý rằng các bệnh nhân hen phế quân bị thặng dư thể trọng thường
có một dạng hen phế quản nặng hơn những người có trọng lượng bình thường.
Nhưng cũng có thể rằng những người hen phế quản bị thặng dư thể trọng
cảm thấy một cách mạnh mẽ hơn các triệu chứng liên quan với khó thở. Dầu
thế nào đi nữa, các triệu chứng khó thở có khuynh hướng kéo dài nơi những
người béo phì, điều này giải thích nguy cơ nhập viện gia tăng. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 14/12/2007)
3/ TÌNH TRẠNG TANG CHẾ LÀM
GIA TĂNG TỶ LỆ TỬ VONG
Việc mất một người thân trong gia đình làm gia tăng tỷ
lệ mắc phải những vấn đề về sức khoẻ cũng như tỷ lệ tử vong, chủ yếu trong
những tuần lễ đầu tiên hay những tháng đầu tiên sau cái chết của người
thân thương này. Đó là điều mà M.Stroebe và các cộng sự viên (Utrecht)
xác nhận sau khi đã thực hiện một duyệt xét các văn liệu để biết ảnh hưởng
của tình trạng tang chế (deuil) sau khi mất một người thân lên sức khỏe
vật lý và tinh thần của người chịu tang. Tình trạng tang chế không thể
được xem như là một căn bệnh, và hầu hết những người chịu tang đều có
khả năng đương đầu với vấn đề này mà không cần phải nhờ đến một sự giúp
đỡ tâm lý có tính chất nghề nghiệp.Tuy nhiên, sự buồn rầu do việc mất
một người thân kèm theo một nguy cơ gia tăng tỷ lệ tử vong vì nhiều lý
do, trong đó có tự tử. Nguy cơ quan trọng nhất xảy ra trong thời kỳ tiếp
theo ngay sau ngay cái chết của thân. Nguy cơ nơi những người đàn ông
mất vợ quan trọng hơn nguy cơ nơi các bà mất chồng, và nguy cơ nơi người
da trắng quan trọng hơn nguy cơ nơi người da đen. Theo các tác giả, tình
trạng tang chế chịu trách nhiệm về một sự gia tăng các triệu chứng vật
lý cũng như tâm thần. Những người bị mất một người thân thương thường
cần đến trợ giúp về y tế hơn. Các tác giả gợi ý tăng cường việc nghiên
cứu về các hậu quả của tang chế sau khi mất một người thân không phải
là vợ hoặc chồng (con, cha mẹ). Nguồn: (LE JOURNAL
DU MEDECIN 14/12/2007)
4/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG
HÔ HẤP LÀM TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ TAI BIẾN MẠCH MÁU
NÃO
Có một liên kết chặt giữa một nhiễm trùng đường hô hấp
mới xảy ra và sự xuất hiện một sự cố tim mạch quan trọng (nhồi máu cơ
tim xảy ra lần đầu hay tai biến mạch máu não).
Những nhiễm trùng đường hô hấp có thể được liên kết với
một gia tăng nguy cơ mắc phải các tai biến tim mạch, nhồi máu cơ tim và
tai biến mạch máu não (vả lại các biến cố tim mạch này thường xảy ra vào
mùa đông hơn).Thật vậy người ta biết rằng có một tỷ lệ tử vong vượt mức
do bệnh động mạch vành và tai biến mạch máu não trong những tháng mùa
đông.
Các nhà nghiên cứu của London School of Hygiene and Tropical
Medicine ở Vương Quốc Anh, Tim Clayton và Tom Meade đã thực hiện một công
trình nghiên cứu lâm sàng để mô tả mối liên hệ này. Công trình nghiên
cứu đã được công bố on-line hôm 6/12 vừa qua trên site của European Heart
Journal. Các nhà nghiên cứu căn cứ trên một cơ sở các dữ kiện y khoa tổng
quát, IMS Disease nalyzer Mediplus Database, chứa khoảng 2 triệu bệnh
nhân được đăng ký và khoảng 500 thầy thuốc đa khoa, để nhận diện tất cả
các trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra lần đầu và tai biến mạch máu não,
và những trường hợp chứng. Họ cũng nêu lên những trường hợp thăm khám
do bệnh nhiễm trùng đường hô hấp xảy ra trong năm trước đó.
Tính tổng cộng, có 11.155 trường hợp nhồi máu cơ tim và
9.208 tai biến mạch máu não đã được xác nhận. Người ta đã ghi nhận 326
trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp xảy ra trong tháng trước khi bị nhồi
máu cơ tim và 260 trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp xảy ra trong tháng
trước khi bị tai biến mạch máu não.
Các tác giả người Anh đã phát hiện một sự gia tăng gấp
đôi nguy cơ của hai loại biến cố tim mạch này trong tuần lễ sau khi bị
một nhiễm trùng đường hô hấp.Tuy nhiên mối liên hệ này suy sút đối với
thời gian. Sau một tháng, nguy cơ chỉ còn gia tăng một ít mà thôi. Mối
quan hệ này không phụ thuộc vào tuổi tác hay giống tính. Cũng có vài chứng
cớ về mối liên hệ giữa một nhiễm trùng đường tiểu và nhồi máu cơ tim hoặc
tai biến mạch máu não xảy ra sau đó.
Đối với các tác giả, những dữ kiện này thêm vào tập các
bằng cớ liên kết những nhiễm trùng đường hô hấp với nguy cơ bị các sự
cố tim mạch về sau này.
«Do đó việc làm giảm bớt số nhiễm trùng đường hô hấp, không
những bằng chủng ngừa mà cả bằng điều trị hay phòng ngừa chúng có thể
là thật sự có lợi. Tuy nhiên nguy cơ tuyệt đối xảy ra một biến cố tim
mạch như thế nơi một người bị nhiễm trùng đường hô hấp vẫn còn thấp »,
các tác giả xác nhận như vậy. Nguồn: (LE JOURNAL DU
MEDECIN 18/12/2007)
5/ NHIỄM ĐỘC THUỐC LÁ VÀ
BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
Những người hút thuốc lá có nguy cơ rõ rệt hơn phát triển
một bệnh đái đường loai 2, một phân tích méta nhiều công trình nghiên
cứu được công bố trên tờ JAMA gợi ý như thế.
Carole Willi và các cộng sự viên (Thụy Sĩ và Canada) đã
chọn lọc 25 công trình nghiên cứu quy tụ 1,2 triệu người tham dự. Các
tác giả đã có thể nhận diện trong số những người này 55.844 trường hợp
đái đường suốt trong một thời gian theo dõi từ 5 đến 30 năm.
Bệnh đái đường thường xảy ra nơi những người hút thuốc
lá hơn là những người không hút thuốc. Chính người nghiện thuốc lá nặng
(> 20 điếu mỗi ngày) là bị nguy cơ phát triển bệnh đái đường cao nhất.
Nguy cơ nơi những người nghiện thuốc lá nhẹ hơn là 29%. Sự liên kết kém
hơn nơi những người trước đây đã từng hút thuốc (nguy cơ gia tăng là 23%).
Các tác giả mong có những nghiên cứu bổ sung để làm sáng tỏ các cơ chế
chi phối mối liên hệ này.
Trong bài xã luận của cùng tờ tạp chí, Eric Ding nêu lên
quy mô phát triển của bệnh đái đường : theo ông , cứ 3 người Mỹ sinh năm
2000 thì sẽ có một người sẽ phát triển vào một ngày nào đó một bệnh đái
đường. Trên quy mô thế giới, mức độ lưu hành của bệnh được đánh giá là
150.000 triệu người, một con số sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 18/12/2007)
6/ CHOLESTEROL
TĂNG CAO VÀ CHẾT VÌ BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ
Tăng cholestérol-huyết được liên kết với tử vong vì bệnh
tim do thiếu máu cục bộ (maladie ischémique du cœur), ở người già cũng
như ở những người thuộc lứa tuổi trung bình, và điều này độc lập với huyết
áp. Đó là kết luận của một phân tích méta trên 61 công trình nghiên cứu
với tổng cộng 55.000 trường hợp tử vong do bệnh huyết quản (34.000 vì
bệnh tim do thiếu máu cục bộ, 12.000 do tai biến mạch máu não và 10.000
do những nguyên nhân khác), chủ yếu ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Các tác giả đã đi đến kết luận là cholestérol toàn thể
được liên kết một cách dương tính với tử vong vì bệnh tim do thiếu máu
cục bộ, ở đàn ông và phụ nữ, ở lứa tuổi trung bình hoặc cao, dầu huyết
áp là bao nhiêu. Tỷ số cholestérol toàn thể/HDL dường như là chỉ dấu tiên
đoán quan trọng nhất của tử vong vì bệnh tim do thiếu máu cục bộ. Việc
không có mối liên hệ độc lập giữa cholestérol và tử vong do tai biến mạch
máu não, nhất là ở lứa tuổi cao hay ở một mức huyết áp cao, nên là đối
tượng của những nghiên cứu sâu rộng hơn, các tác giả đã đánh giá như vậy.
Dầu thế nào đi nữa, các công trình nghiên cứu gợi ý rằng các statines
không những chỉ làm giảm số các biến cố động mạch vành mà còn làm giảm
cả số tai biến mạch máu não nơi các bệnh nhân thuộc mọi lứa tuổi có những
trị số huyết áp khác nhau. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN
14/12/2009)
7/ U TUYẾN
ĐẠI TRỰC TRÀNG, TRÁI CÂY VÀ RAU
Trong chương trình nghiên cứu điều tra phát hiện ung thư
PLCO (tuyến tiền liệt, phổi, đại-trực tràng và buồng trứng), A.Millen
và các công sự viên (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa việc tiêu
thụ trái cây và rau và nguy cơ mắc phải u tuyến đại-trực tràng (adénomes
colorectaux).Trong thử nghiệm này, được tiến hành từ năm 1993 đến 2001,
trong một nhóm đàn ông và phụ nữ tuổi từ 55 đến 74, các nhà nghiên cứu
đã so sánh 3.057 trường hợp trong đó họ tìm thấy ít nhất một u tuyến (adénome)
trong đại tràng, với 29.413 người chứng. Nhờ một bảng câu hỏi, họ đã định
lượng được mức độ tiêu thụ trái cây và rau trong 12 tháng trước khi thử
nghiệm.
Các kết quả cho thấy rằng nguy cơ mắc phải u tuyến ở phần
xa của đại tràng thấp hơn nhiều trong số những người ăn nhiều trái cây
và rau nhất (khoảng 5,7 suất mỗi ngày). Tác dụng bảo vệ của trái cây và
rau chỉ được quan sát đối với các u tuyến đại tràng (adénomes coliques)
mà không đối với u tuyến trực tràng (adénomes rectaux). Lượng rau được
tiêu thụ không được liên kết một cách đáng kể với việc giảm nguy cơ bị
u tuyến. Các nhà nghiên cứu cũng nhận xét rằng các chế độ ăn giàu trái
cây, rau có màu vàng đậm hay xanh sẫm, hành và tỏi được liên kết với một
sự giảm ở mức độ vừa phải nguy cơ bị ung thư đại-trực tràng. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 18/12/2007)
8/ VIỆC GHÉP NHỮNG TẾ BÀO GỐC ĐÚNG LÀ ĐÃ
SỬA CHỮA TRÁI TIM BỊ THƯƠNG TỔN
Được ghép vào trong tim, phải chăng các tế bào gốc phát
xuất từ tủy xương sẽ được biến hóa thành các tế bào cơ tim? Từ giữa năm
1990, nhiều chục bệnh nhân trên thế giới đã thấy tình trạng sức khỏe của
mình được cải thiện nhờ các công cuộc ghép tiền phong này… mà cơ chế vận
hành đã không được làm sáng tỏ. Nhưng các công trình của Piero Anversa
của Viện bệnh học tim phân tử ở Louisville (Hoa Kỳ) đã chứng minh rằng
các tế bào gốc được ghép đúng là đã sửa chữa thành của những trái tim
bị thương tổn (ví dụ bởi các nhồi máu cơ tim lập đi lập lại). Cùng với
nhóm nghiên cứu, thầy thuốc khoa tim đã theo dõi hàng giờ số phận của
các tế bào được ghép trong một trái tim chuột bị thương tổn. Bằng cách
sử dụng các chỉ dấu tế bào (một loại « thẻ căn cước » phân tử), ông đã
có thể thấy được sự biến đổi này xảy ra một cách hiện thực. Các tế bào
được ghép đã bắt đầu đánh mất các đặc điểm của tế bào gốc của chúng trong
vòng 24-36 giờ sau phẫu thuật. Sau 36 giờ, các vùng rộng lớn của tim đã
được sửa chữa nhờ sự xuất hiện cac tế bào cơ mới! Nguồn: (SCIENCE
ET VIE 12/2007)
9/ VIỆC CHA MẸ QUÁ CHĂM CHÚT
CON CÁI LÀ YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA CHỨNG CHÁN ĂN?
Các cô gái, thường là đối tượng bị phê bình bởi các thành
viên trong gia đình về thể trọng và hình dáng bên ngoài, sẽ có nhiều nguy
cơ hơn phát triển các rối loạn về ăn uống. Chứng chán ăn (anorexie) chủ
yếu là do cha mẹ quá chăm chút, chứng ăn vô độ (boulimie) là do sự đòi
hỏi cao của cha mẹ. Đó là những phát biểu của Tracey Wade (Flinders University,
Adelaide, Australia) và nhóm nghiên cứu trong International Journal of
Eating Disorders.
Các nhà nghiên cứu Úc Đại Lợi đã nghiên cứu ảnh hưởng của
thái độ của cha mẹ lên sự phát triển các rối loạn về ăn uống xảy ra nơi
các con của họ. Để thực hiện điều đó, họ đã tập hợp các dữ kiện của 622
trẻ sinh đôi thật sự và đã xác nhận rằng những lời phê phán của gia đình
về hình dáng và cách ăn uống của các con gái của họ đã làm gia tăng nguy
cơ phát triển chứng chán ăn (anorexie) và chứng ăn vô độ (boulimie). Các
thiếu nữ mắc phải chứng ăn vô độ thường nói rằng cha mẹ của các cô đã
có những yêu cầu cao đối với các cô. Thái độ này của cha mẹ cũng thường
được nhận thấy nơi các thanh niên thiếu nữ bị chứng trầm cảm.Trái lại,
trong công trình nghiên cứu này, những người bị chứng chán ăn (anorexiques)
thường có cha mẹ quá chăm chút (surprotecteur) và kiểm soát quá đáng lên
con gái mình so với các cô gái cùng lứa tuổi nhưng không bị rối loạn về
ăn uống. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 7/12/2007)
10/ GÀ MÁI CỤC TÁC HAY VỊT ĐỰC CẠC CẠC?
Ai nói nhiều nhất? Các ông hay các bà? Các thăm dò thường
gợi ý rằng chính các bà là có năng khiếu nhất trong nghệ thuật nói xàm.
Thế mà một công trình nghiên cứu khoa học lại đi đến kết luận ngược lại.
Campbell Leaper và Melanie Ayres của Đại Học California
đã tiến hành một công trình nghiên cứu thích đáng bằng một phân tích méta
về các khác nhau về giống có thể được phát hiện trong thói quen nói chuyện.
Công trình nghiên cứu này được công bố trong Personality and Social Psychology
Review số tháng 11.
Mọi người đều rất ngạc nhiên vì kết quả cho thấy các ông
dường như ham nói nhiều hơn các bà, mặc dầu sự khác nhau này tuy thấp
nhưng lại có ý nghĩa về mặt thống kê. Không phải lúc nào và bất cứ ở đâu
các ông cũng thao thao bất tuyệt bởi vì về mặt đó các bà sẽ biện bạch
giỏi hơn trước mặt các con hay đồng nghiệp của mình. Nhưng lúc phải đàm
thoại với một người thứ ba hoặc lúc phải mặt đối mặt với các bà vợ của
mình, các ông sẽ trở thành sư phụ về ăn nói.
Các tác giả cũng chú ý đến loại và nội dung của cuộc nói
chuyện. Các ông thường có khuynh hướng muốn thuyết phục người đối thoại
của mình trong khi các bà lại có khuynh hướng chia sẻ các quan điểm với
người đối thoại hơn.
Theo Leaper và Ayres, công trình nghiên cứu này đập vỡ
sự ngự trị của khuôn mẫu sáo mòn và giản đơn về những dị biệt về giống
trong việc sử dụng ngôn từ.
“Cảm tưởng cho rằng não bộ của các bà được tạo ra để thống
trị các ông về mặt ngôn từ là hoàn toàn bông lông. Một cảm tưởng như thế
là không hợp với sự khác nhau (mặc dầu ít) mà chúng tôi đã quan sát được
giữa đàn ông và phụ nữ và không đúng với sự kiện rằng chính bối cảnh của
cuộc chuyện trò là chủ yếu trong việc quyết định ai sẽ là kẻ độc quyền
của lời nói ”, các nhà nghiên cứu đã bình luận như vậy.
Do đó hai tác giả của công trình nghiên cứu đã gán những
khác nhau về giống được quan sát lúc sử dụng lời nói là do các yếu tố
xã hội hơn là sinh học. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN
4/12/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/12/2007)
>>>back>>>
|
 |